Chảy máu, tụ máu sàn miệng là biến chứng nguy hiểm trong các can thiệp phẫu thuật ở vùng trước XHD, có thể đe doạ tính mạng bệnh nhân. Nguyên nhân thường là khoan thủng vỏ xương, làm rách vạt niêm mạc mặt trong XHD, từ đó gây tổn thương các mạch máu chi phối tại vùng sàn miệng hoặc đi sát mặt trong XHD. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm khảo sát đặc điểm giải phẫu học của ĐM chi phối vùng sàn miệng trên thi thể người Việt.
Trang 1KHẢO SÁT ĐỘNG MẠCH NUÔI DƯỠNG VÙNG SÀN MIỆNG
TRÊN THI THỂ NGƯỜI VIỆT
Trần Thị Ngọc Trang * , Phạm Thị Hương Loan ** , Lê Đức Lánh **
TÓM TẮT
Đặt vấn đề và mục tiêu: Chảy máu, tụ máu sàn miệng là biến chứng nguy hiểm trong các can thiệp phẫu
thuật ở vùng trước XHD, có thể đe doạ tính mạng bệnh nhân Nguyên nhân thường là khoan thủng vỏ xương, làm rách vạt niêm mạc mặt trong XHD, từ đó gây tổn thương các mạch máu chi phối tại vùng sàn miệng hoặc đi sát mặt trong XHD Nghiên cứu này được thực hiện nhằm khảo sát đặc điểm giải phẫu học của ĐM chi phối vùng sàn miệng trên thi thể người Việt
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thông qua việc phẫu tích trên 15 thi thể người Việt trưởng thành,
thực hiện tại bộ môn Giải Phẫu, khoa Y, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh, chúng tôi ghi nhận các đặc điểm về nguyên uỷ, đường đi, kích thước và sự phân nhánh của ĐM
Kết quả: ĐM chi phối vùng sàn miệng được ghi nhận theo phân loại của Katsumi (2011) Nhóm I chiếm tỉ lệ
cao nhất (56,7%) Tiếp theo là nhóm III với tỉ lệ 20% Có 1 trường hợp thuộc nhóm II (3,3%) Ngoài ra, chúng tôi còn ghi nhận thêm 6 trường hợp ĐM cấp máu cho sàn miệng xuất phát từ ĐM mặt không nằm trong phân loại của Katsumi (20%) Đường kính của ĐM cấp máu chính vùng sàn miệng là 1,55 ± 0,41 mm Có 80% ĐM sau khi cấp máu sàn miệng cho nhánh đi vào XHD thông qua lỗ trên gai cằm, lỗ ngay gai cằm và lỗ dưới gai cằm Bên cạnh đó, ĐM dưới cằm cũng đi vào XHD qua lỗ dưới gai cằm nhưng chủ yếu là qua lỗ lưỡi bên (66,67%)
Kết luận: Bên cạnh ĐM dưới lưỡi – nhánh của ĐM lưỡi là ĐM nuôi dưỡng chính cho vùng sàn miệng,
nhánh của ĐM dưới cằm tham gia nuôi dưỡng cho sàn miệng trong 20% trường hợp Nghiên cứu này còn ghi nhận có 20% nhánh xuất phát trực tiếp từ ĐM mặt cấp máu cho sàn miệng chưa được ghi nhận trong nghiên cứu của Katsumi (2011)
Từ khoá: ĐM dưới cằm, ĐM dưới lưỡi, sàn miệng, thi thể, phẫu tích, xương hàm dưới
ABSTRACT
VIETNAMESE CADAVERS
Tran Thi Ngoc Trang, Pham Thi Huong Loan, Le Duc Lanh
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 2 - 2016: 61 - 67
Background and Objectives: In the past, clinicians suggested that the anterior mandible was a safe area In
fact, severe bleeding and hematoma in the floor of the mouth are the life-threating complications related to surgery
