1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Sự đề kháng kháng sinh của vi khuẩn gây viêm phổi cộng đồng tại khoa hô hấp Bệnh viện Thống Nhất

6 109 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 287,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày việc xác định tỉ lệ tác nhân gây bệnh và sự đề kháng kháng sinh ở bệnh nhân viêm phổi cộng đồng (VPCĐ) tại khoa Hô hấp bệnh viện Thống Nhất từ tháng 4- 2018 đến tháng 5- 2019.

Trang 1

SỰ ĐỀ KHÁNG KHÁNG SINH CỦA VI KHUẨN GÂY VIÊM PHỔI CỘNG

ĐỒNG TẠI KHOA HÔ HẤP BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT

Ngô Thế Hoàng * , Bùi Văn Long * , Lê Thị Điệp * , Vũ Thu Hà * , Vũ Thị Phương *

TÓM TẮT

Mục tiêu: Xác định tỉ lệ tác nhân gây bệnh và sự đề kháng kháng sinh ở bệnh nhân viêm phổi cộng đồng

(VPCĐ) tại khoa Hô hấp bệnh viện Thống Nhất từ tháng 4- 2018 đến tháng 5- 2019

Phương pháp: Tiền cứu, mô tả, cắt ngang

Kết quả: Tác nhân gây bệnh chủ yếu là S pneumoniae 43,8%, P aeruginosa 15,8%, A baumannii 12,5%,

S aureus 10,4%, K pneumoniae 9,4% và E coli 8,3% S pneumoniae kháng LVX 23,3%, MXX 13,3% P aeruginosa kháng PIP 46,1%, PIT 33,3%, AMK 35,7%, CAZ 30,4%, IPM 23,1% và MEM 15,4% A baumannii kháng quinolone từ 40-60%, kháng PIT 41,7%, kháng IPM, MEM khoảng 30-40% Vi khuẩn gây bệnh còn nhạy với VAM và COL

Kết luận: Tác nhân gây VPCĐ hàng đầu là S pneumoniae 43,8%, P aeruginosa 15,8%, A baumannii

12,5% Vi khuẩn gây đề kháng kháng sinh cao S pneumoniae kháng LVX 23,3%, MXX 13,3% Không có sự đề kháng của S aureus với VAM

Từ khóa: viêm phổi cộng đồng, đề kháng kháng sinh

ABSTRACT

ANTIBIOTIC RESISTANCE OF BACTERIA CAUSE OF COMMUNITY ACQUIRED PNEUMONIA AT

RESPIRATORY DEPARTMENT, THONG NHAT HOSPITAL

Ngo The Hoang, Bui Van Long, Le Thi Diep, Vu Thu Ha, Vu Thi Phương

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 3 - 2019: 163 - 168

Objective: To determine the rate of pathogens and antibiotic resistance in community acquired pneumonia

patients at the Respiratory Department, Thong Nhat hospital from April 2018 to May 2019

Methods: Prospective, descriptive

Results: The main pathogens are S pneumoniae 43.8%, P aeruginosa 15.8%, A baumannii 12.5%, S

aureus 10.4%, K pneumoniae 9.4% and E coli 8.3% S pneumoniae resistant to LVX 23.3%, MXX 13.3% P aeruginosa resistant to PIP 46.1%, PIT 33.3%, AMK 35.7%, CAZ 30.4%, IPM 23.1% and MEM 15.4% A baumannii resistant to quinolone from 40-60%, to PIT resistance 41.7%, to IPM, MEM about 30-40% Pathogenic bacteria are also sensitive to VAM and COL

Conclusion: The leading causes of CAP are S pneumoniae 43.8%, P aeruginosa 15.8%, A baumannii

12.5% Bacteria cause high antibiotic resistance S pneumoniae resistant to LVX 23.3%, MXX 13.3% There is

no resistance of S aureus with VAM

Keywords: community-acquired pneumonia, antibiotic resistance

ĐẶT VẤN ĐỀ

Viêm phổi cộng đồng (VPCÐ) là một

nhiễm khuẩn hô hấp cấp nhưng các vi khuẩn

gây bệnh hiện nay cũng đã thay đổi và gia tăng kháng thuốc làm gia tăng chi phí chăm

sóc y tế Hiện nay, tỉ lệ S pneumoniae kháng

thuốc rất cao, đặc biệt kháng penicillin và

* Khoa Nội Hô hấp Bệnh viện Thống Nhất TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: BS CKII Ngô Thế Hoàng ĐT: 0908418109 Email: bshoanghhbvtn@gmail.com.vn

