1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Chủng vi khuẩn thường gặp trong nhiễm khuẩn vết mổ cơ tử cung sau mổ lấy thai tại Bệnh viện Từ Dũ

5 92 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 311,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiễm trùng vết mổ cơ TC là một thể nặng của NTVM, ảnh hưởng đến sức khỏe của sản phụ có thể dẫn đến hậu quả nặng nề như: cắt TC, nhiễm trùng huyết thậm chí có thể ảnh hưởng đến tín mạng nếu chẩn đoán và xử trí không đúng và kịp thời. Để điều trị hiệu quả NKVM cơ tử cung và đề ra những biện pháp dự phòng tối ưu hơn, chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm tìm hiểu chủng vi khuẩn nào thường gặp trong NKVM cơ tử cung sau MLT tại bệnh viện Từ Dũ là gì và nhạy với kháng sinh nào.

Trang 1

CHỦNG VI KHUẨN THƯỜNG GẶP TRONG NHIỄM KHUẨN VẾT MỔ CƠ TỬ CUNG SAU MỔ LẤY THAI TẠI BV TỪ DŨ

Lê Thị Thu Hà*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Nhiễm trùng vết mổ cơ TC là một thể nặng của NTVM, ảnh hưởng đến sức khỏe của sản phụ có

thể dẫn đến hậu quả nặng nề như: cắt TC, nhiễm trùng huyết thậm chí có thể ảnh hưởng đến tín mạng nếu chẩn đoán và xử trí không đúng và kịp thời Để điều trị hiệu quả NKVM cơ tử cung và đề ra những biện pháp dự phòng tối ưu hơn, chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm tìm hiểu chủng vi khuẩn nào thường gặp trong NKVM cơ

tử cung sau MLT tại bệnh viện Từ Dũ là gì và nhạy với kháng sinh nào

Phương pháp nghiên cứu: Báo cáo loạt ca Chọn tất cả bệnh nhân được chẩn đoán NTVM cơ tử cung sau

MLT điều trị tại bệnh viện Từ Dũ từ 01/04/2014 đến 31/03/2017 Tiêu chí loại trừ: Bệnh nhân có NTVM cơ tử cung sau phẫu thuật MLT ngoại viện

Kết quả: Qua nghiên cứu 38 trường hợp NKVM sau mổ lấy thai từ 01/04/2014 – 31/03/2017 trong số trên

92.000 trường hợp MLT, chúng tôi rút ra kết luận: chủng vi khuẩn thường gặp trong NKVM cơ tử cung sau MLT là Escherachia colichiếm 38/80 (47,5%) chủng vi khuẩn gây bệnh và chiếm 38/42 (90,4%) trong số mẫu cấy dương tính; Staphylococcus epiderminischiếm 18,7% trong số chủng vi khuẩn gây bệnh và 15/42= 35,7% trong

số mẫu cấy dương tính Staphylococcus aureus với tỉ lệ tương ứng là 12,5% và 23,8%; và Enterococcus7,5% và 14,3% Các chủng vi khuẩn Klebsiella spp, Enterobacter spp, Proteus mirabilisvà Streptococcus sppcó ở tỉ lệ thấp hơn Các loại kháng sinh nhạy với các chủng gây bệnh phần lớn là những kháng sinh phổ rộng thế hệ mới, đắt

tiền như Ticarcillin/clavulanic acid, Imipenem, Piperacillin/Tazobactam; Amikacin

Kết luận: Để dự phòng nhiễm khuẩn do Escherachia coli, ngoài những qui định chung về phòng chống

nhiễm khuẩn, nên rửa âm đạo bằng povidin pha loãng trong chuyển dạ và trước khi mổ lấy thai Mặc khác, trong quá trình chuyển dạ, hạn chế thăm khám âm đạo khi không cần thiết Để dự phòng nhiễm khuẩn do Staphylococcus epiderminis, cần giám sát chặt chẽ công tác vô khuẩn trên da tắm trước khi vào phòng sinh, sử dụng dụng cụ vệ sinh vùng lông mu hợp lý cho phẫu thuật vùng trên xương vệ, tránh sử dụng dao cạo nhằm tránh gây tổn thương trầy sướt da vùng sắp phẫu thuật, rửa tay phẫu thuật đúng qui cách Trong phẫu thuật mổ lấy thai, cần tránh bóc nhau, màng nhau bằng tay Khuyến cáo sử dụng dung dịch sát khuẩn chlorhexidine-alcohol cho vùng da ngay trước khi phẫu thuật và đợi thời gian ít nhất 2 phút trước khi rạch da

Từ khóa: Nhiễm khuẩn vết mổ, mổ lấy thai, vi khuẩn gây bệnh

ABSTRACT

COMMON BACTERIAL STRAINS IN POST-CESAREAN MYOMETRIAL INFECTION AT TU-DU

HOSPITAL

Le Thi Thu Ha * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 22 - No 1- 2018: 118 - 122