in the mandible The hemorrhage can easily spread in the loose tissues of the floor of the mouth, including the sublingual area, resulting in an airway obstruction The reason of these complications is that the arteries of the mouth’s floor and anterior mandible be damaged This study aimed to explore the anatomical variation of arteries supplying to the floor of the mouth among Vietnamese cadavers
Materials and Methods: The study sample consisted of 30 body sides of 15 Vietnamese cadavers for
dissection at University of Medicine and Pharmacy, HoChiMinh City The anatomical structures of
* Khóa Bác sĩ Răng Hàm Mặt 2009-2015, Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược Tp.HCM
** Bộ môn Phẫu Thuật Miệng, Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược Tp.HCM
Tác giả liên lạc: BS Trần Thị Ngọc Trang ĐT: 01677733007 Email: ngoctrangrhm09@gmail.com
Trang 2submandibular and sublingual region were firstly exposed from the front without removing the mandible, then finding out the arterie, the diameter, the length and anastomoses between arteries in the floor of the mouth was determined by using Katsumi’s classification
Results: According to Katsumi’s classification, we found that most of arteries supplying to the floor of the
mouth arose from lingual artery (56,7%); 20% sublingual arteries came from facial arteries Diameter of sublingual arteries in this group was the highest There were 20% of cases belonging to group III and one case (3.3%) being group II The mean diameter of the floor of the mouth’s arteries was 1,55 ± 0,41 mm Arteries supplying to the anterior mandible included both submental and sublingual arteries Eighty percent of sublingual arteries went through the supraspinosum foramen in the lingual side of mandible
Conclusion: The main artery supplying for the floor of the mouth was sublingual artery (56,7%) On the
other hand, there were 20% of arteries supplying for the floor of the mouth arise from facial arteries
Key words: Subligual artery, submental artery, floor of the mouth, cadaver, dissection, mandible
ĐẶT VẤN ĐỀ
Với sự phát triển của cấy ghép nha khoa hiện
nay, những can thiệp phẫu thuật ở vùng trước
xương hàm dưới (XHD) được thực hiện ngày
càng nhiều Trước đây, đa số các nhà lâm sàng
cho rằng vùng trước XHD là vùng an toàn trong
các can thiệp bởi lớp vỏ xương dày và không có
các cấu trúc giải phẫu quan trọng Tuy nhiên,
thực tế cho thấy đã có nhiều biến chứng nguy
hiểm xảy ra gây đe dọa tính mạng bệnh nhân(4, 13,
16) Chảy máu và tụ máu sàn miệng là biến chứng
thường gặp trong các can thiệp phẫu thuật ở
vùng trước XHD(15) Máu chảy ở vùng dưới lưỡi
có thể dễ dàng lan đến vùng mô lỏng lẻo xung
quanh, hình thành tụ máu lớn, đẩy sàn miệng và
lưỡi lên, gây tắc nghẽn đường hô hấp và đe dọa
tính mạng bệnh nhân Nguyên nhân của biến
chứng này là thủ thuật làm thủng vỏ xương, làm
rách vạt niêm mạc mặt trong XHD, từ đó gây tổn
thương các mạch máu đi sát xương hoặc gây tổn
thương các mạch máu trong xương(16) Việc nắm
