1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nhân một trường hợp bệnh bạch cầu tế bào tóc tại Bệnh viện Thống Nhất

7 145 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 339,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bệnh bạch cầu tế bào tóc là bệnh ung thư máu rất hiếm gặp của tế bào lympho B mạn tính, bệnh được mô tả đầu tiên bởi Bouroncle và đồng nghiệp năm 1958. Bệnh thường khởi đầu âm ỉ, tiến triển chậm, đặc trưng bởi lách to, giảm các tế bào máu như hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu. Bệnh được gọi là bệnh bạch cầu tế bào tóc là vì các tế bào bạch cầu đơn nhân có nhiều tế bào chất dạng tóc (lông) xung quanh khi xem dưới kính hiển vi.

Trang 1

NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP BỆNH BẠCH CẦU TẾ BÀO TÓC

TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT

Nguyễn Đức Trường*, Ngô Thiện Cường*

TÓM TẮT

Bệnh bạch cầu tế bào tóc là bệnh ung thư máu rất hiếm gặp của tế bào lympho B mạn tính, bệnh được mô tả đầu tiên bởi Bouroncle và đồng nghiệp năm 1958 Mặc dù nguyên nhân vẫn chưa được xác định rõ, các tính năng hình thái và biểu hiện lâm sàng đã được xác định rõ hơn 40 năm qua Bệnh thường khởi đầu âm ỉ, tiến triển chậm, đặc trưng bởi lách to, giảm các tế bào máu như hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu Bệnh được gọi là bệnh bạch cầu tế bào tóc là vì các tế bào bạch cầu đơn nhân có nhiều tế bào chất dạng tóc (lông) xung quanh khi xem dưới kính hiển vi Chẩn đoán thường khó khăn và dễ bị bỏ xót, ngược lại nó lại là một bệnh lý được điều trị có đáp ứng điều trị tốt nhất, chẩn đoán xác định nhờ vào sinh thiết tủy xương để phát hiện các tế bào tóc

Từ khóa: Bệnh bạch cầu tế bào tóc, HCL

ABSTRACT

HAIRY CELL LEUKEMIA: A CASE REPORTED IN THONG NHAT HOSPITAL

Nguyen Duc Truong, Ngo Thien Cuong

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 19 - No 5 - 2015: 404 - 410

Hairy cell leukemia is a very rare blood cancer of B lymphocytes encounter chronic disease first described by Bouroncle and colleagues in 1958 Although the cause has not yet been defined, features morphological and clinical manifestations have been defined more than 40 years The disease usually start smoldering, slowly progressive, characterized by splenomegaly, decreased blood cells like red blood cells, white blood cells and platelets The disease is called leukemia hair cells because the cells monocytes many forms cytoplasmic hair (fur) around when viewed under a microscope Diagnosis is often difficult and vulnerable to omission, whereas it is a condition that is treated with the best response to treatment, the diagnosis is confirmed by bone marrow biopsy in order to detect the hairy cells

Keywords: Hairy Cell Leukemia, HCL

MỞ ĐẦU

Bệnh bạch cầu tế bào tóc (HCL: Hairy Cell

Leukemia) là một bệnh ung thư bất thường của

máu Có tỷ lệ mắc bệnh khoảng 0,3/100.000

người và chiếm tỷ lệ khoảng 2% trong tổng số

bệnh lý bệnh bạch cầu ác tính Độ tuổi trung

bình trung bình thường gặp nằm trong khoảng

50 đến 55 tuổi, khoảng tuổi rất rộng, tuy nhiên

trẻ em không ghi nhận Bệnh thường gặp ở nam

giới nhiều gấp 4 lần so với nữ giới Tại Mỹ có

khoảng 600 trường hợp mắc mới được phát hiện

mỗi năm, tỷ lệ này là tương tự với Vương quốc

Anh và hiếm gặp ở Nhật Bản cũng như các nước Châu Á khác(1)

Trong các bệnh lý bệnh bạch cầu nói chung thì bệnh lý bệnh bạch cầu tế bào tóc là một trong

số bệnh lý dễ bị chẩn đoán bỏ xót nhất ngược lại

nó lại là một bệnh lý được điều trị có đáp ứng điều trị tốt nhất, chính vì vậy việc phát hiện và chẩn đoán xác định sớm rất quan trọng(3) Tại Việt Nam, chưa có nghiên cứu nào cũng như một thống kê nào về bệnh lý bệnh bạch cầu tế bào tóc được ghi nhận Do đó, chúng tôi tiến hành báo cáo “Nhân một trường hợp bệnh bạch cầu tế bào tóc tại Bệnh viện Thống Nhất” đã