Trang 2

macrolide ở Châu Á cao hơn rất nhiều so với

các khu vực khác(4,7,8)

Nhiều nghiên cứu trong nước cũng cho

thấy tình hình vi khuẩn trong VPCĐ cũng gia

tăng đề kháng kháng sinh rất trầm trọng(2,4)

Nhận biết tỉ lệ đề kháng kháng sinh của các

chủng vi khuẩn này thường xuyên sẽ giúp ích

cho thực hành lâm sàng có hướng điều trị ban

đầu thích hợp và giám sát đề kháng kháng

sinh hiệu quả hơn Chúng tôi thực hiện nghiên

cứu này với các mục tiêu:

Xác định tần suất của vi khuẩn gây VPCĐ

Đánh giá sự đề kháng kháng sinh của các vi

khuẩn này

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân được điều trị nội trú tại khoa Hô

hấp bệnh viện Thống Nhất từ 04.2018 đến

05.2019, được chẩn đoán VPCĐ có kết quả cấy

định lượng đàm hoặc dịch rửa phế quản phân

lập được vi khuẩn Loại trừ những trường hợp

đang điều trị lao

Phương pháp nghiên cứu

Tiền cứu, mô tả, cắt ngang, lấy mẫu thuận tiện

Xử lý mẫu bệnh phẩm

Bệnh phẩm là mẫu đàm được lấy bằng cách

vỗ lưng và hướng dẫn bệnh nhân khạc đàm, có

khi phải hổ trợ bằng cách cho bệnh nhân xông

khí dung với NaCl 0,9% trước khạc đàm hay soi

phế quản và cấy dịch rửa phế quản (BAL) Bệnh

phẩm được đựng ở lọ nhựa trong và gởi đến

ngay phòng xét nghiệm vi sinh Mẫu đàm được

chọn cấy khi đủ độ tin cậy: < 10 tế bào biểu bì,

>25 bạch cầu / quang trường × 100 Bệnh phẩm

được cấy định lượng và làm kháng sinh đồ

Sử dụng bệnh án mẫu, thu thập số liệu từ các

bảng theo dõi bệnh nhân, các xét nghiệm có

trong bệnh án Xử lý số liệu bằng phần mềm

SPSS 16.0 for Window

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:

Vi khuẩn gây VPCĐ

Trong thời gian nghiên cứu, chúng tôi thu dung được 96 mẫu bệnh phẩm của bệnh nhân được chẩn đoán VPCĐ phân lập được vi khuẩn

gây bệnh

Bảng 1: Tỉ lệ vi khuẩn gây VPCĐ

Gr (+) S pneumoniae 42 43,8 n=52

54,2%

S aureus 10 10,4

Gr (-) P aeruginosa 15 15,8 n=44

45,8%

A baumannii 12 12,5

K pneumoniae 9 9,4

E coli 8 8,3

Cầu khuẩn Gr (+) 54,2%, trực khuẩn Gr (-)

45,8% Nhiều nhất là S pneumoniae 43,8%; P

aeruginosa 15,8%; A baumannii 12,5%; S aureus

10,4%; K pneumoniae 9,4% và E coli 8,3%

Tỉ lệ đề kháng kháng sinh của vi khuẩn gây

VPCĐ (Bảng 2)

S pneumoniae kháng PNC 66,7%, kháng

AMP 75,8%, kháng ERY 94,3%, kháng CLI 71,4%, kháng TCY 83,9%, kháng thấp với CTX 35,4% và CRO 26,7% Kháng LVX 23,3%, kháng

MXX 13,3% Không đề kháng với VAM và TGC

S aureus kháng PEN 100%, OXA 88,9%, GEN và

CIP 87,5%, MXX 100%, IPM 83,3% Không đề

kháng VAM và TGC P aeruginosa kháng với

hầu hết các kháng sinh, với PIP 46,1%, PIT 33,3%, AMK 35,7%, CAZ 30,4%, FEP 7,7% Kháng IPM 23,1% và MEM 15,4% Không đề

kháng COL A baumannii kháng gần như toàn

bộ với các loại kháng sinh, với cephalosporin thế

hệ 3-4, aminoside và quinolone từ 40-60%, kháng PIT 41,7% Tỉ lệ kháng với IPM, MEM khoảng

30-40% Không đề kháng COL K pneumoniae

kháng với cephalosporin thế hệ 3-4 từ 30-40%; kháng PIT 77,8%, kháng quinolone 37,5%, kháng với IPM khoảng 33,3% Không kháng COL