được giải phẫu mạch máu ở vùng này sẽ giúp
nhà lâm sàng không những tránh được biến
chứng mà còn chọn lựa cách xử trí đúng đắn khi
tụ máu, chảy máu xảy ra
Theo nhiều sách giải phẫu học người,
vùng sàn miệng và vùng trước mặt trong XHD
được nuôi dưỡng bởi động mạch (ĐM) dưới lưỡi
– nhánh của ĐM lưỡi hoặc ĐM dưới cằm –
nhánh của ĐM mặt(12) Nhiều nghiên cứu trên thế
cho rằng ĐM dưới lưỡi là ĐM nuôi dưỡng chính
ở vùng sàn miệng(5, 6, 8, 9) Tuy nhiên cũng có 1 vài nghiên cứu lại cho rằng ĐM dưới cằm mới là
ĐM chi phối chính(1,14) Nghiên cứu này nhằm khảo sát đặc điểm cấp vùng sàn miệng của
người Việt với các mục tiêu sau:
1 Mô tả các dạng nguyên uỷ và đường kính của ĐM lưỡi và ĐM mặt
2 Xác định nguyên uỷ, kích thước, phân nhánh của ĐM nuôi dưỡng sàn miệng
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả
Mẫu nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trên 15 thi thể người sẵn có tại bộ môn Giải Phẫu học, khoa Y, Đại học Y Dược Tp Hồ Chí Minh Thời gian
nghiên cứu: từ 8/2014 đến 6/2015
Tiêu chuẩn chọn mẫu
- Thi thể có vùng đầu cổ ở tình trạng nguyên vẹn
- Không có chấn thương hay dị tật gây biến dạng vùng cổ mặt
- Được bảo quản trong dung dịch formalin trong vòng 1-2 năm
Tiêu chuẩn loại trừ
- Thi thể có tình trạng xơ sẹo, khối u bất thường vùng mặt cổ hoặc đã phẫu tích vùng đầu
Trang 3cổ
- Thi thể có phần cổ bị gập, không thể phẫu
tích từ vùng dưới hàm lên vùng dưới lưỡi
Tiến trình phẫu tích được thực hiện theo tác
giả Loukas (2008)(8) Từ tam giác cảnh, chúng tôi
bóc tách ĐM cảnh ngoài và tìm các nhánh bên
Sau khi xác định được ĐM mặt, tiếp tục tìm
nhánh ĐM dưới cằm và tìm phân nhánh đâm
xuyên qua cơ hàm móng hoặc phân nhánh đi
vào XHD Tương tự, từ ĐM lưỡi, chúng tôi tìm
các phân nhánh chạy đến sàn miệng, đi lên gờ
xương ổ hoặc nhánh đi vào XHD Sau khi xác
định động mạch, tiến hành đo đường kính và
chiều dài bằng thước đo điện tử Mytatoyo theo
phương pháp của Lê Văn Cường(7):
* Phương pháp xác định đường kính:
Đo đường kính của ĐM chính là đo đường
kính ngoài tại nguyên uỷ, gồm các bước sau:
Bóp dẹp động mạch bằng kẹp không mấu để
thành ĐM áp sát vào nhau
Đo chiều rộng đoạn đã kẹp Coi như thành
ĐM dày không đáng kể, chiều rộng đo được
chính là nửa chu vi của ĐM
Xác định đường kính theo công thức chi vi
hình tròn: 2D = d (Với D là chiều rộng đo được,
d là đường kính của ĐM)
Từ đó suy ra đường kính mạch máu theo
công thức: d= 2D
* Phương pháp xác định chiều dài:
Chiều dài của 1 ĐM được tính từ nguyên uỷ
của ĐM đó đến chỗ chia nhánh bên đầu tiên Đặt
đoạn ĐM trên đường thẳng đã kẻ trên bảng đo
(hình 2.1), đánh dấu và đo độ dài ĐM Đối với
những ĐM gấp khúc, dùng sợi chỉ căng dọc theo
chiều dài ĐM và dùng thước để đo chiều dài đoạn chỉ
Tiếp theo, ghi nhận các thông nối giữa ĐM dưới lưỡi và ĐM dưới cằm, ghi nhận vị trí ĐM
đi vào XHD qua các lỗ lưỡi Đối với mỗi thông