* Khoa Ung Bướu, Bệnh viện Thống Nhất, TP Hồ Chí Minh

Trang 2

được chẩn đoán và điều trị kết quả tốt nhằm chia

sẻ cùng quý đồng nghiệp một số thông tin về

đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và chẩn đoán ở

bệnh nhân bệnh bạch cầu tế bào tóc cũng như

hiệu quả điều trị và quá trình theo dõi diễn tiến

của bệnh mà chúng tôi đã và đang có được ở

trường hợp báo cáo này

BỆNH ÁN LÂM SÀNG

Bệnh nhân nam, N.T.C, 45 tuổi Nghề

nghiệp: Bác sĩ Địa chỉ: Tân Bình, TP Hồ Chí

Minh Vào viện: 06/05/2009 Lý do vào viện: Phát

hiện số lượng tiểu cầu máu ngoại vi giảm thấp

dưới mức bình thường trong đợt khám sức khỏe

định kỳ hàng năm của cơ quan

Bệnh sử

Bệnh khởi phát cách nhập viện khoảng 2

năm, phát hiện lách to và tăng lympho, có khám

bệnh tại Bệnh viện Chợ Rẫy với chẩn đoán tăng

Lympho lành tính, không làm tủy đồ và không

điều trị gì Trước nhập viện khoảng 1 tháng,

bệnh nhân có thấy cơ thể thường hay mệt mỏi,

sụt cân mức độ nhẹ không rõ nguyên nhân, dễ

bầm tím dưới da và chảy máu khó cầm, da sạm

và thường hay bị viêm đường hô hấp trên, ngoài

ra không ghi nhận gì bất thường khác Tháng

05/2009 bệnh nhân xét nghiệm máu phát hiện có

số lượng tiểu cầu giảm thấp và tế bào lympho

tăng với kết quả Công thức máu (06/05/2009)

như sau: RBC: 4,52M/uL; HGB: 14,1g/dL; HCT:

40,2%; WBC: 26,44K/uL; %NEUT: 4,8%;

%LYMPH: 75,1%; %MONO: 0,2%; %EOS: 0,5%;

%BASO: 1,3%; %LUC: 18,1%; #NEUT: 1,27K/uL;

#LYMPH: 19,86K/uL; #MONO: 0,06K/uL; #EOS:

0,12K/u; #BASO: 0,35K/u; #LUC: 4,78K/u; PLT:

57K/uL; MPV: 10fL; Siêu âm bụng tổng quát

(06/05/2009): Lách to (KT: 150 x 60mm) Bệnh

nhân nhập Bệnh viện Thống Nhất điều trị

Tiền sử

- Bản thân: sống khỏe không ghi nhận bệnh

lý nào đáng kể

- Gia đình: không ai mắc bệnh tương tự

Tình trạng lúc nhập viện

Bệnh tỉnh, tiếp xúc tốt, thể trạng trung bình, không sốt, da sạm, niêm mạc mắt hồng nhạt, không có nốt mảng xuất huyết dưới da, hệ lông tóc móng phát triển bình thường, hạch ngoại vi không sưng, không phù, tuyến giáp không lớn Mạch: 80 lần/phút; Huyết áp: 120/70mmHg; Nhiệt độ: 36,7oC; Nhịp thở: 20 lần/phút; Cân nặng: 58kg; Chiều cao: 164cm; BMI: 21,6kg/m2; BSA: 1,63m2

Thăm khám các cơ quan

- Tim Mạch: nhịp tim 80 lần/phút, trùng với mạch quay, mỏm tim đập ở khoảng liên sườn V trên đường trung đòn trái, T1, T2 đều rõ, không nghe thấy âm thổi bệnh lý

- Hô Hấp: bệnh nhân không khó thở, nhịp thở 20 lần/phút, lồng ngực cân đối, rì rào phế nang rõ hai phế trường, không nghe ran bệnh lý

- Tiêu Hóa: ăn uống được nhưng ít, bụng mềm không chướng, gan không sờ đụng, lách sờ mấp mé hạ sườn trái Đại tiện thường, phân vàng thành khuôn

