1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Vai trò hiện nay của nội soi trung thất chẩn đoán bệnh lý hạch trung thất

6 97 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 282,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết xác định vai trò hiện nay của nội soi trung thất (NSTT) để chẩn đoán mô học trong bệnh lý hạch trung thất ở những trung tâm phẫu thuật lồng ngực không có PET scan và nội soi phế quản siêu âm hướng dẫn chọc hút xuyên vách.

Trang 1

VAI TRÒ HIỆN NAY CỦA NỘI SOI TRUNG THẤT CHẨN ĐOÁN BỆNH LÝ HẠCH TRUNG THẤT

Trương Thanh Thiết*, Nguyễn Hữu Lân*, Nguyễn Hoài Nam**

TÓM TẮT

Mục tiêu: Xác định vai trò hiện nay của nội soi trung thất (NSTT) để chẩn đoán mô học trong bệnh lý hạch

trung thất ở những trung tâm phẫu thuật lồng ngực không có PET scan và nội soi phế quản siêu âm hướng dẫn chọc hút xuyên vách

Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang Từ 4/2007 đến 12/2015, 149 bệnh nhân có bệnh lý hạch trung

thất được thực hiện nội soi trung thất để chẩn đoán mô học

Kết quả: Tuổi trung bình là 41,46 (nhỏ nhất 14 tuổi và lớn nhất 76 tuổi) Trong số 149 bệnh nhân, nam: 90

và nữ: 59 Triệu chứng thường gặp nhất là ho khan, 105 bệnh nhân (70%) Vị trí NSTT lấy mẫu thường xuyên nhất là hạch cạnh khí quản phải 76,5%, kế đến hạch cạnh khí quản trái 17,4% và cuối cùng hạch dưới carina 6,0% Tỉ lệ xác định được chẩn đoán là 98%, trong đó lao hạch là chẩn đoán thường gặp nhất Không tử vong

trong và sau mổ, có 3 (2%) biến chứng trong và sau mổ

Kết luận: Đây là phương pháp chẩn đoán ít biến chứng và chi phí thấp Chúng tôi tin rằng NSTT vẫn là thủ thuật chọn lựa đầu tiên để chẩn đoán những bệnh lý hạch trung thất

Từ khóa: Nội soi trung thất, bệnh hạch trung thất, bệnh lao, ung thư biểu mô, U lympho bào, bệnh sarcoidosis

ABSTRACT

THE CURRENT ROLE OF MEDIASTINOSCOPY FOR DIAGNOSIS

OF MEDIASTINAL LYMPHADENOPATHY

Truong Thanh Thiet, Nguyen Huu Lan, Nguyen Hoai Nam

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 5 - 2016: 120 - 125

Objective: To determine the current role of mediastinoscopy (MDS) in the histological diagnosis of

mediastinal lymphadenopathy in a thoracic surgery center where more sophisticated investigations, like positron emitting tomography (PET) scan and endobronchial ultrasound guided trans-bronchial needle aspiration

(EBUS-TBNA) is not available

Methods: This is a cross-sectional descriptive study From April 2007 to December 2015, 149 patients with mediastinal lymphadenopathy underwent MDS to establish a histological diagnosis

Results: The mean age was 41.46 years (min 14 and max 76) Among the patients, 90 were males and 59

were females The most common symptom was dry cough in 105 (70%) patients A total of 76.5% of the samples were performed in the right laterotracheal lymph node station, 17.4% in the left laterotracheal lymph node station and 6.0% in the subcarinal lymph node station The diagnostic yield was 98%, with tuberculosis being the commonest diagnosis No deaths and there were 3 (2%) intraoperative and postoperative complications

Conclusion: According to the results, the few contraindications of the procedure and its low cost, we believe

that MDS is still the first choice procedure to diagnose mediastinal lymphadenopathy

Keywords: Mediastinoscopy, Lymphadenopathy, Tuberculosis, Carcinoma, Lymphoma, Sarcoidosis

* Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch Thành phố Hồ Chí Minh ** Đại học Y dược TP.Hồ Chí Minh