số, thực hiện đo 3 lần và lấy giá trị trung bình Sau cùng, chúng tôi phân loại đặc điểm cấp màu vùng sàn miệng theo tác giả Katsumi (2011): + Nhóm I: ĐM nuôi dưỡng sàn miệng là
ĐM dưới lưỡi - xuất phát từ ĐM lưỡi
+ Nhóm II: ĐM nuôi dưỡng sàn miệng gồm
cả ĐM dưới lưỡi và ĐM dưới cằm
+ Nhóm III: ĐM nuôi dưỡng sàn miệng là
ĐM dưới cằm – nhánh của ĐM mặt
+ Nhóm IV: Giống nhóm III nhưng không có
ĐM lưỡi sâu
Việc phẫu tích được thực hiện dưới sự hướng dẫn, đồng ý và thống nhất của 1 bác sĩ tại
bộ môn Giải Phẫu và 1 bác sĩ Phẫu Thuật Miệng
Số liệu sau khi thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS.20 Thống kê mô tả cung cấp những thông tin về số lượng, tỷ lệ phần trăm, số trung bình ± độ lệch chuẩn, đường kính lớn nhất
và nhỏ nhất, chiều dài lớn nhất và nhỏ nhất
KẾT QUẢ Các dạng nguyên uỷ và đường kính của
ĐM lưỡi và ĐM mặt
Nguyên uỷ của ĐM lưỡi và ĐM mặt dựa theo tác giả Drake (2005) gồm 2 nhóm chính: có thân chung và không có thân chung(2) Nghiên cứu này chưa ghi nhận được trường hợp nào có thân chung lưỡi – giáp trên (Bảng 1)
Bảng 1 Các dạng nguyên uỷ của các nhánh bên trước của ĐM cảnh ngoài
Trang 4Bảng 2 Đường kính ĐM mặt và ĐM lưỡi khi có
hoặc không có thân chung lưỡi - mặt
Thân chung ĐM lưỡi ĐM mặt
Không (n=25) 2,26 ± 0,31 2,33 ± 0,49
*t-test độc lập
Bảng 3 Đường kính trung bình ĐM mặt và ĐM
lưỡi theo giới tính
Giới tính ĐM mặt (mm) ĐM lưỡi (mm)
Đường kính trung bình ĐM lưỡi khi tách ra
từ thân chung lưỡi – mặt lớn hơn so với đường
kính trung bình ĐM lưỡi khi không có thân
chung Đường kính trung bình ĐM mặt khi có
thân chung nhỏ hơn so với khi không có thân
chung Tuy nhiên, sự khác nhau này không có ý
nghĩa thống kê (p>0,05) Đường kính của ĐM mặt và ĐM lưỡi giữa 2 giới tính cũng không có
sự khác biệt ý nghĩa (bảng 3.2 và bảng 3.3)
Nguyên uỷ, kích thước và phân nhánh của
ĐM nuôi dưỡng sàn miệng
Bảng 4 Phân loại nguyên uỷ ĐM nuôi dưỡng sàn
miệng theo Katsumi (2011)
Đa số trường hợp ĐM nuôi dưỡng sàn miệng là ĐM dưới lưỡi - xuất phát từ ĐM lưỡi (56,7%) Kế tiếp là nhóm ĐM dưới cằm và ĐM mặt với tỉ lệ tương đương nhau (20%) Đặc biệt, ghi nhận được 1 trường hợp có thông nối giữa
ĐM dưới lưỡi - xuất phát từ ĐM lưỡi và 1 nhánh lớn của ĐM dưới cằm (bảng 4)
Bảng 5 Chiều dài và đường kính trung bình của ĐM nuôi dưỡng sàn miệng
Nguyên uỷ
ĐM dưới lưỡi ĐM dưới cằm ĐM mặt ĐM dưới lưỡi ĐM dưới cằm ĐM mặt
Trung bình 36,45 ± 7,18 30,63 ± 6,22 54,66 ± 4,11 1,46 ± 0,43 1,44 ± 0,32 1,88 ± 0,29
Chiều dài trung bình của ĐM nuôi dưỡng
sàn miệng lớn nhất khi nó xuất phát từ ĐM
mặt (54,66mm), sau đó là trường hợp ĐM cấp
máu cho sàn miệng là ĐM dưới lưỡi
(36,45mm) và sau cùng là từ ĐM dưới cằm
(30,63mm) Đường kính của ĐM nuôi dưỡng
sàn miệng khi xuất phát từ ĐM mặt là lớn
nhất (1,88 mm) Khi có nguyên uỷ từ ĐM lưỡi
hay ĐM dưới cằm, đường kính ĐM này tương
đương nhau (bảng 5)
Phần lớn trường hợp ĐM sau khi cấp máu
vùng sàn miệng thì cho nhánh lên gờ xương ổ
răng (73,3%) Có 24 trường hợp (80%) ĐM