- Tiết Niệu: tiểu nước tiểu màu vàng trong, tiểu khoảng 900ml/24h, ấn các điểm niệu quản trên giữa không đau, chạm thận, bập bềnh thận

âm tính; cầu bàng quang (-)

- Thần Kinh: bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc tốt, còn mệt mỏi, các dấu màng não âm tính, không ghi nhận dấu thần kinh khu trú, các phản ứng gân xương chưa ghi nhận bất thường

- Nội tiết: không ghi nhận dấu hiệu bất thường

- Cơ Xương Khớp và các cơ quan khác: hiện tại chưa ghi nhận gì lạ

Chẩn đoán lúc nhập viện

1 Bệnh bạch cầu mãn dòng lympho theo dõi biến cấp

2 Giảm tiểu cầu chưa rõ nguyên nhân

Cận lâm sàng

- X quang tim phổi: Bình thường

- Điện tâm đồ: Nhịp xoang, tần số 80 lần/phút

Trang 3

- Siêu âm tim: Rối loạn chức năng tâm trương

thất trái; Chức năng tâm thu thất trái trong giới

hạn bình thường với EF: 65,47%

- Siêu âm bụng tổng quát (06/05/2009): Lách to

độ 1 (KT: 159x60mm)

- Nước tiểu tổng phân tích: Glucose: âm tính;

Albumin: âm tính; Protein: âm tính

- Huyết đồ (06/05/2009):

RBC: 4,52M/µL WBC: 26,44K/uL

HGB: 14,1g/dL #NEUT: 1,27K/uL %NEUT: 4,8%

HCT: 40,2% #LYMPH: 19,86K/uL %LYMPH: 75,1%

MCV: 88,8fL #MONO: 0,06K/uL %MONO: 0,2%

MCH: 31,3pg #EOS: 0,12K/uL %EOS: 0,5%

MCHC: 35,2g/dL #BASO: 0,35K/uL %BASO: 1,3%

CHCM: 33,5g/dL #LUC: 4,78K/uL %LUC: 18,1%

PLT: 57K/uL MPV: 10,0fL

Kết luận:

+ Hồng cầu bình thường

+ Tiểu cầu giảm

+ Bạch cầu tăng, hiện diện # 63% hairy cell

- Tủy đồ (10/07/2009):

+ Neutrophil series: 12%

+ Lymphocytes:

+ Erythroid series: 08%

+ Hairy cell: 80%

Hình thái tủy: Hạt tủy khá, giảm sinh 3 dòng tủy bình thường, bên cạnh tăng quần thể

tế bào chiếm # 80% mật độ tế bào tủy, kích thước #10-12 micrometres, nhân hình hạt đậu, nhiễm sắc chất hơi thô, tỉ lệ N/C 9/10, nguyên sinh chất kiềm trung bình, mờ như làn khói,

có một số giả túc

Máu hồng cầu ít thay đổi Tiểu cầu giảm Hiện diện nhiều tế bào tóc (Hairy cell)

+ Kết luận: Hình ảnh tủy hướng Hairy cell leukemia

- Sinh thiết tủy xương (04/08/2009):

+ Đại thể: 01 đoạn sinh thiết tủy bằng kim d = 2cm, nhuộm HE, giemsa 01 lam máu ngoại vi +

1 lam lăn nhuộm giemsa

+ Vi thể: Tủy mật độ trung bình (30%), thâm nhiễm lan tỏa tế bào lymphocyte, có nhân đa dạng hình hạt đậu trắng (60%)

Kết luận: Phù hợp với định bệnh Leucemie

tế bào tóc

Hiện diện thâm nhiễm lan tỏa tế bào lymphocyte, có nhân đa dạng hình hạt đậu trắng (60%)

Tóm tắt bệnh án

Bệnh nhân nam 45 tuổi, vào viện ngày

06/05/2009 với lý do vào viện giảm tiểu cầu Qua

thăm khám, khai thác lâm sàng và cận lâm sàng

ghi nhận được những dấu chứng và hội chứng sau:

- Các dấu chứng lâm sàng:

+ Mệt mỏi, yếu, giảm sức bền

Trang 4

+ Dễ bầm tím hoặc chảy máu, da sạm

+ Thường có những đợt nhiễm trùng cơ hội

+ Sụt cân không rõ lý do

+ Lách to

- Các dấu chứng cận lâm sàng:

+ Siêu âm bụng: Lách to

+ Huyết đồ: WBC: 26,44K/uL; #NEUT:

1,27K/uL; %NEUT: 4,8%; #LYMPH: 19,86K/uL;

%LYMPH: 75,1%; PLT: 57K/uL; MPV: 10,0fL

+ Tủy đồ hiện diện tỉ lệ Hairy cell: 80%

+ Sinh thiết tủy xương thâm nhiễm lan tỏa

tế bào lymphocyte, hiện diện bạch cầu tế bào

tóc với nhân đa dạng hình hạt đậu trắng

chiếm tỉ lệ 60%

+ Xét nghiệm dấu ấn hóa mô miễn dịch với

CD19: 40%, CD20: 40%, CD22: 40%, CD25: 34%,

CD79b: 23%; CD103: 34%, smIgk: 39%

Qua những dấu chứng trên chúng tôi có

chẩn đoán: Bệnh bạch cầu tế bào tóc thể cổ điển -

Hairy Cell Leukemia (HCL)

Diễn tiến bệnh

Bệnh nhân được chẩn đoán xác định sau khi

thực hiện tủy đồ với sự hiện diện tỉ lệ tế bào tóc

chiếm 80%, sinh thiết tủy xương với kết quả tế

bào tóc chiếm tỷ lệ cao 60% và xét nghiệm dấu

ấn hóa mô miễn dịch với CD19: 40%, CD20: 40%,

CD22: 40%, CD25: 34%, và CD103: 34%

Bệnh nhân đã được hội chẩn giữa các bác sĩ

trong khoa Ung Bướu, Bệnh viện Thống Nhất

với các chuyên viên huyết học đầu ngành tại

TP.HCM đã đưa ra kết luận Bệnh bạch cầu tế

bào tóc thể cổ điển - Hairy Cell Leukemia (HCL)

và có chỉ định điều trị hóa trị liệu pháp bước 1

với phác đồ Cladribine (Tên thương mại:

Leustatin) đơn chất truyền tĩnh mạch với liều

lượng 0,09mg/kg/ngày x 7 ngày từ ngày 1 đến

ngày 7 Sau hóa trị liệu pháp bệnh nhân không

điều trị hỗ trợ gì thêm

Bệnh ổn định cho đến 03/2012 bệnh tái phát

qua việc xét nghiệm máu định kỳ mỗi 3 tháng

với biểu hiện số lượng tiểu cầu giảm còn 64K/uL

và trên siêu âm bụng tổng quát ghi nhận Lách to

độ 1 Bệnh nhân được tiến hành làm tủy đồ và sinh thiết tủy trở lại, kết quả ghi nhận: Hiện diện

tế bào tóc trong sinh thiết tủy khoảng 11%

Cận lâm sàng / giai đoạn tái phát

- Siêu âm bụng (06/03/2012):Lách to độ 1

- CT Scan lồng ngực - bụng (13/3/2012):Lách

to

- Sinh hóa máu (06/03/2012):

+ Ure: 3.7 mmol/L +Creatinin: 92 µmol/L

+ Bạch cầu ATYPS: +++

+ SGOT: 32 U/L + SGPT: 51 U/L

- Xét nghiệm vi sinh (06/03/2012):

+ HBsAg: Âm tính + Anti HCV: Âm tính + HIV: Âm tính

- Huyết đồ :

- Sinh thiết tủy xương (23/03/2012):

