1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát tần số tim và tỉ lệ sử dụng thuốc ức chế bêta ở bệnh nhân suy tim mạn người cao tuổi

5 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 318,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thực hành lâm sàng, TST và sự sử dụng thuốc ức chế bêta (UCB) nhằm đạt TST mục tiêu vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Mục tiêu: Khảo sát tần số tim và tỉ lệ sử dụng thuốc ức chế bêta ở bệnh nhân suy tim mạn cao tuổi.

Trang 1

KHẢO SÁT TẦN SỐ TIM VÀ TỈ LỆ SỬ DỤNG THUỐC

ỨC CHẾ BÊTA Ở BỆNH NHÂN SUY TIM MẠN NGƯỜI CAO TUỔI

Nguyễn Vũ Phương*, Võ Thành Nhân**, Nguyễn Minh Đức**

TÓM TẮT

Mở đầu: Ngày nay, suy tim vẫn là một trong những vấn đề sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là ở người cao tuổi

Tần số tim (TST) là yếu tố nguy cơ tim mạch bao gồm suy tim Trong thực hành lâm sàng, TST và sự sử dụng thuốc ức chế bêta (UCB) nhằm đạt TST mục tiêu vẫn chưa được quan tâm đúng mức

Mục tiêu: Khảo sát tần số tim và tỉ lệ sử dụng thuốc ức chế bêta ở bệnh nhân suy tim mạn cao tuổi

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên bệnh nhân suy tim mạn cao tuổi tại thời điểm

xuất viện ở khoa Nội Tim mạch, Tim mạch Cấp cứu và Can thiệp bệnh viện Thống Nhất từ tháng 10/2016 đến tháng 5/2017

Kết quả: Có 137 bệnh nhân suy tim mạn cao tuổi tham gia nghiên cứu trong 8 tháng tiến hành đề tài.TST

trung bình lúc xuất viện ở bệnh nhân suy tim mạn cao tuổi là 79,39±11,66 lần/phút Tỉ lệ bệnh nhân có TST <60, 60-70, 71-89, ≥90 lần/phút lần lượt là 3,6%, 16,8%, 62,1% và 17,5% Tỉ lệ sử dụng thuốc UCB trên bệnh nhân suy tim mạn cao tuổi là 31,4% 100% bệnh nhân trong nghiên cứu không đạt đến liều đích

Kết luận: TST ở bệnh nhân suy tim mạn cao tuổi trong nghiên cứu còn cao, tỉ lệ sử dụng và liều thuốc ức

chế bêta còn thấp so với các nước phát triển

Từ khóa: tần số tim, suy tim, thuốc ức chế bêta

ABSTRACT

TO SURVEY HEART RATE AND THE PERCENTAGE OF USING BETA BLOCKER IN TREATMENT

OF CHRONIC HEART FAILURE ELDERLY

Nguyen Vu Phuong, Vo Thanh Nhan, Nguyen Minh Duc

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 22 - No 1- 2018: 124 - 128

Background: Nowadays, heart failure is still one of public health issues, especially in the elderly Heart rate

is an independent risk factor for cardiovascular disease, including heart failure In clinical practice, increasing heart rate and the usage of beta blocker in treatment of those patients has not been used adequately

Objectives: To survey heart rate and the percentage of using beta blocker in treatment of chronic heart

failure elderly

Methods: A cross-sectional study was carried out from October 2016 to May 2017 to investigate patients

with chronic heart failure elderly at the time of discharge at the Cardiovascular Department and Interventional Cardiology, Thong Nhat Hospital

Results: 137 patients participated in our study in 8 months The average heart rate at the time of discharge of

patients with chronic heart failure 79.39 ± 11.66 pulse/minute The percentage of heart rate groups <60, 61 – 70,

71 – 89, and ≥90 pulse/minute were 3.6%, 16.8%, 62.1%, and 17.5%, respectively The beta blocker usage rate among these patients is 50.9%, none of which achieved optimal dose

Conclusions: Heart rate of patients with heart failure at the time ofdischarge was high The use and dosing

* Bệnh viện Đa khoa Vĩnh Long, ** Bộ môn Lão khoa – Đại học Y Dược TP.HCM

Tác giả liên lạc: BS Nguyễn Vũ Phương ĐT: 0902970034 Email: vuphuongtbvl1986@gmail.com

Trang 2

of beta blocker was lower than those in developed countries

Key words: heart rate, heart failure, beta blocker

MỞ ĐẦU

Suy tim (ST) là một bệnh thường gặp ở

người cao tuổi (NCT), với tỉ lệ mới mắc và tử

vong cao, chiếm ít nhất 20% số bệnh nhân (BN)

nhập viện ở người trên 65 tuổi Tại Mỹ, hiện có

khoảng 6 triệu người được chẩn đoán ST, hằng

năm có thêm khoảng 550000 trường hợp mới

mắc và hơn 1 triệu người nhập viện vì ST Ở

người trưởng thành, tỉ lệ hiện mắc của ST vào

khoảng 2,1% và tỉ lệ này là 7,8 % trong dân số

trên 65 tuổi(4) Vai trò của thuốc UCB trong điều

trị ST đã được chứng minh qua nhiều công trình

nghiên cứu lớn trên thế giới Về sinh lý bệnh,

thuốc tác động lên những yếu tố gây ra ST như

giảm bề dày thành thất trái, giảm hoạt động hệ

giao cảm và cải thiện việc tái cấu trúc cơ tim Về

mục tiêu điều trị, thuốc giảm được các biến cố

tim mạch, giảm tần suất nhập viện và tỉ lệ tử

vong Vì vậy, thuốc UCB đã được đưa vào các

khuyến cáo điều trị ST với khuyến cáo mức độ

I(7) Bên cạnh, thuốc UCB còn giảm được TST,

một yếu tố nguy cơ độc lập cho bệnh tim mạch

bao gồm ST Ở Việt Nam, thuốc UCB được dùng

tương đối phổ biến trong điều trị ST mạn Tuy

nhiên, những nghiên cứu về sử dụng thuốc UCB

và kiểm soát TST ở bệnh nhân ST mạn cao tuổi ít

được thực hiện Do đó, chúng tôi thực hiện

nghiên cứu “Khảo sát tần số tim và tỉ lệ sử dụng

thuốc ức chế bêta ở bệnh nhân suy tim mạn

người cao tuổi”

ĐỐI TƯỢNG-PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả

Đối tượng nghiên cứu

Những BNST mạn cao tuổi đã được chẩn

đoán và điều trị tại khoa Nội Tim mạch, khoa

Tim mạch Cấp cứu và Can thiệp bệnh viện

Thống Nhất từ tháng 10/2016 đến tháng 05/2017

Tiêu chuẩn chọn bệnh

BNST mạn ≥ 60 tuổi, được chẩn đoán ST theo tiêu chuẩn chẩn đoán của Hội Tim mạch châu

Âu hoặc được chẩn đoán ST trước đó

Tiêu chuẩn loại trừ

BN được chẩn đoán suy nút xoang, block

A-V độ II-III BN có đặt máy tạo nhịp

BN không đồng ý tham gia nghiên cứu

Phương pháp thu thập số liệu

Sau nhập viện, BN sẽ được thăm hỏi bệnh sử

và khám lâm sàng, tiến hành phỏng vấn bằng bảng câu hỏi BN được theo dõi diễn tiến trong quá trình điều trị, sau khi đánh giá tình trạng bệnh ổn định, bác sĩ trực tiếp điều trị cho xuất viện, chúng tôi sẽ tiến hành đo điện tâm đồ để xác định TST Trước khi đo, chúng tôi giải thích

và dặn BN nằm nghỉ tại giường trong 5 phút, sau

đó chúng tôi tiến hành đo điện tim Điện tim 12 chuyển đạo sau khi đo xong sẽ được dùng để tính TST dựa vào khoảng trung bình 5 đoạn P-P của 5 chuyển đạo liên tiếp Ghi nhận toa thuốc lúc BN xuất viện

Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

Các số liệu được lấy thông qua việc hỏi bệnh

sử, tiền căn, hồ sơ sức khỏe, khám lâm sàng và

hồ sơ bệnh án theo mẫu phiếu thu thập số liệu

Số liệu được nhập và xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS 16.0

KẾT QUẢ

Bảng 1: Đặc điểm dân số nghiên cứu

Giá trị

Yếu tố nguy cơ tim mạch (%)

Tiền sử bệnh tim mạch (%)

Trang 3

Giá trị

Các bệnh kèm theo khác (%)

Phân độ NYHA (%)

Phân suất tống máu (%)

NYHA: New York Heart Association/Hội Tim New York

PCI: Percutaneous coronary intervention/Can thiệp mạch

vành qua da

Đặc điểm dân số nghiên cứu

Từ tháng 10/2016 đến tháng 05/2017, có 137

BN tham gia vào nghiên cứu Chúng tôi đưa ra

các kết quả phân tích trên nhóm dân số nghiên

cứu có đặc điểm như sau (Bảng 1):

Tần số tim ở bệnh nhân suy tim

TST lúc xuất viện ở bệnh BNST mạn cao tuổi

là 79,39±11,66l ần/phút, BN có TST thấp nhất là

54 lần/phút, cao nhất là 112 lần/phút Có 20,4%

đạt TST <70 lần/phút

Biểu đồ 1: Tần số tim phân bố theo nhóm

Tỉ lệ và sự sử dụng thuốc UCB ở BNST mạn

cao tuổi

Tại thời điểm xuất viện có 43 BN được sử

dụng thuốc UCB, chiếm tỉ lệ 31,4% Trong đó có

3 loại thuốc UCB được sử dụng là nebivolol,

bisoprolol, metoprolol với tỉ lệ lần lượt là 43,9%,

41,5% và 14,6% Không có BN được sử dụng đến liều đích của khuyến cáo

Bảng 2: Liều dùng thuốc UCB so với liều chuẩn

Liều dùng UCB 6,25* 12,5* 25* 50* 100*

Bisoprolol Nebivolol Metoprolol

-

- 66,7

33,3 15,8 33,3

66,7 73,7

-

- 10,5

-

-

-

-

(*): Phần trăm so với liều chuẩn

TST ở bệnh nhân sử dụng thuốc UCB

Biểu đồ 2: TST ở bệnh nhân sử dụng thuốc UCB

BÀN LUẬN

TST trong dân số nghiên cứu

TST trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn nghiên cứu của tác giả Huỳnh Thị Thanh Phương(3) Sự khác biệt có thể do trong nghiên cứu của chúng tôi thực hiện trên BN cao tuổi, còn nghiên cứu của Huỳnh Thị Thanh Phương bao gồm cả BN trẻ tuổi Theo tác giả Ahmed, nhịp tim có thể giảm đi khi già do tác dụng sinh lý của sự lão hóa Thứ hai, có thể do thời gian trung bình để kiểm soát TST nội viện trong nghiên cứu của chúng tôi dài hơn nghiên cứu của tác giả Huỳnh Thị Thanh Phương TST trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn tác giả Buyng-Su Yoo là do TST trong nghiên cứu này đo lúc bệnh nhân nhập viện(10) BNST nhập viện thường có TST cao hơn hơn lúc xuất viện do trong tình trạng không ổn định So với nghiên cứu của các tác giả Nobuyuki, Edelmann, Oshima thì TST trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn(1, 7, 9) Sự khác biệt có thể do nhiều nguyên nhân Thứ nhất, nghiên cứu của tác giả Nobuyuki, Edelmann thực hiện trên bệnh nhân ngoại trú, còn nghiên cứu của chúng tôi thực hiên trên bệnh nhân nhập

Trang 4

viện Thứ hai, có thể là do tỉ lệ sử dụng thuốc UCB

trong nghiên cứu của chúng tôi còn thấp (31,4%),

còn trong nghiên cứu của các tác giả Nobuyuki,

Edelmann, Oshima lần lượt là 49%, 60% và 79,3%

Trong nghiên cứu của chúng tôi có 20,4% BN có

TST <70 lần/phút Theo các hướng dẫn về điều trị

ST của Hội tim châu Âu, khuyến cáo mục tiêu TST

< 70 lần/phút, và đây là ngưỡng mà các bác sĩ cần

phải quan tâm điều chỉnh

Tỉ lệ và sự sử dụng thuốc UCB

Tỉ lệ sử dụng thuốc UCB rất khác nhau giữa

các nghiên cứu Trong nghiên cứu của chúng tôi

có 31,4% bệnh nhân được kê toa thuốc UCB lúc

xuất viện, thấp hơn của tác giả Huỳnh Thị Thanh

Phương (36,2%)(3), Byung-Su Yoo (69,2%)(10),

Nobuyuki (49%)(9), Edelmann (60%)(1), Oshima

(79,3%)(7) và cao hơn nhiều so với nghiên cứu của

tác giả Nguyễn Thị Bích Thủy (4,8%)(6) Sự khác

biệt này là do BN trong nghiên cứu của chúng

tôi là NCT còn trong nghiên cứu của Huỳnh Thị

Thanh Phương bao gồm cả BN trẻ tuổi Theo

Dahlstrom và cộng sự tuổi là một trong những

yếu tố chính ảnh hưởng đến việc sử dụng thuốc

UCB Mặc dù vậy đã có nghiên cứu chứng minh

hiệu quả của thuốc UCB trên BNST cao tuổi

Nghiên cứu SENIORS đã chứng minh thuốc

UCB giúp giảm biến cố tử vong do mọi nguyên

nhân và nhập viện do nguyên nhân tim mạch

trên BNST cao tuổi Ngoài ra, những nguyên

nhân thường gặp khác có thể kể đến là bệnh

đồng mắc, quan điểm của thầy thuốc lâm sàng

Bên cạnh đó, do BN mới xuất viện, tình trạng

lâm sàng chưa thật ổn định nên việc sử dụng

thuốc UCB trên những BN này trông đợi vào tái

khám sau khi xuất viện, khi tình trạng lâm sàng

thật ổn định

Liều lượng thuốc của các loại thuốc UCB

Do BN mới xuất viện, tình trạng lâm sàng

chưa thật ổn định nên đa phần bác sĩ chỉ dùng

liều 12,5%-25% so với liều chuẩn Mặc dù các thử

nghiệm lâm sàng và các hướng dẫn điều trị

khuyến cáo sử dụng đến liều đích hoặc liều tối

đa BN dung nạp được Tuy nhiên trên thực tế tỉ

lệ BN đạt liều mục tiêu thuốc UCB còn thấp Liều chuẩn của carvedilol, bisoprolol và metoprolol trong nghiên cứu ESC-HF Pilot lần lượt là 37,3%, 20,7% và 21,4% Nghiên cứu của Gheorghiade và cộng sự trên những bệnh nhân ngoại trú có 20,5% được điều trị với liều chuẩn ở thời điểm bắt đầu nghiên cứu và qua sau 24 tháng theo dõi tỷ lệ này là 30,3%(2) Trong nghiên cứu của tác giả Russell và cộng sự, trên 172 bệnh nhân nhịp xoang có 145 bệnh nhân (83%) được

sử dụng thuốc UCB Trong số này, 39% BN đạt được liều đích, 57% BN dung nạp được 50% liều đích(8) Tác giả Moreno và cộng sự nghiên cứu trên BN ngoại trú cho thấy có 76% BN đạt liều đích với thuốc UCB và chủ yếu là carvedilol(5) Hầu hết nghiên cứu về liều lượng các thuốc UCB thực hiện ở các nước phương Tây nên việc

áp dụng cho bệnh nhân châu Á sẽ khó khăn do khác biệt đáng kể về chủng tộc trong việc đáp ứng với thuốc UCB Do đó, theo khuyến cáo của Bộ Y

Tế Nhật Bản liều thuốc UCB tối đa chỉ bằng một nửa liều của các nước phương Tây Theo đó, liều khuyến cáo của carvedilol là 10mg uống 2 lần một ngày, bisoprolol là 5mg uống ngày một lần

TST ở nhóm được sử dụng thuốc UCB

TST mục tiêu lúc xuất viện ở nhóm được sử dụng thuốc UCB trong nghiên cứu của chúng tôi còn thấp, tỉ lệ bệnh nhân có TST ≥70 lần/phút còn cao (93%) Điều này có thể giải thích bởi liều sử dụng thuốc UCB còn thấp, thời gian nằm viện ngắn không đủ để bác sĩ theo dõi tác dụng và chỉnh liều thuốc UCB thích hợp Tuy nhiên, theo nhiều nghiên cứu thì tỉ lệ BN có TST ≥70 lần/phút ở nhóm sử dụng thuốc UCB vẫn còn cao Nghiên cứu của tác giả Huỳnh Thị Thanh Phương thì có tới 73,6% bệnh nhân được sử dụng thuốc UCB có TST ≥70 lần/phút(4) Còn theo nghiên cứu của tác giả Moreno và cộng sự cho thấy mặc dù đã sử dụng đến liều đích thuốc UCB nhưng vẫn còn 36,5% BN có TST ≥70 lần/phút(5) Theo tác giả Franke và cộng sự thì vẫn còn 69,3% bệnh nhân có TST ≥ 70 lần/phút mặc dù được sử dụng thuốc UCB với liều từ 50% liều chuẩn trở lên

Trang 5

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 137 BNST mạn cao tuổi tại

khoa Nội Tim mạch, Tim mạch Cấp cứu và Can

thiệp bệnh viện Thống Nhất, chúng tôi nhận

thấy TST trung bình 79,39±11,66 lần/phút, có

20,4% BN có TST < 70 lần/phút BN sử dụng

thuốc UCB chiếm tỉ lệ 31,4% và không có BN nào

sử dụng đến liều đích khuyến cáo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Edelmann F, et al (2016), "Tolerability and Feasibility of

Beta-Blocker Titration in HFpEF Versus HFrEF: Insights From the

CIBIS-ELD Trial", JACC Heart Fail, 4(2), 140-149

2 Gheorghiade M, et al (2012), "Medication dosing in outpatients

with heart failure after implementation of a practice-based

performance improvement intervention: findings from

IMPROVE HF", Congest Heart Fail, 18 (1), 9-17

3 Huỳnh Thị Thanh Phương (2014), "Khảo sát tần số tim và sự sử

dụng thuốc ức chế beta trong điều trị suy tim", Luận văn thạc sĩ

y học, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

4 LaRue SJ, Joseph SM, Ewald GA (2014), "Heart Failure and

Cardiomyopathy", The Washington Manual of Medical

Therapeutics – 34th, 171-193

5 Moreno IB, Carlo CHD, Pereira B, Antônio C (2013), “Optimized treatment and heart rate reduction in chronic heart failure”, Arq Bras Cardiol, 101(5), 442-447

6 Nguyễn Thị Bích Thủy (2016), "Đánh giá thực trạng chẩn đoán

và điều trị suy tim mạn tính tại bệnh viện Đa khoa khu vực tỉnh

An Giang", Luận án chuyên khoa cấp II, Học Viện Quân Y

7 Oshima K, et al (2013), "Discharge heart rate and future events among Japanese patients with acute heart failure receiving beta-blocker therapy", WJCD, 3 (1A), 159-167

8 Russell S, Oliver M, Rose H, Davies J, et al (2011), "93 Optimal medical therapy in heart failure: is there space for additional heart rate control?", Heart, 97 (Suppl 1), A54

9 Shiba N, Nochioka K, Miura M, Kohno H, Shimokawa H (2011),

"Trend of westernization of etiology and clinical characteristics

of heart failure patients in Japan first report from the CHART-2 study", Circ J, 75 (4), 823-833

10 Yoo BS, Oh J, et al (2014), "Survey of Guideline Adherence for Treatment of Systolic Heart Failure in Real World (SUGAR): A Multi-Center, Retrospective, Observational Study", PLoS One, 9(1), e86596

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 19/11/2017 Ngày bài báo được đăng: 15/03/2018

Ngày đăng: 16/01/2020, 00:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w