nuôi dưỡng sàn miệng cho nhánh đi vào trong
XHD Đường kính trung bình của nhánh lên
gờ xương ổ răng là 1 ± 0,32mm và nhánh vào
BÀN LUẬN Các dạng nguyên uỷ và đường kính của
ĐM lưỡi và ĐM mặt
Troupis (2011) đã tổng hợp nhiều nghiên cứu tương tự và cho biết có 70-90% trường hợp nguyên uỷ các nhánh bên của ĐM cảnh ngoài thuộc nhóm I – tức là không có thân chung
ĐM(17) So với các nghiên cứu khác, trường hợp không có thân chung chiếm tỉ lệ cao nhất, từ 72,61%(7) đến 94%(17) Nghiên cứu này cũng ghi nhận tỉ lệ tương đồng (83,3%) Dạng biến thể thường gặp thứ 2 là trường hợp có thân chung
ĐM lưỡi – mặt Theo báo cáo của Troupis (2011), nhóm II chiếm khoảng 5-20% So với nghiên cứu của Lê Văn Cường (2012) ghi nhận tỉ lệ nhóm II
là 26,4% thì nghiên cứu này chỉ ghi nhận được
Trang 513,3% trường hợp có thân chung lưỡi – mặt
Điều này có thể do cỡ mẫu của nghiên cứu này
còn nhỏ Flanagan (2003) đã đề xuất việc thắt
ĐM ngoài mặt để xử trí tụ máu sàn miệng, bao
gồm thắt ĐM mặt ở vùng dưới hàm hoặc ĐM
lưỡi trong tam giác Pirogoff(3) Tuy nhiên, khi
thắt ĐM cần phải lưu ý đối với những trường
hợp có thân chung, thắt thân chung sẽ gây ra tình trạng giảm tưới máu những vùng khác Ngược lại, trong những trường hợp vùng sàn miệng được chi phối bởi các nhánh của cả ĐM mặt và ĐM lưỡi, việc thắt thân chung ĐM lưỡi – mặt sẽ giúp can thiệp ở mức độ tối thiểu mà vẫn đạt hiệu quả
Nguyên uỷ, kích thước, phân nhánh của
ĐM nuôi dưỡng sàn miệng
Nghiên cứu này dựa trên phân loại của tác
giả Katsumi (2011), tuy nhiên không ghi nhận
được trường hơp nào không có ĐM lưỡi sâu (nhóm IV)
Hình 1 Các dạng nguyên uỷ của ĐM lưỡi và ĐM mặt
Trang 6Bên cạnh đó, nghiên cứu này còn ghi nhận
thêm trường hợp ĐM nuôi dưỡng sàn miệng
xuất phát từ ĐM mặt giống Nakajima (2014)(11)
và Masui (2015)(10) và đưa trường hợp này vào
nhóm (M) Đây là kiểu phân loại đơn giản chỉ
đơn thuần dựa trên nguyên uỷ của ĐM nuôi
dưỡng sàn miệng mà không phụ thuộc vào các
biến thể của các nhánh bên thuộc ĐM cảnh
ngoài
+ Nhóm I: ĐM nuôi dưỡng sàn miệng là ĐM
dưới lưỡi - xuất phát từ ĐM lưỡi
+ Nhóm II: ĐM nuôi dưỡng sàn miệng gồm
cả ĐM dưới lưỡi và ĐM dưới cằm
+ Nhóm III: ĐM nuôi dưỡng sàn miệng là
ĐM dưới cằm – nhánh của ĐM mặt
+ Nhóm IV: Giống nhóm III nhưng không có
ĐM lưỡi sâu
+ Nhóm (M): ĐM nuôi dưỡng sàn miệng
xuất phát từ ĐM mặt
Cũng giống như các tác giả khác, nghiên cứu
này ghi nhận tỉ lệ nhóm I là lớn nhất (17/30 mẫu)
Như vậy, có thể kết luận ĐM chi phối chủ yếu
cho vùng sàn miệng là ĐM dưới lưỡi – nhánh
của ĐM lưỡi, tương đồng với kết luận của nhiều
nghiên cứu khác(5, 6, 8, 11) Đối với nhóm II, nghiên
cứu này ghi nhận tỉ lệ 1/30 Kết quả này tương
đương với tỉ lệ 2/101 của Masui (2015)(10) và nhỏ
hơn so với Nakajima (2014)(11) Ngoài ra, chúng
tôi còn ghi nhận được 6 trường hợp (20%) ĐM
nuôi dưỡng sàn miệng xuất phát từ ĐM mặt
(nhóm M), tương tự khảo sát của Nakajima