+ Neutrophil series: 39%

+ Lymphocytes: 10%

+ Erythroid series: 40%

+ Hairy cell: 11%

Kết luận: Tế bào tóc chiếm tỉ lệ # 11%

Trang 5

Bệnh nhân đã được hội chẩn với chuyên viên

Bệnh viện Truyền máu và Huyết học TP.HCM

đưa ra kết luận Bệnh bạch cầu tế bào tóc tái phát

và thống nhất tiếp tục điều trị hóa trị liệu pháp

bước 2 lặp lại phác đồ Cladribine đơn chất (vì

thời gian bệnh tái phát > 1 năm) với liều lượng

như trên và sau hóa trị bệnh nhân cũng không

có điều trị hỗ trợ nào khác và bệnh ổn định cho

đến ngày nay, tính từ thời điểm từ khi phát hiện

bệnh cho đến tại thời điểm này là 77 tháng (từ

05/2009 đến 10/2015) Hiện tại bệnh nhân có sức

khỏe bình thường, sinh hoạt và làm việc bình

thường, công thức máu trở lại bình thường và

không ghi nhận một triệu chứng bất thường nào

đáng kể

BÀN LUẬN

Bệnh nhân nhập viện với triệu chứng nổi bật

là bạch cầu tăng cao chủ yếu là dòng lympho,

hồng cầu bình thường và bạch cầu hạt lại giảm ở

máu ngoại vi làm cho ta nghĩ đến bạch cầu mãn

dòng lympho, tuy nhiên lách bệnh nhân to, tiểu

cầu giảm, không phù hợp với bạch cầu mãn

dòng lympho giai đoạn mãn mà có thể là giai

đoạn biến cấp hoặc tăng bạch cầu phản ứng

Theo định nghĩa, tăng bạch cầu phản ứng là một

tình trạng bạch cầu tăng vượt quá 50k/µl, với sự

gia tăng đáng kể về tiền thân của bạch cầu Lam

máu ngoại vi có thể có hiện diện # 63% tế bào tóc

(hairy cell)

Khi có kết quả giải phẫu bệnh (GPB) tủy đồ:

Hình ảnh tủy đồ với Neutrophil series 12%;

Erythroid series 08%; Hairy cell 80% Hình thái

tủy với hạt tủy khá, giảm sinh 3 dòng tủy bình

thường, bên cạnh tăng quần thể tế bào chiếm #

80% mật độ tế bào tủy, kích thước #10-12

micrometres, nhân hình hạt đậu, nhiễm sắc chất

hơi thô, tỉ lệ N/C 9/10, nguyên sinh chất kiềm

trung bình, mờ như làn khói, có một số giả túc

Máu hồng cầu ít thay đổi Tiểu cầu giảm Hiện

diện nhiều tế bào tóc (Hairy cell)

Giải phẫu bệnh của sinh thiết tủy xương:

Hình ảnh đại thể là 01 đoạn sinh thiết tủy bằng

kim d = 2cm, nhuộm HE, giemsa 01 lam máu

ngoại vi + 1 lam lăn nhuộm giemsa Hình ản vi thể với tủy mật độ trung bình (30%), thâm nhiễm lan tỏa tế bào lymphocyte, hiện diện tế bào tóc có nhân đa dạng hình hạt đậu trắng chiếm tỉ lệ # 60% Vì vậy kết luận bệnh cảnh phù hợp với định bệnh Leucemie tế bào tóc

Bệnh bạch cầu tế bào tóc (HCL) là bệnh ung thư máu hiếm gặp, chiếm 2% của tất cả các bệnh bạch cầu Bệnh thường gặp ở những người da trắng và ở nam giới với tỉ lệ nam/nữ khoảng 4:1

Độ tuổi trung bình của bệnh là 52 tuổi Bệnh thường có các triệu chứng như mệt mỏi, giảm cân vừa phải và lách to Gan to có mặt trong gần 50% các trường hợp Các triệu chứng chính là lách to và giảm tế bào máu mà chủ yếu là tiểu cầu và bạch cầu hạt(1,2)

Về cận lâm sàng trong bệnh tế bào tóc chúng

ta cần làm các cận lâm sàng sau:

- Giảm các dòng tế bào máu: khoảng 50% người bệnh giảm cả 3 dòng, các người bệnh còn lại có biểu hiện giảm 1 hoặc 2 dòng tế bào máu Chủ yếu gặp người bệnh bệnh bạch cầu tế bào tóc giảm bạch cầu, chỉ 10% người bệnh có tăng bạch cầu, thường ở mức 10 - 20 G/L Giảm bạch cầu mono là thường gặp, nếu được chú ý sẽ rất

có giá trị cho chẩn đoán

- Có tế bào tóc ở máu ngoại vi xuất hiện ở 90% các trường hợp với đặc điểm: Tế bào kích thước bằng hoặc gấp 2 lần lympho trưởng thành, nguyên sinh chất bắt màu kiềm nhạt, có các sợi nguyên sinh chất tỏa ra xung quanh gợi hình ảnh “sợi tóc”, nhân có các hạt nhân rõ Ở một vài người bệnh, chỉ có thể phát hiện thấy tế bào tóc khi tìm rất kỹ trên tiêu bản nhuộm Giêmsa