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong thực hành lâm sàng, việc chẩn đoán

những bệnh lồng ngực liên quan đến hệ thống

hạch trung thất thường gặp rất nhiều khó

khăn Điều đó không chỉ do hệ thống hạch

nằm sâu trong lồng ngực và gần nhiều cấu

trúc quan trọng của cơ thể, mà còn do sự đa

dạng về bản chất mô học Chẩn đoán những

bệnh này thường dựa vào sinh thiết trực tiếp

những hạch phì đại trong lồng ngực (hạch có

kích thước đường kính ngang ≥10mm trên

chụp CLĐT)(1,14) Trong bệnh lao, bệnh

Hodgkin và bệnh sarcoidosis, sinh thiết hạch

cho chẩn đoán chính xác và cho hướng điều trị

thích hợp Còn trong những bệnh tăng trưởng

ác tính, đặc biệt là ung thư phổi, việc sinh thiết

hạch có thể khám phá thêm tổn thương, xác

định giai đoạn ung thư trước phẫu thuật, từ

đó quyết định khả năng phẫu thuật được của

u(12) NSTT và nội soi phế quản dưới hướng

dẫn siêu âm sinh thiết xuyên vách là hai

phương pháp ít xâm lấn thường sử dụng nhất

để chẩn đoán bản chất hạch trung thất, giá trị

chẩn đoán tương đương nhau(5,18)

Nội soi trung thất được thực hiện lần đầu

tiên bởi Jehn và Nissen vào năm 1927 và

Harken vào năm 1954, nhưng họ không quan

sát tới mức cung động mạch chủ Năm 1959,

Carlens đã giới thiệu nội soi trung thất đường

cổ chuẩn được thực hiện như ngày nay Đến

năm 1989, Toni Lerut đề xuất ý tưởng nội soi

trung thất có hỗ trợ video giống phẫu thuật

nội soi lồng ngực(1,9) Hiện nay, Nội soi trung

thất chẩn đoán đã được áp dụng thường

xuyên tại nhiều quốc gia, nhiều trung tâm

phẫu thuật lồng ngực trên thế giới

Chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài

nhằm xác định vai trò của NSTT trong việc

chẩn đoán bệnh lý hạch trung thất ở những

trung tâm phẫu thuật lồng ngực không có PET

scan và nội soi phế quản siêu âm hướng dẫn

chọc hút xuyên vách

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Tiêu chuẩn chọn bệnh

Tất cả các trường hợp bệnh nhân trên chụp CLĐT ngực cản quang có hạch trung thất phì đại (hạch có kích thước ≥10mm), xác định vị trí nhóm hạch cạnh khí quản phải (2P và 4P), nhóm hạch cạnh khí quản trái (2T và 4T), và nhóm hạch dưới carina (số 7) theo sơ đồ phân bố hạch

để xác định giai đoạn ung thư phổi của International Association for the Study of Lung Cancer (IASLC) năm 2009(3)

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân có chống chỉ định gây mê nội khí quản, có rối loạn đông máu nặng không điều chỉnh được

Bệnh nhân có những thay đổi giải phẫu làm cho nội soi trung thất không an toàn hay có bệnh mạch máu như phình bóc tách CĐMC hay ĐM

vô danh

Bệnh nhân có chẩn đoán xác định lao qua BK đàm hay BK dịch phế quản

Bệnh nhân có chẩn đoán xác định bản chất hạch bằng các phương pháp khác

Thiết kế nghiên cứu

Mô tả cắt ngang

Phương pháp nghiên cứu

Tất cả bệnh nhân đủ tiêu chuẩn được ghi nhận những đặc điểm lâm sàng: tuổi, giới, tiền căn, triệu chứng nhập viện và dấu hiệu thăm khám Hạch trung thất và các đặc tính hình ảnh của hạch trung thất trong nghiên cứu của chúng tôi được đánh giá chủ yếu qua chụp CLĐT ngực

có cản quang: các hạch trung thất có đậm độ thấp, dạng mô mềm, hình tròn hay bầu dục Bình thường kích thước lớn nhất của hạch đo theo trục ngang dưới 10mm, hạch lớn trên 10mm

là bất thường(4)

Kỹ thuật thực hiện

Bệnh nhân được gây mê nội khí quản, kỹ thuật thực hiện dựa vào phương pháp NSTT đường cổ chuẩn theo tác giả Carlens, khảo sát và

Trang 3

sinh thiết những nhóm hạch cạnh khí quản phải

(2P và 4P), nhóm hạch cạnh khí quản trái (2T và

4T) và nhóm hạch dưới carina(1,3)

Bộ NSTT bao gồm dụng cụ nội soi trung thất

Karl Storz có gắn camera, màn hình video,

nguồn sáng, bộ phận xử lý hình ảnh, máy in

hình ảnh và những dụng cụ thao tác trong NSTT

như ống hút nội soi, dụng cụ bóc tách nội soi,

dụng cụ lấy mẫu Mẫu mô được gửi giải phẫu

bệnh , một số trường hợp có làm cắt lạnh và hóa

mô miễn dịch

Ghi nhận kích thước rạch da, vị trí lấy mẫu,

giới hạn, kích thước, thời gian thực hiện, các biến

chứng trong và sau thực hiện và kết quả mô học

Các số liệu được xử lý và phân tích bằng

phần mềm thống kê SPSS 16.0

KẾT QUẢ

Trong 8 năm từ tháng 4 năm 2007 đến tháng

12 năm 2015, tại khoa Phẫu thuật lồng ngực

Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, có tổng cộng 149

bệnh nhân có hạch trung thất phì đại nhập viện

và được NSTT đường cổ lấy mẫu chẩn đoán bản

chất mô học, bao gồm 90 nam và 59 nữ

(Nam:Nữ=6:4) Tuổi trung bình 41.46 tuổi, nhỏ

nhất 14 tuổi và lớn nhất 76 tuổi Đa số bệnh nhân

đi khám bệnh vì có triệu chứng (87,8%), trong

khi nhóm bệnh nhân phát hiện tình cờ qua khám

sức khỏe tổng quát là 12,2% Triệu chứng thường

gặp nhất là ho (70%), sau đó là đau ngực (20%),

sụt cân (12,1%) và hội chứng TMCT (11,4%), cuối

cùng là sốt và khó thở (9,4%)

Vị trí hạch trung thất trên phim CT ngực

Trong 149 trường hợp, chúng tôi chủ yếu

gặp hạch trung thất đơn thuần 134 (89,9%)

trường hợp và chỉ có 15(10,1%) trường hợp

vừa có hạch trung thất kèm tổn thương phổi

và/hoặc tràn dịch màng phổi Vị trí nhóm hạch

cạnh khí quản phải gặp 143 (96%), tiếp theo là

nhóm hạch dưới carina 70 (47%) và ít gặp nhất

là vị trí hạch cạnh khí quản trái 53 (35,6%)

Bảng 1- Phân bố vị trí hạch trung thất trên phim

CT ngực

Hạch trung thất

TT phổi và/hoặc tràn dịch màng phổi Tổng số Không Có

Cạnh

KQ phải

46 2 48 (32,2%) dưới Carina 45 3 48 (32,2%) Cạnh

KQ trái

24 1 25 (16,8%) dưới Carina 13 9 22 (14,8%)

Tổng số 134 (89,9%) 15

(10,1%) 149 (100%)

Đường rạch da: đường rạch da ngắn nhất

2cm, dài nhất 7cm, trung bình 3,41cm, trung vị 3cm, giá trị ứng với 25% là 3cm và giá trị ứng với 75% là 4cm Đa số trường hợp có đường rạch da

từ 3 – 4 cm, 119BN (79,9%)

Vị trí lấy mẫu hạch trung thất và thời gian phẫu thuật

Đa số chúng tôi lấy mẫu hạch ở vị trí cạnh khí quản phải 76,5%(114BN), tiếp theo là vị trí cạnh khí quản trái 17,4% (26BN) và vị trí dưới carina ít lấy mẫu nhất 6,0% (9BN) Dựa vào phim chụp CLĐT ngực hướng dẫn, chúng tôi thực hiện NSTT lấy mẫu đạt tỉ lệ cao nhất tại vị trí hạch cạnh KQ phải 79,7% (114/143), tiếp theo vị trí hạch cạnh KQ trái 49,1% (26/53) và thấp nhất tại vị trí hạch dưới carina 12,9% (9/70) Thời gian phẫu thuật trung bình là 38,36 phút, ngắn nhất ở

vị trí hạch cạnh KQ phải 36,81 phút, tiếp theo vị trí hạch cạnh KQ trái 41,73 phút và dài nhất tại vị trí hạch dưới carina 48,33 phút Không có sự khác biệt về thời gian phẫu thuật trung bình giữa

ba vị trí lấy mẫu, p=0,258 > 0,05

Tai biến và biến chứng phẫu thuật

Có 2 trường hợp (TH) chảy máu trong lúc

mổ, chúng tôi phải chẻ xương ức bán phần để kiểm tra Trong đó, 1 trường hợp sau khi lấy mẫu chảy máu động mạch nuôi hạch và 1 trường hợp do đứt động mạch phế quản trong lúc phẫu tích Ngoài ra, có 1 trường hợp biến chứng tụ máu hậu phẫu Bệnh nhân này trong khi phẫu thuật chảy máu do đứt động mạch nuôi hạch, đã chẻ xương ức cầm máu, hậu phẫu ngày thứ hai xuất hiện tụ máu Trong số 17 BN

Trang 4

trên lâm sàng có hội chứng TMCT thì có 1 biến

chứng chảy máu

Biến chứng chung của phương pháp NSTT

lấy mẫu chẩn đoán bản chất hạch trung thất là

2% (3 trường hợp)

Giải phẫu bệnh hạch trung thất

Bảng 2- Phân bố tỉ lệ kết quả giải phẫu bệnh hạch

trung thất

Giải phẫu bệnh Số trường hợp Tỉ lệ %

Có 3 TH không xác định được bản chất

hạch qua NSTT TH1 giải phẫu bệnh không

phải là mô hạch, sau đó xác định lại là hạch

lao TH2 trong khi đang bóc tách hạch bị đứt

động mạch phế quản chảy máu nhiều không

cầm máu được chưa sinh thiết được mẫu, tiến

hành mở xương ức cầm máu sau đó sinh thiết

hạch cạnh khí quản phải, và TH cuối cùng giải

phẫu bệnh là mô sơ sợi, sau đó xác định lại là

K dạ dày di căn hạch

Như vậy, trong tổng số 149 BN, chúng tôi đạt

được NSTT lấy mẫu 148 BN, xác định được bản

chất hạch trung thất ở 146 BN và 2 BN không xác

định được bản chất hạch trung thất

Độ nhạy phương pháp 98,6%, độ đặc hiệu

100%, độ chính xác 98%, giá trị dự đoán dương

100% và âm tính giả 1,4%

BÀN LUẬN

Tuổi, giới của dân số nghiên cứu

Tuổi trung bình của bệnh nhân là 41,46 tuổi,

nhỏ nhất 14 tuổi, lớn nhất 76 tuổi nhưng chia

theo bản chất hạch trung thất thì ở nhóm ung

thư phổi di căn hạch có độ trung bình là 57,39

tuổi, còn ở nhóm bệnh hạch khác là 39,40 tuổi

Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê, p < 0,001

Tỉ lệ nam/nữ trong nghiên cứu của chúng tôi là

6:4 Nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự

một số tác giả trên thế giới như Lemaire(10)

nghiên cứu 2145 bệnh nhân trong đó 1253 là nam, tương đương tỉ lệ nam/nữ là 6:4 (14), Nguyễn Đức Thắng(13) có 18 nữ trong số 49 trường hợp NSTT lấy mẫu, tỉ lệ nam :nữ là 6: 4

Liên quan lâm sàng có hội chứng TMCT với tai biến

Hội chứng TMCT là một hội chứng lâm sàng

do sự đè ép hoặc xâm lấn TMCT hay hình thành huyết khối trong lòng TMCT Hội chứng TMCT

là trường hợp cấp cứu thông thường nhất liên quan hạch trung thất Hội chứng TMCT không phải là một chống chỉ định của NSTT, những báo báo gần đây cho thấy NSTT là phương pháp đáng tin cậy với hiệu quả đạt được cao nhưng vẫn có những nguy hiểm tiềm ẩn( 14 ) Khám lâm sàng chúng tôi ghi nhận 17 trường hợp có hội chứng TMCT, tương đương 11,4% trường hợp được NSTT lấy mẫu Popghi nhận 31 trường hợp có hội chứng TMCT trong số 447 bệnh nhân, chiếm 7,4% Tác giả Nguyễn Đức Thắng(13)

nghiên cứu 49 trường hợp NSTT sinh thiết u và hạch trung thất thì những trường hợp lâm sàng

có hội chứng TMCT thì không thực hiện

Trong 17 trường hợp có hội chứng TMCT được NSTT, chúng tôi có 1 biến chứng chảy máu, tỉ lệ 5,9%, thấp hơn tỉ lệ biến chứng của Pop (6,4%), Schraufnagel (14%), Gamez (21,7%), cũng như tỉ lệ biến chứng chung của một số tác giả là 10,9% (41 trường hợp biến chứng trong tổng số 377 trường hợp nội soi trung thất có hội chứng TMCT) Tuy nhiên, tỉ lệ này cao hơn một

số tác giả như Vanderhoeft (3,2%), Jahangiri (2,9%), Fernandez (3,1%)(14)

Liên quan giữa đường rạch da với tai biến

và thời gian phẫu thuật

Đường rạch da ngắn nhất 2cm, dài nhất 7cm,

trung bình 3,41cm Nghiên cứu của chúng tôi có

79,9% trường hợp có đường rạch da từ 3 - 4 cm, phù hợp các tác giả trên thế giới(1,6,10,2,17) Đường rạch da trong 49 trường hợp của Nguyễn Đức Thắng từ 3-4 cm(13) Trong mẫu nghiên cứu có 22 bệnh nhân có đường rạch da 2-2,5cm, toàn bộ là

nữ trẻ yêu cầu tính thẩm mỹ cao Ngoài ra, 8

Trang 5

bệnh nhân có đường rạch da 5-7cm vì các bệnh

nhân này mập, cổ ngắn do đó bóc tách bộc lộ khí

quản rất khó khăn Hai trường hợp tai biến trong

nghiên cứu của chúng tôi có đường rạch da 4

cm Thời gian phẫu thuật dài nhất 47,25 phút ở

nhóm đường rạch da > 4cm, ngắn nhất 32,14

phút ở nhóm đường rạch da 2-2,5cm, không có

sự khác biệt giữa các nhóm Đường rạch da

trong NSTT không liên quan tai biến và thời gian

phẫu thuật

Thời gian phẫu thuật của chúng tôi là 38,36

phút, tương đương với tác giả Venissac(16) là 36,6

phút, Nguyễn Đức Thắng(13) là 34,7 phút

Tai biến và biến chứng

Lemaire hồi cứu 2145 bệnh nhân NSTT từ

1996 đến 2005 có 1 ca (0,05%) tử vong do tổn

thương động mạch phổi và có 1,07% biến chứng

bao gồm chảy máu, tổn thương thần kinh quặt

ngược, tổn thương khí quản và tràn khí màng

phổi(10), tỉ lệ này cũng tương đương của Wei

1,3%(17) và Karfis 1,4%(9)

Trong mẫu nghiên cứu 149 bệnh nhân,

chúng tôi không có tử vong trong và sau phẫu

thuật nhưng có 2 trường hợp chảy máu phải

mở xương ức và 1 trường hợp tụ máu hậu

phẫu ngày thứ 2 Tỉ lệ biến chứng chung của

chúng tôi là 2% Tỉ lệ tai biến và biến chứng

của chúng tôi tương đương Mao 1,93%(11),

Porte 2,25%(14), Nguyễn Đức Thắng 2,04%(13) và

thấp hơn Chabowski 5,5%(2), Hujala 5,2%(8),

Sayar 5,7%(15) Một vài công trình nghiên cứu

cho thấy tỉ lệ biến chứng NSTT lấy mẫu rất

thấp như tác giả Hammoud thực hiện nội soi

trung thất lấy mẫu 2137 bệnh nhân nhưng chỉ

có 4 trường hợp tử vong và 12 trường hợp có

biến chứng, tỉ lệ 0,75%(19)

NSTT lấy mẫu chẩn đoán bản chất hạch

trung thất là phương pháp an toàn, có tỉ lệ biến

chứng thấp

Tỉ lệ thành công nội soi trung thất lấy mẫu

chẩn đoán bản chất hạch trung thất

Trong tổng số 149 BN, chúng tôi lấy mẫu

hạch ở vị trí cạnh khí quản phải 76,5%, tiếp theo

là vị trí cạnh khí quản trái 17,4% và vị trí dưới carina ít lấy mẫu nhất 6,0% Kết quả chúng tôi giống Nalladaru 57,1% cạnh KQ phải, 17,2% cạnh KQ trái, 17,25% trước KQ và 8,5% dưới carina(12) Tuy nhiên, Porte thực hiện 400 trường hợp NSTT thì có 76% lấy mẫu hạch cạnh KQ phải, 12,5% dưới carina và 7,8% cạnh KQ trái(14)

Bảng 3- Tỉ lệ lấy mẫu hạch thành công theo từng

vị trí

Vị trí hạch Tỉ lệ thành công Tỉ lệ thất bại

Cạnh KQ phải (112/114) 98,2% 1,8% Cạnh KQ trái (25/26) 96,2% 3,8% Dưới carina (9/9) 100% 0%

Tỉ lệ thành công chung của phương pháp nội soi trung thất lấy mẫu là 98% và tỉ lệ thất bại là 2%

Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới chứng minh nội soi trung thất là phương pháp chẩn đoán hiệu quả cao Theo Porte(14) có 4,3%

âm tính giả, độ nhạy là 95%, độ đặc hiệu là 100%

và độ chính xác là 95% Venissac(16) thì có kết quả

độ nhạy và độ chính xác cao hơn, lần lượt là

98,3% và 98,6% Với độ nhạy, độ đặc hiệu và độ

chính xác cao trên 95% đã được chứng minh bởi nhiều tác giả tại nhiều trung tâm phẫu thuật lồng ngực trên thế giới, ngay cả trong nghiên cứu của chúng tôi tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch cũng

đã cho thấy nội soi trung thất lấy mẫu là phương pháp đạt hiệu quả cao

Kết quả chẩn đoán bản chất hạch trung thất

Mẫu nghiên cứu của chúng tôi có 99 trường hợp hạch trung thất lành tính, trong đó 87 trường hợp (59,6%) hạch lao, 7 trường hợp (4,8%) hạch viêm tăng sinh và 5 trường hợp (3,4%) bệnh sarcoidosis Riêng 5 bệnh nhân có giải phẫu bệnh là hạch viêm tăng sinh, chúng tôi cho tái khám theo dõi sau 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng và 12 tháng nhưng không phát hiện bất thường trên lâm sàng và trên X quang ngực thẳng Vì vậy, những trường hợp này chúng tôi khẳng định đã có chẩn đoán mô học chính xác Nguyễn Đức Thắng(13), bệnh hạch lành tính chiếm 73,5% trong đó hạch viêm tăng sinh lên đến 41,2%, chỉ có 14,7% là hạch lao Việt Nam là

Trang 6

nước nằm trong vùng có dịch lao, hiện tại chưa

có số liệu thống kê đầy đủ nhưng lao hạch là

bệnh khá phổ biến ở nước ta Trước đây, lao

hạch hay gặp ở trẻ em nhưng ngày nay cũng hay

gặp ở người lớn, phụ nữ nhiều hơn nam giới đặc

biệt là phụ nữ trẻ

Lemaire(10) nghiên cứu 2145 bệnh nhân cho

kết quả như sau: ung thư di căn hạch chủ yếu

ung thư phổi là 1537 bệnh nhân (71,6%),

lymphoma là 51 bệnh nhân (2,4%) và các bệnh

lành tính khác là 557 bệnh nhân (26%),

Venissac(16) trên 240 bệnh nhân thì thấy đến 199

bệnh nhân ung thư di căn hạch đa phần là ung

thư phổi (chiếm 83%), sarcodosis là 9,2%, hạch

viêm tăng sinh là 5,4%, hạch lao là 1,7%

KẾT LUẬN

Đây là phương pháp chẩn đoán ít biến

chứng và chi phí thấp Chúng tôi tin rằng NSTT

vẫn là thủ thuật chọn lựa đầu tiên để chẩn đoán

những bệnh lý hạch trung thất

TÀI LIỆU THAM KHẢO

and tissue biopsy in the superior mediastinum Dis Chest, 36: p

343-352

diagnosis of thoracic disease: one-year single center experience

Adv Exp Med Biol, 852: p 1-4

preoperative mediastinal lymph node staging for

non-small-cell lung cancer European Journal of Cardio-Thoracic Surgery,

45(5): p 787-798

tomography and mediastinoscopy in mediastinal lymph node

staging Eur Respir J, 10(7): p 1547-1551

Ultrasound-Guided Fine Needle Aspiration and Video-Assisted

Mediastinoscopy for Mediastinal Staging of Lung Cancer

Lung, 193(5): p 757-766

standard Rev Port Pneumol, 20(1): p 52

mediastinoscopy in the evaluation of thoracic disease J Thorac Cardiovasc Surg, 118(5): p 894-899

Mediastinoscopy its role and value today in the differential diagnosis of mediastinal pathology Acta Oncol, 40(1): p 79-82

our seven-year experience Interactive CardioVascular and Thoracic Surgery, 7(6): p 1015-1018

10 Lemaire A, et al (2006) Nine-year single center experience with cervical mediastinoscopy: complications and false negative rate Ann Thorac Surg, 82(4): p 1185-9; discussion 1189-1190

11 Mao F et al (2014) [The application of mediastinoscopy in the differential diagnosis and preoperative staging on lung cancer] Zhongguo Fei Ai Za Zhi, 17(2): p 171-174

12 Nalladaru ZM and Wessels A (2011) The role of mediastinoscopy for diagnosis of isolated mediastinal lymphadenopathy Indian J Surg, 73(4): p 284-286

13 Nguyễn Đức Thắng, TTK, Lê Hải Sơn và Ngô Vi Hải (2013) “ Kết quả nội soi trung thất sinh thiết u và hạch tại Bệnh viện TƯQĐ 108” Phẫu thuật nội soi và nội soi Việt Nam, số 01(tập 3): p, tr.40-45

14 Porte H, et al (1998) The role of mediastinoscopy in the diagnosis of mediastinal lymphadenopathy Eur J Cardiothorac Surg, 13(2): p 196-199

15 Sayar A, et al (2011) Comparison of video-assisted

lymphadenectomy for lung cancer Gen Thorac Cardiovasc Surg, 59(12): p 793-798

16 Venissac N, Alifano M, and Mouroux J (2003) Video-assisted mediastinoscopy: experience from 240 consecutive cases Ann Thorac Surg, 76(1): p 208-212

17 Wei B et al (2014) The safety and efficacy of mediastinoscopy when performed by general thoracic surgeons Ann Thorac Surg, 97(6): p 1878-83; discussion 1883-1884

18 Yasufuku K et al (2011) A prospective controlled trial of endobronchial ultrasound-guided transbronchial needle aspiration compared with mediastinoscopy for mediastinal lymph node staging of lung cancer J Thorac Cardiovasc Surg, 142(6): p 1393-400 e1

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 31/8/2016 Ngày bài báo được đăng: 05/10/2016

Ngày đăng: 16/01/2020, 00:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w