(2014) và Masui (2015) Hầu hết các nghiên cứu
khác đều quan sát ĐM tại chỗ, tức là tại vùng sàn
miệng, mà không quan tâm đến nguyên uỷ từ
phía ĐM cảnh ngoài(6, 8) Nghiên cứu này khảo
sát bắt đầu từ ĐM cảnh tương tự như Nakajima
(2014) và Masui (2015), bóc tách các nhánh ĐM
mặt và ĐM lưỡi đến các nhánh chi phối cho sàn
miệng, do đó đã phát hiện thêm trường hợp ĐM
nuôi dưỡng sàn miệng xuất phát trực tiếp từ ĐM
mặt, chiếm tỉ lệ khoảng 20%
Đường kính trung bình của ĐM nuôi
xuất phát từ ĐM lưỡi và 1,44mm khi xuất phát
từ ĐM dưới cằm, nhỏ hơn đường kính của ĐM nuôi dưỡng sàn miệng khi có nguyên uỷ từ ĐM mặt (1,88mm) (p<0,05) Theo Flanangan (2003), nếu cắt ngang 1 ĐM có đường kính 1-2mm, lưu lượng là 0.2mm/nhịp và tốc độ 70 nhịp/phút, trong vòng 30 phút sẽ có 420mml máu thoát mạch Lượng máu này đủ để chảy lấp khoảng dưới hàm và làm tắc đường thở(3) Trên lâm sàng,
có thể dùng tay đè lên bờ dưới XHD tại vị trí bờ trước cơ cắn, nếu ngừng hay giảm chảy máu thì chứng tỏ nhánh ĐM đang chảy máu xuất phát từ
ĐM dưới cằm hoặc ĐM mặt Vì đường kính ĐM vùng sàn miệng khi xuất phát từ ĐM mặt là lớn hơn đáng kể nên khi có biến chứng, cần lưu ý đến khả năng thắt ĐM mặt để kiểm soát máu chảy
Nhánh đi lên gờ xương ổ răng và nhánh đi vào mặt trong XHD là 2 loại nhánh có nguy cơ bị tổn thương cao nhất trong các can thiệp ở vùng trước XHD do chúng đi sát mặt trong XHD Tỉ lệ nhánh lên gờ xương ổ răng của nghiên cứu này
là 73,3% và tỉ lệ nhánh ĐM vào XHD là 80% Tuy nhiên, đường kính ghi nhận được của các nhánh này đều nhỏ hơn 1mm Do đó khó có khả năng gây tụ máu sàn miệng đe doạ tính mạng bệnh nhân Theo Flanagan (2003), việc đứt hoặc rách các ĐM có đường kính trên 1,4mm mới có thể gây nên biến chứng tụ máu sàn miệng(3)
KẾT LUẬN
Bên cạnh ĐM dưới lưỡi – nhánh của ĐM lưỡi là ĐM nuôi dưỡng chính cho vùng sàn miệng (56,7%), nhánh của ĐM dưới cằm tham gia nuôi dưỡng cho sàn miệng trong 20% trường hợp Nghiên cứu này còn ghi nhận có 20% nhánh xuất phát trực tiếp từ ĐM mặt cấp máu cho sàn miệng chưa được ghi nhận trong nghiên
cứu của Katsumi (2011)
Kết quả nghiên cứu khảo sát sự phân bố mạch máu trên thi thể người Việt ở vùng sàn miệng và mặt trong XHD giúp cho các nhà lâm sàng hiểu rõ hơn về đặc điểm giải phẫu mạch máu ở vùng này Từ đó, có thể đưa ra quyết định
Trang 7đúng đắn khi cần xác định ĐM nguyên nhân để
thắt trong xử trí biến chứng chảy máu, tụ máu
sàn miệng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bavitz J.B., Harn S.D., & Homze E.J (1994) “Arterial supply to
the floor of the mouth and lingual gingiva”, Oral Surgery, Oral
Medicine, and Oral Pathology, 77, pp 232-235
2 Drake R., Vogl W., Mitchell M (2005), Gray’s anatomy for
student, Elsevier Churchill Livingstone, Philadelphia, pp 97
3 Flanagan D (2003), “Important arterial supply of the
mandible, control of an arterial hemorrhage and report of a
case of hemorrhagic incident”, J Oral implantol, 29, pp 165-173