- Xét nghiệm tuỷ xương:

+ Tuỷ đồ: Thường rất khó hút được dịch tủy Trên tiêu bản tủy có thể thấy tế bào “tóc” tăng sinh lấn át các dòng tế bào khác và tế bào mỡ, tế bào càng trưởng thành thì “tóc” càng rõ Đôi khi gặp thể giảm sinh tuỷ

+ Sinh thiết tủy xương: Tủy thường giàu tế bào, tăng sinh tế bào tóc lan tỏa hoặc tập trung thành từng cụm lẫn giữa các khoang sinh máu

Trang 6

Các tế bào sinh máu khác như hồng cầu, bạch

cầu hạt và mẫu tiểu cầu giảm sinh Khoảng

10-20% người bệnh giảm mật độ tế bào tủy Đôi khi

gặp tủy mỡ hóa gần như hoàn toàn, xen kẽ là các

tế bào tóc

- Hoá học tế bào và hóa mô miễn dịch: Hầu

hết các tế bào dương tính với acid phosphate

kháng tartrate (Tartrate-resistant acid photphate

- TRAP), CD20, DBA.44; dương tính đồng thời 2

marker TRAP và DBA.44 có độ đặc hiệu cao

trong chẩn đoán

- Sử dụng kỹ thuật đếm tế bào dòng chảy

(Flow Cytometry), người ta thấy tế bào tóc

dương tính mạnh với các markers: CD45, CD19,

CD20, CD22, CD11c, CD25, CD103, CD123; âm

tính với CD5 và CD23

Chẩn đoán xác định thường rất khó khi các

đặc điểm lâm sàng và các xét nghiệm sinh học

khác nhau Đánh giá hình thái của một lam máu

ngoại vi là một công cụ cực kỳ giá trị tầm soát

HCL Bệnh có thể bị phát hiện khi nồng độ rất

thấp của các tế bào tóc có mặt trong mẫu máu

ngoại vi Về chẩn đoán bệnh bạch cầu tế bào tóc

bao gồm các biểu hiện lâm sàng như lách to,

thiếu máu, nhiễm trùng cơ hội Xét nghiệm máu

có giảm 1, 2 hoặc cả 3 dòng tế bào máu; Xét

nghiệm tủy xương cho thấy có nhiều tế bào tóc;

Xét nghiệm miễn dịch cho kết quả dương tính

với CD19, CD20, CD22, CD11c, CD25, CD103,

CD123; Xét nghiệm hóa mô miễn dịch kết quả

thường dương tính với CD20, TRAP, DBA.44(5,6)

Bệnh bạch cầu tế bào tóc có tiến triển tự

nhiên thường kéo dài một vài năm, vì vậy mục

đích của điều trị nhằm đạt được và duy trì ổn

định tình trạng lui bệnh

Tiên lượng của bệnh bạch cầu tế bào tóc

với tỷ lệ sống sau 5 năm cao hơn 85% Một

nghiên cứu của Flinn và cộng sự điều trị với

pentostatin cho biết tỷ lệ sống sau 5 năm là

90% và sau 10 năm là 81% Nguyên nhân gây

tử vong cao nhất là nhiễm trùng và các bệnh

ác tính thứ phát Đối với Cladribine, tỷ lệ sống

sau 9 năm đạt đến 97%(6)

Cho đến giữa những năm 1980, cắt lách là điều trị chủ yếu cho HCL, phương pháp này làm cải thiện giảm tế bào tóc trong đa số các bệnh nhân và làm bình thường hóa công thức máu từ 40% đến 60% Nhiễm khuẩn tái phát là một biểu hiện quan trọng và nguyên nhân quan trọng dẫn đến tử vong Các biến thể HCL chiếm 10% của tất cả các trường hợp HCL(7)

Điều trị đã được xem như là cuộc cách mạng với sự ra đời của interferon alpha (IFN) và các hóa chất chứa nhân purine tương tự (PA), đã cho một tỷ lệ đáp ứng điều trị toàn bộ từ 75-100% Rituximab được xem như thuốc để điều trị hiệu quả đối với HCL tái phát với tỉ lệ đáp ứng toàn

bộ đến 80%(8) Trong trường hợp này, bệnh nhân chúng tôi được trình bày với một số lượng bạch cầu bình thường, mà không phải là một đặc điểm của HCL Tuy nhiên, trường hợp này đã tiết lộ vài tế bào lympho không điển hình trong mẫu máu ngoại vi, dẫn đến khẳng định triệu chứng của HCL nhiều khi có số lượng bạch cầu bình thường Vì vậy, cần thiết để thực hiện một cuộc kiểm tra tổng quát bao gồm huyết đồ, tủy