E coli kháng cephalosporin thế hệ 3-4 từ

25-42,8% và quinolone 33,3% Đề kháng carbapenem IPM 33,3%, MEM 25% Không kháng COL

Trang 3

Bảng 2: Đề kháng kháng sinh của vi khuẩn

PEN 12/18 (66,7) 9/9 (100)

CRO 4/15 (26,7)

CIP 7/8 (87,5) 6/15 (40) 6/12 (50) 3/8 (37,3) 2/6 (33,3) LVX 7/30 (23,3) 5/15 (33,3) 5/12 (41,7) 3/8 (37,3) 2/6 (33,3) MXX 4/30 (13,3) 6/6 (100) 4/10 (40) 3/8 (37,3) 2/6 (33,3)

IPM 5/6 (83,3) 3/13 (23,1) 5/12 (41,7) 3/9 (33,3) 2/6 (33,3)

ERY 33/35 (94,3) 7/7 (100)

CLI 30/42 (71,4) 7/9 (77,8)

VAM 0/39 (0) 0/10 (0)

TCY 26/31 (83,9)

TGC 0/19 (0) 0/8 (0) 1/13 (7,7) 1/10 (10) 1/8 (14,3) 5/5 (100) FOS 1/9 (11,1) 4/13 (30,8) 8/8 (100) 7/9 (77,8) 2/6 (33,3)

PEN: penicillin, AMP: ampicillin, OXA: oxacillin, PIP: piperacillin, PIT: piperacillin/ tazobactam, AMK: amikacin, GEN:

gentamicin, CTX: cefotaxime, CAZ: ceftazidime, CRO: ceftriaxone, FEP: Cefepime, CIP: ciprofloxacin, LVX: levofloxacin, MXX: moxifloxacin, ATM: aztreonam, IPM: imipenem, MEM: meropenem, ERY: erythromycin, CLI: clindamycin, VAM:

vancomycin, COL: colistin, TCY: tetracycline, TGC: tygecycline, FOS: fosfomycin

COT: cotrimoxazol, CEC: cefaclor, CXM: cefuroxime, CHL: chloramphenicol, AMC: amoxicillin/clavulanic acid, OFL: oflxacin AZT: azithromycin

BÀN LUẬN

Vi khuẩn gây VPCĐ

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ cầu

khuẩn Gr (+) 54,2%, trực khuẩn Gr (-) 45,8%

Nhiều nhất là S pneumoniae 43,8%; P aeruginosa

15,8%; A baumannii 12,5%; S aureus 10,4%; K

pneumoniae 9,4% và E coli 8,3% (bảng 1) Đa số

chỉ một tác nhân gây bệnh Kết quả này tương tự

với nhiều nghiên cứu của các tác giả khác đều

cho thấy VPCĐ do cầu khuẩn Gr (+) S

pneumoniae 41,3%, K pneumoniae 11,4%, A

baumannii 10,7%, E coli 6,6% và P aeruginosa

6,3%(5) Tương tự, các tác nhân thường gặp nhất

là S pneumoniae 50,6%, sau đó là P aeruginosa

16%, A baumannii 14,8%, Enterobacteriaceae

11,1% và S aureus 7,4%(2) Sự khác biệt về tỉ lệ các chủng vi khuẩn gây bệnh giữa các nghiên cứu là

do đặc điểm bệnh lý, tình hình chống nhiễm khuẩn và sự phân bố chủng vi khuẩn tại mỗi nước, mỗi khu vực và mỗi bệnh viện phân lập được đều khác nhau

Sự đề kháng kháng sinh của vi khuẩn

Streptococcus pneumoniae

Trong nghiên cứu của chúng tôi, S

pneumoniae kháng PNC 66,7%, kháng AMP

75,8%, kháng ERY 94,3%, kháng CLI 71,4%, kháng TCY 83,9%, kháng thấp với CTX 35,4% và