4 Givol N., Chaushu G., Halamish H (2000), “Emergency
tracheostomy following life-threatening hemorrhage in the
floor of the mouth during immediate implant placement in the
mandible canine region”, Journal of periodotology, pp
1893-1895
5 Hofschneider U., Tepper G., Gahleiner A (1999), “Assessment
of the blood supply to the mental region for reduction of
bleeding complications during implant surgery in the
interforminal region”, The International Journal of Oral &
Maxillofacial Implant, 14, pp 379-383
6 Katsumi Y., Tanakaa R., Hayashi T (2011), “Variation in
arterial supply to the floor of the mouth and assessment of
relative hemorrhage risk in implant surgery”, Clinical Oral
Implant Res, 10, pp.1-7
7 Lê Văn Cường (2012), Các dạng và kích thước động mạch ở người
Việt Nam, nhà xuất bản Y học, thành phố Hồ Chí Minh, tr 171
- 174
8 Loukas M., Kinsella C.R., Kapos T., (2008), “Anatomical
variation in arterial supply of the mandible with special
regard to implant placement”, International Journal of Oral and
Maxillofacial Surgery, 37, pp 367-371
9 Mardiger O., Manor Y., Mijirisky E (2007), “Lingual
perimandibular vassels associates with the life-threatening
bleeding: an anatomic study”, International Journal of Oral and
Maxillofacial Implants, 22, pp 127-131
10 Masui T., Seki S., Sumida K (2015), Gross anatomical classification of the courses of the human sublingual artery, Institute
of Health Bioscieces, Japan
11 Nakajima K., Tagaya A., Mika (2014), “Composition of the blood supply in the suplingual and submandibular spaces and its relationship to the lateral lingual foramen of the
mandible”, Oral Surg Oral Med Oral Pathol Oral Radiol, 117(1),
pp 32-38
12 Nguyễn Quang Quyền (2011), Bài giảng giải phẫu học, tập 1, tái
bản lần thứ 13, nhà xuất bản Y học, thành phố Hồ Chí Minh,
tr 310-314
13 Pigadas N., P.Simoes, J.R.Tuffin (2008), “Massive sublingual haematoma following osseo-integrates implant placement in
the anterior mandible”, British dental journal, 206, pp 67-68
14 Rossano G., Taschieri S., Gaudy (2009), “Anatomic assessment
of the anterior mandible and relative hemorrhage risk in the
implant dentistry: a cadaveric study”, Clinical Oral Implants Research, 20, pp 791-795
15 Tagaya A., Matsuda Y., Makajima (2009), “Assessment of the blood supply to the lingual surface of the mandible for
reduction of bleeding during implant surgery”, Clinical Oral Implnts Research, 20, pp 351-355
16 Tarakji B., Mohammad Z.N (2011), “Factors assiciates with hematoma of the floor of the mouth after placement of dental
implants”, The Saudi Dental Journal, 24, pp 11-15
17 Troupis T.G., Dimitroulis D., Parachos A (2011), “Lingual and Facial arteries arising from the External Carotid artery in a
common trunk”, The American Surgeon, 77(2), pp 151
Ngày phản biện nhận xét bài báo: 26/02/2016 Ngày bài báo được đăng: 25/03/2016