đồ và sinh thiết tủy

Một chẩn đoán sai lầm về rối các loạn dòng lympho khác có thể dẫn đến hóa trị tích cực, đó là chống chỉ định và nguy hiểm cho bệnh nhân bị bệnh bạch cầu tế bào tóc Chú ý cẩn thận đến từng chi tiết hình ảnh là quan trọng để chẩn đoán sớm, đặc biệt khi tỷ lệ thấp của các tế bào tóc có mặt trong máu ngoại

vi và tủy xương(05) Chẩn đoán sớm của HCL là quan trọng để đảm bảo rằng các bệnh nhân có được lợi ích tối đa từ thuốc điều trị mới đã được cải thiện đáng kể tiên lượng

Chẩn đoán xác định

Bệnh bạch cầu tế bào tóc - Hairy cell Leukemia

KẾT LUẬN

Bệnh bạch cầu tế bào tóc là một bệnh ung thư bất thường của máu rất hiếm gặp Nó ảnh hưởng đến các tế bào B, một loại tế bào bạch cầu lympho Bệnh thường có biểu hiện hai đặc điểm

Trang 7

nổi bật là lách to và giảm các dòng tế bào máu,

triệu chứng của giảm tiểu cầu xuất hiện trước

trong khi các triệu chứng của bệnh bạch cầu, làm

cho bác sĩ lâm sàng gặp nhiều khó khăn trong

chẩn đoán và xử lý Cần kết hợp các cận lâm

sàng quan trọng như sinh thiết tủy xương, tủy

đồ, hóa học tế bào và hóa mô miễn dịch, giúp ích

rất nhiều trong chẩn đoán và tầm soát nguyên

nhân

Việc điều trị không phải luôn cần thiết cho

những người bị bệnh bạch cầu tế bào tóc Bởi vì

loại ung thư này diễn tiến rất chậm và một vài

trường hợp hoàn toàn không tiến triển, một số

bệnh nhân thích hợp điều trị chỉ khi nó gây ra

các dấu hiệu và triệu chứng Tuy nhiên, đa số

những người bị bệnh bạch cầu tế bào tóc đến

cuối cùng rồi sẽ cần được điều trị

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Cannon T, Mobarek D, Wegge J, Tabbara IA (2008) Hairy cell

leukemia: current concepts Cancer Invest; Vol 26(8):860-865

2 Cessna MH, Hartung L, Tripp S, Perkins SL, Bahler DW

(2005) Hairy cell variant: fact or fiction Am J Clin Pathol.; Vol

123(1):132-138

3 Chuang SS, Chang ST, Huang WT, Li CY, Campo E (2007)

Variant hairy cell leukemia without distinct nucleoli Leuk

Lymphoma.; Vol 48:1050-1052

4 Foucar K, Falini B, Catovsky D, Stein H (2008) Hairy cell lymphoma In: Swerdlow SH CE, Harris NL, Jaffe ES, Pileri

SA, Stein H, Thiele J, Vardiman JW, ed WHO classification of tumours of haemtopoietic and lymphoid tissues Lyon: IARC;pp.188-190

5 Pincus MR, et al (2011) Hematology and transfusion medicine In: Henry”s Clinical Diagnosis and Management by Laboratory Methods, 22nd edition, 2011, 636-637

6 Robak T (2010) Hairy-cell leukemia variant: Recent view on

diagnosis, biology and treatment Cancer Treat Rev

http://dx.doi.org/10.1016/j.ctrv.2010.05.003

7 Silberstein MD., Ronald Hoffman MD, Edward J Benz Jr MD, Leslie E (2009) Acute myeloid leukemia and myelodysplastic syndrome in adults; Hematology in aging In: Hematology: Basic Principles and Practice, 6th edition, 2009, 246-248

8 Souleau B, Malfuson JV, Fagot T, Konopacki J,, Cremades S,

de Revel T (2010) Which role for rituximab in hairy cell

leu-kemia? Reflections on six cases Acta Haematol.; Vol 123(2):

110-116

Ngày đăng: 16/01/2020, 00:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm