1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Cập nhật nguyên nhân, chẩn đoán và điều trị ho ra máu

14 137 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 356,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ho ra máu (HRM) là một biểu hiện triệu chứng cấp cứu thường gặp trên lâm sàng của nhiều bệnh lý hô hấp và tim mạch, và có thể gây tử vong, đặc biệt xảy ra trong các trường hợp HRM nặng, HRM tắc nghẽn nếu không xử trí cấp cứu kịp thời.

Trang 1

CẬP NHẬT NGUYÊN NHÂN, CHẨN ĐOÁN

VÀ ĐIỀU TRỊ HO RA MÁU

Ngô Thanh Bình*

ĐẠI CƯƠNG

Ho ra máu (HRM) là một biểu hiện triệu

chứng cấp cứu thường gặp trên lâm sàng của

nhiều bệnh lý hô hấp và tim mạch, và có thể gây

tử vong, đặc biệt xảy ra trong các trường hợp

HRM nặng, HRM tắc nghẽn nếu không xử trí

cấp cứu kịp thời Tỉ lệ HRM xảy ra tương đối

nhiều ở các bệnh nhân (BN) cấp cứu tại khoa hồi

sức cấp cứu ở các trung tâm, bệnh viện chuyên

ngành Lao và Bệnh phổi trên thế giới, và tại Việt

nam (3,8)-(9,12,31)-(33) Tại Viện lao và bệnh phổi Trung

ương trong 4 năm (1987 – 1994), tỉ lệ HRM chiếm

48% BN nhập khoa hồi sức cấp cứu Tại bệnh

viện Phạm Ngọc Thạch, trong 6 năm (1985-1990),

tỉ lệ HRM nhập viện chiếm trung bình 37,5%

trường hợp cấp cứu (12,25,32) Do đó, cần thiết phải

xác định nguyên nhân gây HRM, chẩn đoán sớm

và đánh giá đúng mức độ HRM để từ đó giúp

các bác sỹ lâm sàng có hướng xử trí cấp cứu và

điều trị nguyên nhân HRM kịp thời nhằm giảm

nguy cơ tử vong cho BN

ĐỊNH NGHĨA HO RA MÁU

Ho ra máu (HRM) là tình trạng ho khạc ra

máu từ đường hô hấp (bao gồm phổi, phế quản

gốc, mũi, hầu họng, thanh quản) và được tống

xuất ra ngoài qua đường miệng và/hoặc đường

mũi Đôi khi, máu chảy ra từ vùng mũi-hầu

được hít vào sau đó được ho khạc ra Do đó,

chảy máu xuất phát từ vùng trên thanh môn

(như mũi, hầu họng, hoặc thanh quản) cần được

khảo sát, không nên bị bỏ sót Tùy theo mức độ

máu thoát ra đường hô hấp, mà biểu hiện của

HRM có thể từ đàm vướng máu đỏ li ti cho đến

HRM đỏ tươi lượng nhiều HRM lượng nhiều

khi HRM > 100 – 600 ml máu/24 giờ, thường đe

dọa mạng sống của BN nên cần phải được đánh

giá và điều trị cấp cứu kịp thời Mặt khác, cần phân biệt HRM và ói ra máu BN có thể giúp xác định chính xác vị trí máu chảy ra là từ đường hô hấp hoặc từ đường tiêu hóa hoặc biểu hiện của máu chảy ra cũng có thể giúp phân biệt HRM và

ói ra máu (được trình bày chi tiết ở phần sau)(3,8,10,31)

CƠ CHẾ BỆNH SINH CỦA HO RA MÁU Các yếu tố nguy cơ gây HRM

Thường gặp do tình trạng viêm, nhiễm khuẩn ở phổi, làm tăng lượng máu tới phổi gây sung huyết Đây là yếu tố gây tổn thương, phá hủy hoặc tắc mạch máu làm cho mạch máu dễ

vỡ Tổn thương xơ sẹo ở phổi sẽ gây co kéo mô phổi dẫn đến dễ làm vỡ mạch máu và mao mạch Ngoài ra, ho nhiều, lao động nặng, gắng sức cũng là các yếu tố làm tăng đột ngột áp lực trong phế quản (PQ)-phổi làm cho dễ tổn thương vỡ mạch máu gây HRM Đôi khi, do thay đổi thời tiết (về nhiệt độ, khí áp, độ ẩm) cũng ảnh hưởng đến cơ chế vận mạch (co giãn mạch đột ngột) có liên quan đến HRM(12,31)

Cơ chế HRM HRM là máu được khạc ra có nguồn gốc từ đường hô hấp Đa số trường hợp máu chảy ra xuất phát từ tuần hoàn hệ thống (mạch máu PQ)

là nơi có áp lực cao, gây HRM đỏ tươi và có nguy

cơ HRM nhiều; cũng có thể máu chảy ra xuất phát từ hệ thống chức năng (nhánh động mạch phổi (ĐMP)) là nơi có áp lực thấp HRM thường

do một tổn thương cục bộ (như ung thư, viêm), nhưng cũng có thể lan tỏa (như phù phổi), hoặc toàn thân (như rối loạn đông máu) HRM có 3 cơ chế sau: (1) thứ nhất, do tổn thương làm loét, hoại tử, vỡ hoặc rò rỉ mạch máu như trong ung thư PQ-phổi xâm lấn làm cho mạch máu bị loét rồi vỡ mạch máu gây HRM; phình mạch

* Bộ môn Lao và Bệnh phổi - Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: TS Ngô Thanh Bình ĐT: 0908955945, Email: bsthanhbinh@yahoo.com

Trang 2

Rasmussen ở cạnh hang lao do thành mạch bị

chất hoại tử làm ăn mòn, rồi vỡ mạch máu vào

trong lòng hang lao gây HRM; hạch lao nhuyễn

hóa làm rò rỉ mạch máu ở gần hang lao gây

HRM; những trường hợp viêm nhiễm làm loét

thủng thành mạch, thường là vỡ loét động mạch

PQ (ĐMPQ); (2) thứ hai, rối loạn chức năng tuần

hoàn ĐMPQ có thể do phì đại, tăng sinh, tăng áp

lực ĐMPQ; tăng số lượng và đường kính các

nhánh nối của ĐMPQ và ĐMP; tăng các nhánh

nối khác (như nhánh nối giữa động mạch (ĐM)

và tĩnh mạch (TM) của PQ, giữa ĐMP và

TMPQ,…) cũng có thể hình thành nhiều đám rối

quanh PQ, các đoạn giãn TM, giả u mạch máu,…

Tăng tuần hoàn đến phổi gây sung huyết mạch

máu PQ-phổi gặp trong viêm phổi, áp xe phổi,

phù phổi Đây là hai cơ chế chính có thể phối

hợp xảy ra cùng lúc trên một BN (3) thứ ba,

hồng cầu thấm qua màng phế nang (PN)-mao

mạch do tăng áp lực thủy tĩnh (gặp trong phù

phổi cấp) hoặc do thay đổi tính thấm của màng

PN-mao mạch (gặp trong xuất huyết PN của hội

chứng Goodpasture) Ngoài ra, rối loạn tính

thấm thành mạch do dị ứng nhưng chưa có bằng

chứng rõ ràng nên ít có tính thuyết phục Tăng

áp lực ĐMPQ cũng là yếu tố nguy cơ quan trọng

gây HRM nhưng vấn đề này chưa được NC đầy

đủ Sự phì đại quá mức của ĐMPQ thường là

hậu quả của một quá trình viêm phổi mãn tính

Ở các vị trí viêm nhiễm, PQ và nhu mô phổi

(NMP) nhận nguồn cung cấp máu từ ĐMPQ

hơn là từ ĐMP Ở nhiều BN mắc bệnh phổi cấp

và mãn tính, có tuần hoàn phổi bị suy giảm hoặc

tắc nghẽn ở mức độ tiểu ĐMP do hiện tượng co

mạch, viêm mạch máu, và huyết khối nội mạch

Tình trạng viêm mãn tính và tăng lượng máu

đến gây ra giãn phình ĐMPQ và tăng sinh thêm

tuần hoàn bàng hệ từ các ĐM khác trong lồng

ngực để thay thế cho tuần hoàn phổi Tắc nghẽn

ĐMP có thể dẫn đến giãn ĐMPQ và các ĐM phụ

cận do hình thành thông nối (shunt) hệ thống

chủ-phổi Ở những vùng viêm cấp hay mãn, các

mạch máu PQ phì đại có thành mỏng hơn, tính

thấm thành mạch thay đổi và có thể vỡ khi bị

nhiễm vi khuẩn gây ăn mòn hoặc do tăng áp lực máu tại chỗ Sau khi vỡ mạch máu, máu từ ĐM

sẽ chảy vào cây khí-PQ gây HRM Chảy máu xuất phát từ ĐMPQ thường gây ra HRM lượng nhiều do có áp lực thẩm thấu mạnh hơn các ĐMP Do đó, HRM do chảy máu xuất phát từ ĐMPQ thường là HRM nặng và đe dọa mạng sống Chẳng hạn, ở BN giãn PQ có mạch máu thường xuyên bị xoắn và dễ vỡ Trong một số bệnh lý của phổi như lao phổi, nung mủ PQ-phổi, giãn PQ, xẹp PQ-phổi, ung thư PQ-phổi,… NMP được tăng tưới máu do tăng sinh các ĐMPQ Các

ĐM này có đường kính lớn hơn gấp nhiều lần so với bình thường, chạy ngoằn ngoèo nối thông với các ĐM liên sườn, phát triển hình thành các shunt giữa hệ mạch máu PQ với hệ mạch máu phổi Các shunt PQ-phổi bất thường này xảy ra trong NMP bị viêm mãn, từ đó làm tăng lưu lượng máu và tăng áp lực trong mô viêm, dẫn đến dễ vỡ mạch máu gây HRM Ngoài ra, ở BN lao phổi, thường có biểu hiện dính màng phổi (MP) tạng với MP thành (chủ yếu ở vùng đỉnh phổi) tạo nên shunt tuần hoàn thành ngực-vùng

cổ với tuần hoàn phổi-MP là nguyên nhân gây HRM nhiều và dai dẳng (3,8)-(9,12,14,31)-(33)

Các tai biến và biến chứng của HRM(8,12,31,32)

Tử vong

Là tai biến thường gặp nhất trong HRM sét đánh

do vỡ một mạch máu lớn gây mất một lượng máu lớn, nhanh và gây tắc nghẽn đường thở đột ngột; hoặc trong HRM tắc nghẽn gây ngạt thở do máu chảy ra đông lại ngay gây bít tắc đường dẫn khí (ĐDK)

Trụy tim mạch

Là tai biến trong những trường hợp HRM trung bình trở lên, biểu hiện khó thở, nhịp tim nhanh, xanh tái, tụt huyết áp

Thiếu máu

Gặp trong HRM nặng, hoặc HRM dai dẳng, lâu ngày

Bội nhiễm phổi, viêm phổi

Xảy ra sau HRM

Trang 3

Xẹp phổi

Thường do cục máu đông, nút đàm gây bít

tắc một nhánh PQ, biểu hiện bằng cơn đau ngực

đột ngột, khó thở, tím tái Trên X-quang phổi có

một bóng mờ hình tam giác, đỉnh hướng vào rốn

phổi Sau vài ngày, hình ảnh xẹp phổi biến mất

do cục máu đông hoặc nút đàm tiêu dần, hoặc

được tống xuất ra ngoài

Hình ảnh kê trên X-quang sau vài ngày HRM

Đó là các hình hạt kê nhỏ li ti tập trung chủ

yếu ở vùng rốn phổi Hình ảnh này vài ngày sau

sẽ biến mất

Lan tràn vi khuẩn lao ra cộng đồng do HRM

NGUYÊN NHÂN HO RA MÁU

Có nhiều nguyên nhân gây HRM, bao gồm

những bệnh lý của ĐDK và NMP Các bệnh

viêm nhiễm (như viêm PQ và giãn PQ) và u tân

sinh là nguyên nhân gây HRM thường gặp nhất

xuất phát từ ĐDK Những bệnh NMP thường

gặp gây HRM là do nhiễm trùng như lao phổi,

viêm phổi, nấm Aspergilllus, hoặc áp xe phổi

Ngoài ra, các bệnh lý viêm có ảnh hưởng đến

phổi như bệnh u hạt Wegner hoặc hội chứng

Goodpasture cũng là những nguyên nhân quan

trọng gây HRM Các bệnh về mạch máu gồm cả

thuyên tắc phổi, dị dạng động-tĩnh mạch, hẹp

hai lá Đôi khi, một số HRM không rõ nguyên

nhân như HRM sau sinh thiết phổi hoặc HRM

khi hóa trị liệu trong ghép tủy xương gợi ý đến

xuất huyết PN khuếch tán(1,3,4,8,10,12,14,21,22,29,33) Tóm

lại, nguyên nhân gây HRM có thể được trình bày

như sau:

Bệnh lý nhiễm trùng

Lao phổi, viêm phổi, nấm phổi Aspergilllus,

áp xe phổi, viêm phổi hoại tử, bệnh phổi do ký

sinh trùng

Bệnh lý u tân sinh

Carcinôm PQ, sarcôm, u carcinoid PQ, ung

thư di căn phổi (rất hiếm gặp)

Rối loạn cấu trúc NMP

Giãn PQ, xơ nang phổi, bệnh bụi phổi, khí

phế thủng

Rối loạn tim mạch Thuyên tắc phổi, nhồi máu phổi, phù phổi, sung huyết phổi (tăng áp phổi), dị dạng mạch PQ, hẹp hai lá, suy tim trái, dò mạch máu-đường thở, dị dạng động-tĩnh mạch, và viêm mạch máu (gặp trong hội chứng Goodpasture, u hạt Wegner, lupus đỏ hệ thống, bệnh Bechet) Rối loại huyết học

Rối loạn đông máu (bẩm sinh và mắc phải), bệnh lý tiểu cầu, ung thư máu

Do chấn thương

Dị vật đường thở, các thủ thuật xuyên thành ngực, chấn thương ngực nặng, vết loét khí

quản-PQ, sau phẫu thuật cắt phổi, cắt thùy phổi, vỡ ĐMP, các thủ thuật thực hiện qua nội khí quản, NSPQ kèm sinh thiết, hoại tử lớp niêm mạc của cây khí-PQ do hít khói thuốc lá, khí độc

Do thuốc và độc chất Thuốc kháng đông, thuốc tiêu huyết khối, penicillamine, trimellitic anhydride, các dung môi,

Các nguyên nhân khác Bệnh lý sỏi PQ, lạc nội mạc tử cung, bệnh lý

do dị nguyên, bệnh tự miễn, bệnh lý u mỡ mạch máu-mạch bạch huyết Ngoài ra, có 10% trường hợp HRM, sau làm đủ các xét nghiệm thăm dò vẫn không xác định được nguyên nhân

* Biểu hiện ho ra máu trong những nguyên nhân thường gặp nhất

Lao phổi:HRM trong lao phổi là hậu quả của quá trình viêm, loét và hoại tử liên tục hoặc của giãn PQ Nguồn gốc chảy máu thường gặp nhất

là trong các hang lao hoạt động Nhưng hiện nay, viêm phổi lao là nguyên nhân gây HRM thường gặp hơn là hang lao hoạt động Mặc dù, tần suất mắc bệnh lao đang gia tăng nhưng nhờ

có điều trị thuốc kháng lao hiệu quả nên HRM cũng giảm đi Ở Việt Nam, lao phổi là nguyên nhân chính gây HRM, chiếm 83,24% trong các bệnh phổi; 80,54% do các nguyên nhân, và

Trang 4

43,46% BN vào cấp cứu hô hấp (Hoàng Minh,

1990) HRM có thể là do tổn thương lao phổi tiến

triển nhưng thường là do đợt bội nhiễm của lao

phổi cũ Lao phổi có thể gây HRM qua nhiều cơ

chế Lao phổi có hang hoặc không có hang đều

có thể gây ra HRM từ nhẹ đến nặng Hầu hết các

BN này cho kết quả soi AFB/đàm dương tính

Lao phổi đang hoạt động có thể vỡ phình mạch

Rasmussen đột ngột gây HRM, là do chứng

phình mạch Rasmussen được tạo ra do thành

ngoài mạch máu của ĐMP có kích thước nhỏ

hoặc trung bình bị ăn mòn các chất bã đậu, rồi

vỡ vào hang lao kế bên gây HRM Có một điều

được đặt ra là phình mạch Rasmussen có xuất

phát từ ĐMPQ hay không? Trong các di chứng

lao phổi cũ như xơ hóa mô phổi lan rộng, hoặc

giãn PQ sau lao có thể gây HRM dai dẳng và khó

chịu Ngoài ra, HRM có thể do u nấm phát triển

trong các hang lao phổi cũ hoặc ít gặp hơn là

carcinoma hình thành từ vị trí tổn thương lao

phổi cũ Khoảng 1/3 số BN bị lao phổi sẽ HRM ở

các giai đoạn bệnh khác nhau, nhưng nói chung

tỉ lệ HRM là 8% Mặc khác, tuần hoàn phổi ở

những vùng có liên quan với tổn thương lao

phổi bị suy giảm do hiện tượng xơ hóa, nghẽn

mạch máu, viêm nội mạc huyết khối hay phá

hủy mạch máu Sự suy giảm tuần hoàn phổi tạo

điều kiện hình thành các nhánh mạch máu thông

nốt PQ-phổi trên mao mạch và tạo ra một vòng

tuần hoàn PQ dồi dào Có lẽ HRM thường gặp

hơn ở các trường hợp lao phổi kèm tồn tại khí

cặn, giãn PQ do dòng máu PQ liên tục và nhiều

ĐMPQ là nguồn gốc chính gây HRM, nó xảy ra

thứ phát sau khi vỡ các mạch máu nhỏ hoặc do

thấm máu qua mô viêm “Hội chứng thùy giữa

phổi phải” thường có liên quan đến HRM Hội

chứng này là do tắc nghẽn một phần hoặc toàn

bộ PQ thùy giữa phải dẫn đến xẹp phổi và/hoặc

viêm thùy giữa phổi phải Sự tắc nghẽn này

thường được gây ra do quá trình làm sẹo

và/hoặc quá trình viêm nhiều hơn là do chèn ép

cơ học bởi hạch lympho phì đại Nguyên nhân

thường do nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn này có

thể do lao

Ung thư phế quản-phổi: thường gây HRM nhẹ, chỉ có lẫn ít máu trong đàm, thường lặp đi lặp lại và dai dẳng Tuy nhiên, cũng có những trường hợp HRM nặng ngay từ đầu, xảy ra ở BN

có khối u phổi lớn, nằm ở trung tâm, và nhất là loại carcinoma tế bào gai Nguy cơ HRM do ung thư PQ-phổi ở người hút thuốc lá gia tăng rất nhiều BN thường có biểu hiện ho khan và đau tức ngực trước khi HRM Khi HRM xảy ra chứng

tỏ ung thư đã xâm lấn ĐDK Phần lớn HRM là hậu quả của quá trình loét gây ra do ung thư lan rộng; đôi khi do viêm phổi hoặc do áp xe phổi xảy ra ngay sau khối u gây tắc nghẽn HRM rất hiếm xảy ra ở ung thư di căn phổi, ngoại trừ những ung thư gây tăng sinh mạch máu như ung thư thận, đại tràng Không chỉ ung thư ác tính mà các u phổi lành tính cũng có thể gây HRM nhưng hiếm gặp như u mạch máu Carcinoid PQ thường gặp ở người trẻ và gây HRM nặng nhưng khó chẩn đoán được Theo Meyer và Chiétien, HRM do ung thư PQ-phổi chiếm khoảng 5% Hiện nay, ở các nước phương Tây, tỉ lệ này đã thay đổi do ung thư PQ-phổi ngày càng tăng lên so với các nhiễm khuẩn phổi

Ở Việt Nam, HRM do ung thư PQ-phổi đứng hàng thứ ba (sau lao phổi và giãn PQ) chiếm 2,68% (Hoàng Minh, 1990) Tuy nhiên, theo NC của Nguyễn Đình Kim (1990), ung thư PQ-phổi gây HRM chiếm 30,6% HRM có thể gặp trong bất kỳ dạng tế bào ung thư PQ-phổi như dạng tế bào nhỏ, tế bào lớn (6,7%), dạng tế bào biểu mô (75%), dạng tế bào tuyến (20%)

Giãn phế quản: thường gây HRM, vị trí chảy máu xuất phát từ các ĐMPQ Máu chảy ra thường kèm sủi bọt Phần lớn HRM tự ngưng tạm thời, có xu hướng tái phát nhiều lần và có thể gây HRM đe dọa mạng sống Theo Meyer & Chiétien, HRM do giãn PQ chiếm 6,8% Trong khi, ở Việt nam, giãn PQ là nguyên nhân thứ hai gây HRM sau lao phổi, chiếm 9,55% (Hoàng Minh 1990) HRM thường xảy ra trong giãn PQ dạng khô, có bội nhiễm Chẩn đoán xác định giãn PQ thông qua CT scan, hoặc chụp PQ cản quang cho thấy hình ảnh PQ có thể giãn hình

Trang 5

ống, hình túi, hình chùy, hoặc hình chuỗi (chuỗi

hạt, chùm nho) Tình trạng viêm mạn tính trong

giãn PQ có thể là nguyên nhân gây phì đại,

ngoằn ngoèo các ĐMPQ kèm theo sự tăng sinh

của các mạch máu dưới niêm mạc và cận PQ

Vòng tuần hoàn này được chi phối bởi huyết áp

hệ thống nên nếu vỡ các hệ thống ngoằn ngoèo

hoặc mạng lưới mao mạch đều gây xuất huyết

nhanh chóng Giãn PQ có thể là hậu quả của

nhiễm khuẩn, nhiễm virus, xơ nang, lao phổi,

suy giảm miễn dịch hay tổn thương hệ thống

lông chuyển (bất thường lông chuyển trong hội

chứng Young hay Kartagener)

Các bệnh lý nhiễm trùng phế quản-phổi:

HRM có thể đi kèm với một tình trạng nhiễm

trùng nặng xảy ra ở bất cứ vị trí nào của đường

hô hấp HRM ít xảy ra trong những BN viêm

phổi do vi khuẩn thường hoặc siêu vi Ngược lại,

HRM thường gặp ở những viêm phổi là biến

chứng của ung thư PQ-phổi hoặc viêm phổi do

staphylococci, influenza virus, hoặc klebsiella Viêm

phổi thùy do phế cầu thường khạc đàm có màu

rỉ sắt nhưng thỉnh thoảng có khạc đàm vướng ít

máu li ti Viêm phổi do staphylococcus thường ho

khạc ra mủ lẫn máu Viêm phổi do Klebsiella

thường ho khạc đàm giống như thạch lý chua

(thạch nho Hy lạp) HRM kèm sủi bọt thường

gặp trong áp xe phổi, máu được pha trộn với

một lượng lớn mủ hôi Trong viêm phổi hoại tử,

HRM thường kèm mô phổi hoại tử Các bệnh

nhiễm trùng PQ-phổi, đặc biệt là áp xe phổi,

HRM có thể cấp tính do hoại tử mô phổi hay do

vỡ các ĐMPQ phì đại trong vùng bị viêm Ngoài

ra, ở các nước kém phát triển hoặc đang phát

triển, nhiễm ký sinh trùng phổi cũng là bệnh lý

thường gặp của HRM, đặc biệt là nhiễm

Paragonimias ở vùng Đông Nam Á Nhiễm

Leptospirae nặng có thể bị HRM và xuất huyết

PN HRM có thể gặp trong áp xe phổi do amíp,

khạc đàm giống màu sôcôla (giống như chất

dịch cá trống)

Nấm phổi: Nhiễm nấm phổi thường gặp gây

HRM nhất là dạng U nấm, chủ yếu phát triển

trong hang lao đã lành, hoặc các vùng giãn PQ

gây ra HRM nặng (chiếm 50,9%) Ngoài ra, có thể gặp nhiễm nấm trong các xơ nang của bệnh sarcoidosis Tác nhân thường gặp là nấm

Aspergillus fumigatus, kế đến nhiễm nấm Mucor ít

gặp hơn Hai loại nấm trên xâm lấn vào NMP và

có thể gây HRM, đặc biệt là xâm lấn vào mạch máu Nhồi máu phổi kèm theo có thể làm tăng thêm nguy cơ chảy máu từ nhiễm trùng hoại tử Chẩn đoán xác định dựa vào nhuộm soi tươi, cấy nấm từ bệnh phẩm lấy từ PQ-phổi, hoặc bằng huyết thanh chẩn đoán, hoặc bằng điện di miễn dịch cho kết quả là những cung kết tủa với

kháng nguyên của Aspergillus fumigatus

Bệnh lý tim mạch: trong sung huyết phổi mãn tính, thứ phát sau suy thất trái hoặc hẹp hai lá, trong đàm có các đại thực bào PN chứa nhiều hemosiderin (“những tế bào của suy tim”) Trong trường hợp sung huyết và phù phổi trầm trọng, đàm thường có bọt hồng HRM có thể xảy ra ở BN thuyên tắc ĐMP do huyết khối khi có xuất hiện đồng thời nhồi máu phổi, thường kèm theo đau ngực kiểu

MP và tràn dịch MP lượng ít vì vị trí nhồi máu phổi nằm ở ngoại vi phổi Đôi khi, hẹp hai lá nặng có biểu hiện đầu tiên là một đợt HRM đỏ tươi kèm sủi bọt và rất khó kiểm soát tình trạng HRM Nguồn gốc chảy máu là do những TMPQ dưới niêm mạc tăng sinh đáng kể trong bệnh lý này HRM nhiều do hẹp hai lá là một cấp cứu cần can thiệp bằng phẫu thuật ngay

để làm giảm sự tắc nghẽn tại van hai lá HRM

do các bệnh lý tim mạch khác thì ít gặp hơn Thỉnh thoảng, phình ĐM chủ vỡ vào cây

khí-PQ gây tử vong ngay do mất máu rất nhiều và tắc nghẽn đường thở lập tức Dò động-tĩnh mạch với ĐDK nhỏ cũng có thể gây HRM nhưng rất khó phát hiện

PHÂN LOẠI MỨC ĐỘ HO RA MÁU Theo mức độ HRM: có 4 mức độ:

Mức độ nhẹ

Thường là ho đàm vướng ít máu cho đến HRM < 50ml máu/24 giờ Các trường hợp này ít được lưu ý cũng như không đặt vấn đề cấp cứu

Trang 6

hồi sức ngay nhưng cần phải theo dõi sát, cẩn

thận trong chẩn đoán nguyên nhân, tránh bỏ sót

ung thư PQ(3,8,9,12,14,15,31,33)

Mức độ trung bình

HRM từ 50-200 ml máu/24 giờ, thường có

dấu hiệu tiền triệu, vã mồ hôi, nhịp tim nhanh

nhưng không choáng Cần được cầm máu cấp

cứu do có nguy cơ chuyển sang HRM nặng

Mức độ nặng

Là một tình trạng khẩn cấp, HRM thường

đột ngột, nhưng đôi khi bắt đầu bằng HRM

nhẹ hoặc trung bình, có thể kèm tụt huyết áp

hay choáng thực sự BN HRM nặng khi có một

trong các biểu hiện sau: HRM > 500 ml máu

trong một lần ho khạc; hoặc > 150 ml máu/1

giờ; hoặc > 600 ml máu/24 – 48 giờ; hoặc HRM

> 200ml máu/24 giờ; hoặc HRM từ 150 ml/24

giờ trở lên trong 2-3 ngày liên tiếp trở lên;

hoặc > 1.000 ml máu trong nhiều ngày; hoặc

HRM kéo dài trên 15 ngày, gây mất máu đáng

kể làm số lượng hồng cầu giảm xuống <

2.000.000/mm3, hematocrit < 20%; hoặc HRM

trung bình xảy ra ở BN suy kiệt, có thai, có

bệnh nặng khác kèm theo, nhất là có SHH

mạn tính

Mức độ rất nặng

Là những BN HRM sét đánh, HRM tắc

nghẽn (lượng máu mất > 1.000 ml/24 giờ) Hầu

hết BN tử vong ngay trong vòng vài phút do

ngạt thở vì ngập máu trong đường thở, và trụy

tim mạch

Đánh giá HRM mức độ nặng và rất nặng:

tùy thuộc vào

Thể tích máu được ho ra nhiều

Có nhiều cách đánh giá khác nhau tùy theo

từng NC, có tác giả cho rằng HRM nặng nếu

lượng máu mất > 100 ml; theo Stain J.P (1971) là

> 200 ml; theo Chrétien J.B (1973) là > 300 ml;

theo Duroux P (1978) là > 500 ml; theo Tisi G.M.,

Braunwald E (1987), và Shapiro S.D., Campbell

E.J (1989) là > 600 ml Ở Việt Nam, theo Hoàng

Minh (1990) là > 200 ml/24 giờ

Tốc độ HRM nhiều

Nếu HRM khoảng 600 ml trong 48 giờ thì

tỉ lệ tử vong là 37%, nhưng cũng cùng thể tích như vậy xảy ra trong 16 giờ thì tỉ lệ tử vong tăng lên đến 75% (Duroux P., 1978) Ở Việt Nam, HRM tối thiểu từ 150 ml trong 2-3 ngày liên tiếp trở lên

Thời gian HRM dai dẳng

HRM được xem là nặng nếu HRM tái diễn liên tục (trên 15 ngày) với lượng máu chảy ra đáng kể làm số lượng hồng cầu giảm xuống dưới 2.000.000/mm3, Hct dưới 20%

Mức độ HRM ảnh hưởng đến thông khí

HRM được xem là nặng nếu HRM gây tắc nghẽn các PN, ĐDK làm cản trở lưu thông khí và trao đổi khí cho dù khi đó lượng máu chảy ra không nhiều

Tình trạng toàn thân ở BN HRM

HRM được xem là nặng nếu HRM trung bình nhưng xảy ra ở người suy nhược, suy kiệt,

có thai, hoặc có bệnh quan trọng khác kèm theo như suy tim, suy gan và nhất là có SHH mãn tính, nhiễm khuẩn, bội nhiễm PQ

Theo hướng chẩn đoán nguyên nhân: chia thành 2 loại

HRM triệu chứng (báo hiệu)

Thường là HRM mức độ ít, không đặt ra yêu cầu hồi sức cấp cứu nhưng phải chẩn đoán sớm bệnh

HRM bệnh lý

HRM được xem là biến chứng hay di chứng của một bệnh đã biết, cần phải xử trí cấp cứu kịp thời, nhất là khi HRM nặng có kèm SHH mạn, song song với điều trị nguyên nhân

CHẨN ĐOÁN XÁC ĐỊNH HO RA MÁU Đánh giá HRM cần hỏi bệnh cẩn thận, khám lâm sàng, X-quang phổi, công thức máu toàn bộ

và các xét nghiệm đông máu

Hỏi bệnh Khai thác bệnh sử, tiền sử, tính chất và đặc

Trang 7

điểm của HRM rất quan trọng Các triệu chứng

báo hiệu như trước khi HRM là BN cảm thấy

khó chịu, hồi hộp, cảm giác nóng ran sau xương

ức, khò khè ngứa cổ họng, lợm giọng, cảm thấy

có vị máu trong họng, miệng Sau đó, ho, khạc,

trào, ộc từ trong miệng (mũi) ra ngoài màu máu

đỏ tươi, kèm bọt khí, pH kiềm, không lẫn thức

ăn, có thể lẫn với đàm (là dấu hiệu cho biết máu

chảy ra từ PQ) Máu chảy ra trong vài ngày rồi

bớt dần và ngừng hẳn Trong những ngày sau có

đuôi khái huyết (nếu HRM từ phổi) là hiện

tượng ho khạc ra máu cũ (nâu đen) kéo dài vài

ngày sau khi ngưng chảy máu, đây là dấu hiệu

kết thúc HRM Nếu chảy máu ra từ PQ thì

không có hiện tượng này(8,10,12,14,31,32) Khai thác

bệnh sử của HRM có thể gợi ý đến nguyên nhân

gây HRM Chẳng hạn, ho khạc đàm vướng máu

hoặc lẫn trong đàm mủ gợi ý đến viêm PQ Sốt

ớn lạnh kèm ho khạc đàm mủ vướng máu gợi ý

đến viêm phổi, trừ khi có khạc đàm có mùi hôi

thúi gợi ý đến áp xe phổi Khạc đàm mủ nhày

nhiều, kéo dài gợi ý đến giãn PQ Nếu HRM

theo sau dấu hiệu đau ngực kiểu MP và khó thở

gợi ý đến thuyên tắc phổi (8,31) Nên tiến hành

khai thác tiền căn bệnh lý trước đây hoặc đang

tồn tại như bệnh thận (trong hội chứng

Goodpasture, u hạt Wegener), lupus ban đỏ (liên

quan đến xuất huyết phổi từ viêm phổi do

lupus), hoặc một bệnh lý ác tính (ung thư phổi

tái phát cũng như ung thư di căn nội PQ từ ung

thư nguyên phát ngoài phổi) hoặc điều trị bệnh

lý ác tính (với hóa trị hiện tại hoặc một biện pháp

ghép tủy xương) Ở BN AIDS, cần chú ý đến

Kaposi’s sarcoma ở NMP hoặc nội PQ Khai thác

các nguy cơ gây ung thư PQ-phổi, đặc biệt là hút

thuốc lá, nhiễm bụi amiăng (abestose) Khai thác

tiền căn rối loạn đông máu, điều trị thuốc kháng

đông, hoặc dùng các thuốc liên quan đến bệnh

giảm tiểu cầu(8,10,31)

Khám lâm sàng

Cần phân biệt HRM và nôn ra máu HRM

được đặc trưng bởi ho khạc đàm lẫn máu hoặc

máu đỏ tươi, có kèm sủi bọt, và có pH kiềm

Ngược lại, nôn ra máu xuất phát từ đường tiêu

hoá, thường kèm nôn và buồn nôn, máu thường

có màu đen, lẫn thức ăn và có pH acid khi thử bằng giấy quì Cần loại trừ các nguyên nhân chảy máu từ đường tiêu hóa (như chảy máu từ viêm loét dạ dày tá tràng, chảy máu do giãn TM thực quản do tăng áp lực TM cửa, chảy máu do bệnh lý gan-mật, …) Ngoài ra, cần phân biệt với chảy máu cam Chảy máu cam thường do viêm, chấn thương vùng mũi họng, có thể được xác định bằng nội soi mũi trước và thăm khám vùng hầu họng Xác định vị trí chảy máu trong nhiều trường hợp rất khó khăn, nhất là khi BN hít hoặc nuốt phải máu chảy ra đều làm cho bác sỹ lâm sàng bối rối trong việc xác định vị trí chảy máu Trong một NC cho thấy có 43% HRM được bác

sỹ lâm sàng xác định chính xác được vị trí chảy máu qua thăm khám, trong khi vẫn còn 25% HRM chưa được xác định rõ về vị trí chảy máu Tuy nhiên, trong nhiều HRM lại được BN giúp xác định khá chính xác vị trí chảy máu (chiếm 50%) Do đó, đối với tất cả BN HRM nên được hỏi về vị trí chảy máu Mặc khác, đánh giá mức

độ máu mất là rất cần thiết (xem phần Phân loại mức độ HRM) vì có liên quan đến điều trị cấp

cứu, kịp thời, nhất là những BN HRM từ trung bình trở lên Lưu ý, có thể có sai lệch trong việc đánh giá lượng máu mất, chẳng hạn lượng máu mất được cho là nhiều hơn do tăng nước bọt, bọt máu hoặc giảm đi do một phần máu chảy ra được nuốt vào dạ dày hoặc lắng động trong phổi Khám thực thể có thể nghe thấy ran ngáy, ran nổ ở phổi(8,10,12,14,31,32)

Thăm khám lâm sàng có thể phát hiện các triệu chứng gợi ý quan trọng giúp chẩn đoán Chẳng hạn, nghe phổi có tiếng cọ MP (thuyên tắc phổi), tiếng ran nổ khu trú hoặc lan tỏa (xuất huyết NMP hoặc một bệnh lý NMP cơ bản liên quan đến xuất huyết), bằng chứng hạn chế luồng dẫn khí (viêm PQ mãn), hoặc ran ngáy, có hay không có khò khè hoặc ran ẩm (giãn PQ) Khám tim có thể phát hiện dấu hiệu của tăng áp ÐMP, hẹp hai lá, hoặc suy tim Khám da niêm phát hiện dấu hiệu của Kaposi’s sarcoma, dị dạng động-tĩnh mạch của bệnh Osler-Rendu-Weber,

Trang 8

hoặc những sang thương gợi ý đến bệnh lupus

ban đỏ hệ thống Mặt khác, tiến hành khám lâm

sàng toàn diện như đánh giá dấu hiệu sinh tồn,

tình trạng toàn thân, sinh lý (tuổi, có thai,…) và

những bệnh kèm theo Ngoài ra, cần chú ý đến

nhiễm khuẩn, bội nhiễm ở phổi, vị trí chảy máu,

mức độ nặng của HRM có kèm SHH mạn tính

không Trong HRM, xác định SHH mãn kèm

theo là rất khó vì HRM cũng có thể gây tắc

nghẽn, hẹp ĐDK dẫn đến thiếu oxy, khó thở, ứ

đọng máu ở phổi-PQ SHH mãn là một biểu hiện

nặng, không những làm suy yếu toàn thân mà

còn gây rất nhiều khó khăn cho điều trị trong hỗ

trợ hô hấp, dùng thuốc cắt cơn ho, thuốc an thần,

đông miên, thuốc có chứa thuốc phiện,

Xét nghiệm cận lâm sàng

Các xét nghiệm máu

Các xét nghiệm máu cần thiết như số lượng

hồng cầu, hemoglobin (Hb), hematocrit (Hct), số

lượng bạch cầu, công thức bạch cầu, nhóm máu,

xét nghiệm đông máu toàn bộ (thời gian máu

đông, thời gian máu chảy, số lượng tiểu cầu,

prothrombine, fibrinogen) và điện giải đồ Các

xét nghiệm khác có thể làm khi cần như đo khí

máu ĐM và thăng bằng kiềm-toan (để đánh giá

tình trạng CNHH) Ngoài ra, cần làm xét nghiệm

chức năng thận và xét nghiệm nước tiểu (để loại

trừ hội chứng phổi-thận như viêm mạch máu,

hội chứng Goodpasture hay u hạt

Wegener)(3,8,10,12,14,31,32)