CRO 26,7% Chúng tôi cũng ghi nhận S

pneumoniae kháng các kháng sinh nhóm

quinilone như kháng LVX 23,3%, kháng MXX

Trang 4

13,3% VAM và TGC không bị đề kháng (Bảng

2) Theo tác giả Lê Tiến Dũng, nhóm betalactam

bị đề kháng cao 70%, CLI 87%, AMP 75% Nhóm

macrolide bị đề kháng cao, AZT 82% Nhóm

cephalosporin bị đề kháng thấp, CRO 29%

Nhóm carbapenem không bị đề kháng, MEM

0% Nhóm aminoside bị đề kháng thấp, AMK

10% Nhóm quinolone ít bị đề kháng, CIP 37,5%,

LVX 20% VAM không bị đề kháng(2) Nghiên

cứu ANSORP (2005-2006) cho thấy tỉ lệ S

pneumoniae kháng PNC lên đến 50% và tại Việt

Nam đã có 17% giảm nhạy cảm với CRO và 32%

giảm nhạy cảm với IPM Đứng đầu khu vực

Châu Á Thái Bình Dương, Việt Nam có tỉ lệ S

pneumoniae kháng PNC 71% và kháng macrolide

92%(7,8) Nghiên cứu SOAR (2010-2011) cho thấy

tỉ lệ S pneumoniae đề kháng rất cao (>95%) đối

với các kháng sinh macrolid kể cả thê hệ cũ

(ERY) lẫn thế hệ mới (AZT), có một tỉ lệ đề

kháng đáng kể CLI (85%) Vi khuẩn cũng đề

kháng cao với các kháng sinh thông dụng trong

cộng đồng hiện nay là COT 91%, TCY 78,6%,

CXM 71,4%, CEC 87,6%, CHL 67,9% Kháng sinh

mà vi khuẩn chưa đề kháng là VAM, kháng thấp

với PEN 1%, AMC 0,3%, OFL 4,8%(4) Như vậy

kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy đã

gia tăng đề kháng của S pneumoniae với các

kháng sinh

Staphylococcus aureus

S aureus là cầu khuẩn Gr (+) gây VPCĐ nặng

trong nghiên cứu của chúng tôi và đề kháng với

hầu hết các kháng sinh, kháng PEN 100%, OXA

88,9%, GEN và CIP 87,5%, MXX 100%, IPM

83,3% Nhưng không đề kháng với VAM và

TGC (Bảng 2) Theo Lê Tiến Dũng, nhóm

betalactam bị đề kháng cao 83,5%, CLI 80%

Kháng 100% với macrolide, cephalosporin và

carbapenem như ERY, CRO, CAZ và MEM

Nhóm aminoside bị đề kháng thấp như AMK

17% Nhóm quinolone bị đề kháng cao như CIP

100%, LVX 50% VAM không bị đề kháng(2) Hầu

hết các nghiên cứu đều cho thấy S aureus còn

nhạy VAM 100%, là kháng sinh được xem là đặc

trị S aureus kháng methicillin, nhưng trong một

nghiên cứu trước đây của chúng tôi tỉ lệ S aureus kháng VAM là 14,3%(6) Một số nghiên

cứu ở nước ngoài cũng cho thấy S aureus (kể cả

các chủng kháng methicillin) vẫn còn nhạy với

VAM Tuy nhiên, theo một số báo cáo tỉ lệ S

aureus kháng methicillin đề kháng với VAM lên

đến 15-25% Gần đây đã xuất hiện nhiều chủng

S aureus có giảm độ nhạy với VAM (nồng độ ức

chế tối thiểu trong khoảng 8-16 mg/l) Một số

nghiên cứu cho thấy S aureus “có độ nhạy trung

gian với VAM” này đáp ứng kém với điều trị bằng VAM Trong năm 2002 các nhà nghiên cứu

ở Hoa Kỳ đã phân lập được 2 chủng S aureus đề

kháng hoàn toàn với VAM (một chủng có nồng

độ ức chế tối thiểu 32-64 mg/l và một chủng có nồng độ ức chế tối thiểu > 1000 mg/l) May mắn

là cho đến nay chưa thấy xuất hiện thêm những

chủng tụ cầu khuẩn tương tự Hiện tượng S

aureus đa kháng với cephalosporin thế hệ 3 được

quy cho là vì đã sử dụng quá nhiều kháng sinh nhóm này ngay từ khi mới nhập viện và đa số

các tác giả nước ngoài đều cho rằng, S aureus là

cầu khuẩn Gr (+) đứng đầu danh sách gây

VPTM, đặc biệt S aureus kháng methicillin

Pseudomonas aeruginosa

Trong nghiên cứu của chúng tôi, P

aeruginosa kháng với hầu hết các kháng sinh, tỉ lệ

kháng với PIP 46,1%, PIT 33,3%, AMK 35,7%, CAZ 30,4%, FEP 7,7% Kháng IPM 23,1% và

MEM 15,4% Không đề kháng COL (Bảng 2) Kết

quả này tương tự nghiên cứu của tác giả Lê Tiến Dũng năm 2017, nhóm betalactam bị đề kháng cao, AMP 75% PIT bị đề kháng thấp 23% Các cephalosporin bị đề kháng cao như CAZ 31%, CRO 66,7% Nhóm quinolone bị đề kháng khá cao như CIP 38,5 - 46,2%; LVX 31 - 38,5% Nhóm aminoside bị đề kháng khá thấp như AMK 23% Nhóm carbapenem bị đề kháng thấp như MEM 8% COL không bị đề kháng(2) Nhưng trong một nghiên cứu khác(1), tác giả đã cho thấy P

aeruginosae còn đề kháng tương đối ít với IPM

6-10% và AMK 15-20%, kháng TCC 18%, PIT không bị đề kháng Kháng thấp FEP 13%, kháng khá thấp CIP 12-15%, OFL 25%, LVX 17% Như

Trang 5

vậy, đã có sự gia tăng đề kháng với kháng sinh

một cách rõ rệt của loại vi khuẩn này

Acinetobacter baumannii

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ A

baumannii kháng gần như toàn bộ với các loại

kháng sinh, với cephalosporin thế hệ 3-4,

aminoside, và quinolone từ 40-70%, kháng PIP

50% và PIT 41,7% Tỉ lệ kháng với IPM 41,7%,

MEM khoảng 33,3% (Bảng 2) Tương tự kết quả

của tác giả Lê Tiến Dũng, nhóm betalactam bị đề

kháng cao, AMP 100%, PIT 50% Kháng cao

CRO 84%; CAZ 73%, AMK 45,5% Kháng CIP

50%, LVX 42% Kháng MEM 42% Không đề

kháng với COL Tuy nhiên, tác giả cho rằng, A

baumannii đã gia tăng đề kháng rất trầm trọng

Chỉ còn nhạy với COL và nhạy thấp với

carbapenem(1,2) Phù hợp với nhận định trong

hơn một thập niên gần đây, A baumannii ngày

càng chứng tỏ là một tác nhân hàng đầu gây

nhiễm khuẩn hô hấp Một số nghiên cứu cho

thấy A baumannii có tốc độ kháng thuốc nhanh

và mức độ kháng thuốc rất cao, một số chủng

kháng gần như toàn bộ các kháng sinh, thậm chí

kháng luôn cả colistin, chỉ nhạy với polymicin B

Nghiên cứu của tác giả Trần Văn Ngọc, A

baumannii đề kháng cao nhất với IPM 100% và

MEM 98%, LVX 98% và CIP 100% và CAZ 98%,

PIT 100% Đề kháng kháng sinh của A baumannii

đề kháng rất cao với nhóm carbapenem nhóm 2

như IPM và MEM (98%)(9)

Klebsiella pneumoniae

Trong nghiên của chúng tôi, tỉ lệ K

pneumoniae kháng với CTX 44,4%, CAZ và FEP

33,3% Kháng PIP 100%, PIT 77,8%, kháng

quinolone 37,5%, kháng với IPM khoảng 33,3%

Tuy nhiên còn nhạy với COL (Bảng 2) Tương tự

kết quả của tác giả Lê Tiến Dũng, nhóm

betalactam bị đề kháng cao, AMP 100%, PIT

40% Đề kháng cao với CRO 40%, CAZ 40% Đề

kháng khá thấp với MEM 20%, AMK 20%, CIP

20 - 40%, LVX 20% Vi khuẩn không đề kháng

với COL(2) Nếu xét riêng tại bệnh viện Thống

Nhất, kết quả này đáng ở mức báo động, nhóm

IPM có tốc độ gia tăng kháng thuốc rất cao, từ

0% (2005) tăng lên 33,3%, có thể do tần suất sử dụng loại kháng sinh này tại trong bệnh viện cao Đây là một vấn đề rất đáng quan tâm vì

trong tình hình hiện nay, K pneumoniae cùng với

E coli, A baumannii, P aeruginosa đã đề kháng

với nhiều loại kháng sinh qua cơ chế sinh men β-lactamase phổ rộng - ESBL Các kháng sinh được khuyến cáo sử dụng rất ít và IPM không còn là kháng sinh lựa chọn hàng đầu cho điều trị vì tỉ lệ

đề kháng đã khá cao

Escherichia coli

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi, E coli

kháng cephalosporin thế hệ 3-4 từ 25-42,8% và quinolone 33,3% Đề kháng carbapenem IPM

33,3%, MEM 25% Không kháng COL (Bảng 2)

Kết quả của Lê Tiến Dũng cho thấy nhóm betalactam bị đề kháng cao, AMP 100% PIT thấp 25% Đề kháng cao với CRO 50%, CAZ 50% Kháng thấp với MEM 25%, AMK 25% Đề kháng khá cao với CIP 25-50%, LVX 33% Vi khuẩn không đề kháng với COL(2) Nhìn chung,

tỉ lệ kháng thuốc của E coli trong nghiên cứu của

chúng tôi tương tự với kết quả của các nghiên cứu khác Tuy nhiên, sự gia tăng của các chủng

vi khuẩn sinh men beta lactamase phổ rộng (ESBL) nên có tính kháng thuốc cao và đa kháng Kết quả nghiên cứu của Phạm Hồng Nhung cho

thấy các chủng E coli còn nhạy cảm tốt với tất cả

các kháng sinh nhóm carbapenem và AMK hơn 80% Các kháng sinh quinolone, cephalosporin

đã bị đề kháng cao, trong đó khoảng 50% chủng sinh ESBL Dù tỉ lệ sinh ESBL cao nhưng các chủng này còn nhạy cảm tốt với carbapenem nên đây vẫn là ưu tiên lựa chọn cho điều trị(3)

KẾT LUẬN

Tác nhân gây VPCĐ là S pneumoniae 43,8%,

P aeruginosa 15,8%, A baumannii 12,5%, S aureus

10,4%, K pneumoniae 9,4% và E coli 8,3%

Các vi khuẩn gây viêm phổi rất đa dạng và

đề kháng kháng sinh cao

S pneumoniae kháng LVX %, MXX % Vi

khuẩn gây bệnh còn nhạy với VAM và COL

Trang 6

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Lê Tiến Dũng (2007) Ðặc điểm và sự đề kháng in-vitro vi khuẩn

gây viêm phổi tại BV Nguyễn Tri Phương 2006-2007 Y học TP

Hồ Chí Minh, 11(PB1):34- 39

2 Lê Tiến Dũng (2017) Viêm phổi cộng đồng: Đặc điểm vi khuẩn

và đề kháng kháng sinh in vitro tại Bệnh viện Đại học Y Dược

TP Hồ Chí Minh Thời sự y học, 68:64-9

3 Phạm Hồng Nhung và cs (2017) Mức độ nhạy cảm với kháng

sinh của các chủng vi khuẩn Gram âm phân lập được tại Khoa

Điều trị tích cực Bệnh viện Bạch Mai Tạp chí nghiên cứu y học,

109(4):4-8

4 Phạm Hùng Vân và cộng sự (2012) Tình hình đề kháng các

kháng sinh của S pneumoniae và H influenzae phân lập từ

nhiễm khuẩn hô hấp cấp Kết quả nghiên cứu đa trung tâm

thực hiện tại Việt Nam (SOAR) 2010 – 2011 Tạp Chí Y Học Thực

Hành, 12 (855):6-11

5 Phạm Hùng Vân, Trần Văn Ngọc và cs, (2017) Tác nhân vi sinh

gây viêm phổi cộng đồng phải nhập viện: Kết quả nghiên cứu REAL

2016-2017 Hội Hô hấp TP.HCM 2017

6 Phan Văn Tiếng, Ngô Thế Hoàng, và cs (2013) Sự đề kháng kháng sinh của vi khuẩn gây viêm phổi thở máy tại khoa Hồi

sức tích cực và chống độc bệnh viện đa khoa Bình Dương Y học

TP Hồ Chí Minh, 17(PB3):275-81

7 Song JH, et al (2005) Spread of drug-resistant Streptococcus pneumoniae in Asian countries: Asian Network for Surveillance

of Resistant Pathogens (ANSORP) Study Clin Infec Disea,

28:1206-11

8 Song JH, et al (2006) Global crisis of Pneumococcal resistance: alarm calls from the East, Drug Resistance in the 21 st Century

3 rd International Symposium on Antimicrobial Agents and Resistance, pp.53 - 67

9 Trần Văn Ngọc và cs (2017) Khảo sát sự đề kháng kháng sinh của Pseudomonas aeruginosa và Acinetobacter baumannii gây

viêm phổi bệnh viện Thời sự y học, 68:64-9

Ngày nhận bài báo: 15/05/2019 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 20/05/2019 Ngày bài báo được đăng: 02/07/2019

Ngày đăng: 16/01/2020, 00:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w