Hình ảnh học

Các xét nghiệm hình ảnh học giúp chẩn đoán

nguyên nhân gây HRM gồm X-quang phổi qui

ước, CT scan ngực, chụp hình ĐMPQ có cản

quang (DSA PQ) Ở BN HRM, chẩn đoán phải

vừa xác định nguyên nhân gây HRM, vừa xác

định vị trí thùy phổi bị tổn thương Xác định vị

trí chảy máu trước khi thực hiện kỹ thuật thuyên

tắc ĐMPQ (BAE) là rất quan trọng X-quang

phổi qui ước là một xét nghiệm cơ bản đầu tiên

và phải luôn có sẵn ngay cả khi cấp cứu

X-quang phổi có vai trò quan trọng trong chẩn

đoán các bệnh lý phổi (như viêm phổi, lao phổi,

áp xe phổi, ung thư PQ-phổi), và trong xác định nguồn gốc chảy máu nếu có khối u ở phổi, tổn thương dạng hang hoặc xuất huyết PN Tuy nhiên, 17 - 81% BN HRM có X-quang phổi bình thường hoặc không xác định được vị trí chảy máu Ngoài ra, X-quang phổi có thể phát hiện hậu quả của HRM như xẹp một thùy hoặc phân thùy do bị bít tắc bởi cục máu đông, hoặc hình ảnh các hạt lấm tấm do một số PN ngập máu Mặt khác, CT scan ngực cũng có vai trò quan trọng trong đánh giá BN HRM như giúp chẩn

đoán giãn PQ, ung thư PQ, u nấm Aspergillus, và

có thể định vị các tổn thương không thấy được trên X-quang phổi Đồng thời, CT scan ngực có cản quang có thể phát hiện tổn thương mạch máu gây HRM (như phình mạch máu, dị dạng động-tĩnh mạch) Chẳng hạn, CT scan ngực có thể giúp chẩn đoán cho 50% HRM mà NSPQ ống mềm không xác định được và 39 - 88% HRM mà X-quang phổi không chẩn đoán được CT scan ngực cũng giúp xác định vị trí chảy máu (từ 63-100%), nhiều hơn so với NSPQ ống mềm Nếu kết hợp CT scan ngực và NSPQ ống mềm sẽ giúp xác định chẩn đoán HRM với tỉ lệ cao nhất Nên thực hiện CT scan ngực trước khi NSPQ ống mềm CT scan ngực có cản quang có thể giúp phát hiện các mạch máu PQ, đặc biệt trong những trường hợp HRM nhiều, với độ chính xác lên đến 84% Mặt khác, chụp ĐMPQ và các nhánh ĐM chủ (theo tiêu chuẩn và có chọn lọc)

có giá trị cao trong định vị chỗ chảy máu và giúp xác định một ĐM để thực hiện BAE Đồng thời, tạo cơ sở cho điều trị nguyên nhân bằng nội khoa hay phẫu thuật sau này, cũng như điều trị

dự phòng cho các trường hợp đặc biệt như chủ động gây thuyên tắc các túi phình của các nhánh

ĐM nhằm phòng ngừa HRM, chuẩn bị phẫu thuật, hạn chế nguy cơ chảy máu trong phẫu thuật Nếu chụp ĐM đồ ĐMPQ không phát hiện chỗ chảy máu, cần phải chụp ĐM đồ phổi để quan sát tuần hoàn phổi Chụp ĐM đồ ĐMPQ-phổi là một phương pháp chọn lọc cao để xác định vị trí chảy máu nhưng phương pháp này xâm lấn, tốn nhiều thời gian và chỉ được thực

Trang 9

hiện khi các kỹ thuật khác thất bại

(3,5,8,10,12,14,19,24,31,32,35)

Các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh khác

Như chụp PQ cản quang hiện nay ít dùng

(do ưu thế của NSPQ ống mềm và CT scan

ngực) Chụp ĐMP được dùng để giúp chẩn

đoán và điều trị HRM do nhồi máu phổi hoặc

tìm nguồn gốc HRM khi không xác định được

qua chụp ĐMPQ (chuẩn bị thuyên tắc hoặc phẫu

thuật) Ngoài ra, chụp phổi nhấp nháy, chụp

MRI không có lợi trong bệnh lý ĐMPQ(3,4,7,12,32)

Nội soi phế quản

Được xem là một thủ thuật đầu tiên giúp

chẩn đoán và định vị HRM NSPQ ống mềm đã

chứng tỏ hiệu quả khi đánh giá các tổn thương ở

trung tâm PQ Trong lúc NSPQ, có thể dùng

thuốc tại chỗ để gây co mạch cầm máu Nhiều

NC báo cáo rằng NSPQ ống mềm có thể định vị

chảy máu ở một bên phổi, chiếm 49-92,9% BN

HRM Vai trò của NSPQ ống mềm ở BN HRM

vẫn còn tranh cãi, đặc biệt trong trường hợp

X-quang phổi bình thường Độ chính xác của

NSPQ ống mềm trong chẩn đoán BN HRM có

X-quang phổi bình thường còn thấp 0-31% Theo

Hsiao và cộng sự, NSPQ ống mềm trước khi

thực hiện BAE là không cần thiết đối với những

BN HRM đã biết rõ nguyên nhân vì vùng chảy

máu có thể được định vị bằng X-quang phổi qui

ước NSPQ ống mềm có một vài nhược điểm

trong chẩn đoán và định vị HRM Ở những BN

HRM lượng nhiều rất khó xác định vị trí chảy

máu bằng NSPQ ống mềm vì máu chảy ra làm

tràn ngập khắp hệ thống PQ Ngoài ra, những

can thiệp qua NSPQ ống mềm thường không

hiệu quả trong phần lớn trường hợp HRM

Nguy cơ của NSPQ ống mềm bao gồm SHH do

gây mê, hạ oxy máu, trì hoãn điều trị tận gốc và

chi phí cao Mặc khác, nếu tiến hành NSPQ cấp

cứu trong HRM lượng nhiều có thể gây SHH

trầm trọng hơn vì động tác này gây kích thích

HRM nhiều hơn nữa(2,3,8,10,12,14,25,31,33)

Các xét nghiệm khác

Như siêu âm mạch máu rất có giá trị ở trẻ

nhỏ, giúp phát hiện các bệnh tim, mạch máu bẩm sinh (cho thấy ĐM liên sườn giãn trong hẹp ĐMP bẩm sinh, ĐMPQ xuất phát lạc chỗ từ ĐMC bụng) Các xét nghiệm tầm soát lao (nếu có nghi ngờ) như nhuộm soi AFB/đàm, cấy tìm BK/đàm, PCR lao (đàm hoặc dịch PQ), phản ứng

da với tuberculin (TST), (3,12,31,32)

ĐIỀU TRỊ HO RA MÁU Nguyên tắc điều trị Điều trị nguyên nhân gây HRM là căn bản

và quan trọng nhất, đồng thời phải kết hợp điều trị cấp cứu cầm máu hiệu quả, đảm bảo việc thông khí PN và điều trị hồi sức, bồi hoàn đầy đủ thể tích dịch tuần hoàn đã mất Do đó, điều trị HRM gồm hai bước: (1) Điều trị cấp cứu HRM và hồi sức; (2) Điều trị nguyên nhân gây HRM(3,12,14,15,31,33)

Điều trị cấp cứu HRM và hồi sức

Điều trị cấp cứu HRM

Tùy từng mức độ HRM mà có hướng xử trí thích hợp Đối với HRM nhẹ, cho BN nằm nghỉ ngơi tuyệt đối tại giường, nằm đầu thấp, nghiêng một bên, nếu biết rõ bên phổi tổn thương xuất huyết thì cho nằm nghiêng bên đó

để tránh ảnh hưởng bên phổi lành còn lại, và dùng kèm các thuốc giảm ho, an thần, cầm máu Theo dõi sát lượng máu chảy ra và dấu hiệu sinh tồn Đối với HRM trung bình trở lên nguy cơ ngập máu trong ĐDK là rất lớn gây tắc nghẽn đường thở, nguy cơ tử vong cao, do đó cần phải tiến hành can thiệp điều trị cấp cứu nhằm kiểm soát thông thoáng đường thở, duy trì trao đổi khí đầy đủ bằng những biện pháp điều trị nội khoa không xâm lấn và điều trị xâm lấn cũng như hồi sức tích cực hơn nhằm duy trì thể tích tuần hoàn và thăng bằng kiềm toan(3,12,14,15,31,33)

Điều trị nội khoa không xâm lấn và theo dõi

Dùng thuốc đông máu, ngăn chảy máu

Các thuốc giúp cho quá trình đông máu như vitamin K (tiêm bắp 10 – 50 mg/ngày), vitamin

K1 (tiêm TM chậm 10 – 20 mg/ngày), vitamin K2,

Trang 10

các thuốc chứa Calcium (như CaCl2, Calcium

Gluconate liều 0,5 – 2g/ngày)… Các thuốc này

tham gia tạo prothrombin, chuyển prothrombin

thành thrombin, biến fibrinogen thành fibrin

Ngoài ra, còn có các thuốc thrombin (thrombin

huyết tương, thrombase, thrombofort) là men có

tác dụng kết hợp của 3 yếu tố cần cho sự động

máu gồm thrombokinase, calcium, và

prothrombin Thrombin được tiêm bắp với liều

100 đơn vị/ngày, có tác dụng chuyển fibrinogen

tan trong huyết tương thành fibrin làm máu

đông lại Thromboplastin (sistonal) là thành

phần chính của tiểu cầu, một yếu tố cần thiết cho

quá trình đông máu, được đựng trong ống 10 ml

(chứa 0,3 g thromboplastin), và được tiêm dưới

da hoặc tiêm bắp với liều từ 1 – 3 ống/ngày

Vitamine P và những thuốc chứa vitamin P (như

rutin, catachin, hesperidin, methylcachon,…, với

liều dùng của rutin là 200 – 400 mg/ngày) là

những flavonoides có tác dụng làm giảm tính

thấm mao mạch, làm vững chắc thành mạch,

ngăn cản tác dụng của histamin (gây tổn thương

thành mạch), thường được dùng phối hợp với

vitamin C Các thuốc adrenochrome

(adrenobazonum, carbazochrome) có biệt dược

là adrenoxyl, adona, adrestate, là dẫn chất oxy

hóa của adrenalin, có tác dụng rút ngắn thời gian

chảy máu do tăng sức kháng thành mạch Các

thuốc chống tiêu sợi huyết (như acid  amino

caproic, biệt dược là hemocaprol, capramol) với

liều thấp có tác dụng ức chế hoạt hóa

plasminogen, với liều cao có tác dụng kháng

plasmin trực tiếp (fibrinolysin) làm tan fibrin

ngăn cản chảy máu trong bất cứ nguyên nhân

gây HRM Trong trường hợp cấp cứu, tiêm TM

chậm 1 – 2 ống (hàm lượng 2g/ống), sau 2 – 3

giờ, tiêm thêm 1 ống Có thể duy trì uống 1 ống

mỗi giờ

Dùng các thuốc phiện (hoặc các dẫn chất thuốc phiện)

Có tác dụng ức chế thần kinh trung ương

gây ngủ, ức chế trung tâm ho, trung tâm phó

giao cảm, làm giảm cảm ứng ngoại biên; tác

dụng lên các trung tâm võ não làm giảm đau,

điều chỉnh thần kinh thực vật, tăng sức chứa

tĩnh mạch chi, giảm lượng máu qua phổi (gián tiếp điều hòa tuần hoàn phổi) Thường dùng các thuốc dạng uống (như cồn thuốc phiện, codein) hoặc thuốc dạng tiêm (như morphin, dolargan, dolosal, promedol, fentanyl, pethidine…) Tuy nhiên, các thuốc này có thể gây trụy hô hấp ở BN có SHH hoặc nguy cơ SHH nên không được dùng cho các BN này Cần thận trọng sử dụng ở BN có thai, BN giảm hoặc không có khả năng ho khạc

Các thuốc đông miên nhân tạo Gồm phối hợp 3 nhóm thuốc: (1) thuốc

phiện; (2) thuốc phenothiazine (clorpromazin, largactyl, aminazin, pipolphen, megaphene,…)

có tác dụng ức chế thần kinh trung ương, thần kinh thực vật, liệt phó giao cảm nhẹ và liệt giao cảm, ức chế tăng huyết áp của adrenalin, giảm thân nhiệt, chống histamin; và (3) thuốc kháng histamin như dimedrol (benadryl), phenergan (promethazin), multergan (thiazimin) có tác dụng cạnh tranh với histamin ở cơ quan thụ cảm Các phối hợp 3 nhóm thuốc đông miên nhân tạo khác gồm procain, methonium, và thuốc phong bế phó giao cảm như atropin, scopolamin, nội tiết tố hướng thận Do các thuốc đông miên nhân tạo có thể gây trụy hô hấp nên không dùng cho BN có SHH hoặc nguy cơ SHH,

BN có thai, BN có huyết áp thấp, hoặc BN giảm hoặc không có khả năng ho khạc

Nội tiết tố thùy sau tuyến yên

Gồm vasopressine và oxytocin (post hypophyse, hypantin, glanduitrin) Vasopressin

có tác dụng co mạch, oxytocin có tác dụng co cơ

tử cung là chủ yếu Trong HRM, tiêm TM chậm các thuốc này mỗi lần 5 UI hòa trong 5 ml nước muối sinh lý hoặc truyền TM nhỏ giọt 2 – 4 ống bơm vào dịch truyền Ngày nay, vasopressin không còn được sản xuất và sử dụng nữa do các tai biến trên tim mạch quá nhiều, nhất là nguy cơ thúc đẩy nhồi máu cơ tim cấp Thận trọng khi sử dụng cho phụ nữ có thai

Thuốc Sandostatin (octreotide)

Là một octapeptide tổng hợp, có đặc tính

Ngày đăng: 16/01/2020, 00:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w