Objectives: Surgical myometrial Infection is a severe type of surgical wound infection, affecting health of

pregnant women and may lead to consequences: hysterectomy, sepsis, or even death if not diagnosed and treated soon This research is done in order to effectively treat and prevent Surgical myometrial Infection, to find Common bacterial strains in Post-Cesarean myometrial Infection at Tu Du hospital and which antibiotics they are

* Bệnh viện Từ Dũ

Tác giả liên lạc: TS Lê Thị Thu Hà ĐT: 0903718441 Email: tmv_thuha@yahoo.com

Trang 2

sensitive to

Methods: Case series All patients with diagnosis of myometrial Infection after Cesarean delivery performed

at Tu Du hospital from April 01, 2014 to March 31, 2017 Excludes: patients with diagnosis of myometrial Infection after Cesarean delivery performed at other facilities

Results: From 38 cases diagnosed with myometrial Infection after Cesarean delivery performed at Tu Du

hospital from April 01, 2014 to March 31, 2017 among 92000 C-section cases: we found that: most Common bacterial strain in Post-Cesarean myometrial Infection is Escherachia coli, 38/80 (47.5%) in disease-induced bacterial strains and 38/42 (90.4%) in positive blood culture; Staphylococcus epiderminis 18.7% in disease-induced strains and 15/42 (23.8%) in positive blood culture; Staphylococcus aureus 12.5% and 23.8%; Enterococcus 7.5% and 14.3% Klebsiella spp, Enterobacter spp, Proteus mirabilis and Streptococcus spp have lower rates Effective antibiotics are new generation broad spectrum antibiotics: Ticarcillin/clavulanic acid, Imipenem, Piperacillin/Tazobactam; Amikacin

Conclusions: Besides general rules in infection control, in order to prevent Escherachia coli infection, we

should clean vaginas with diluted povidin in labor and before C-section In addition, in labor, we should not examine vaginas unless nescessary In order to prevent Staphylococcus epiderminis infection, we should supervise skin disinfecting process before entering labor room, use cleaning tools for pubic hair, cleanse hands thoroughly before operation, and should not use razor In C-section, we should not manual removal of the placenta It is advised to use chlorhexidine-alcohol as disinfectant and wait at lease 2 minutes before incision

Keywords: Surgial wound infection, C-section, disease-induced bacterial strains

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) là một biến

chứng hay gặp nhất sau phẫu thuật, chiếm

khoảng 38% trong số nhiễm khuẩn bệnh viện(3)

Nhiễm khuẩn vết mổ cơ TC là một thể nặng của

NKVM, ảnh hưởng đến sức khỏe của sản phụ có

thể dẫn đến hậu quả nặng nề như: cắt TC, nhiễm

khuẩn huyết thậm chí có thể ảnh hưởng đến tính

mạng nếu chẩn đoán và xử trí không đúng và

kịp thời(5) Bệnh viện Từ Dũ là một trong những

bệnh viện chuyên ngành sản phụ khoa hàng đầu

của nước ta với số mổ lấy thai khoảng 30.000 -

32.000 hàng năm Mặc dù bệnh viện đã có nhiều

nổ lực đề ra các biện pháp dự phòng NKVM, tuy

nhiên vẫn có một tỉ lệ nhất định NKVM cơ tử

cung xảy ra Để điều trị hiệu quả NKVM cơ tử

cung và đề ra những biện pháp dự phòng tối ưu

hơn, chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm tìm

hiểu chủng vi khuẩn nào thường gặp trong

NKVM cơ tử cung sau MLT tại bệnh viện Từ Dũ

Câu hỏi nghiên cứu: chủng vi khuẩn thường

gặp trong NKVM cơ tử cung là gì và nhạy với

những kháng sinh nào?

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Mô tả loạt ca

Đối tượng nghiên cứu

Tất cả bệnh nhân có chẩn đoán sau phẫu thuật lần 2 là NKVM cơ tử cung sau phẫu thuật MLT ngay trước đó tại viện và được điều trị tại bệnh viện Từ Dũ từ 01/04/2014 đến 31/03/2017

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Tất cả bệnh nhân được chẩn đoán NKVM cơ

tử cung sau phẫu thuật MLT theo CDC (2,4)tại viện và được điều trị tại bệnh viện Từ Dũ trong khoảng thời gian nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân có NKVM cơ tử cung sau phẫu thuật MLT ngoại viện

Các biến số được ghi nhận: tuổi mẹ, khởi phát chuyển dạ, ối vỡ, vi khuẩn từ các mẫu cấy (dịch ổ bụng, dịch từ vết mổ cơ tử cung), kháng sinh nhạy vi khuẩn

Trang 3

Các biến số, dữ liệu được nhập vào phần

mềm Microsoft excel 2010 và xử lý phân tích

thống kê bằng phần mềm SPSS phiên bản 20

Các biến số định tính được biểu diễn theo tần

suất, tỉ lệ phần trăm Các biến số định lượng

được biểu diễn theo trung bình, độ lệch chuẩn

đối với phân phối chuẩn hoặc theo trung vị đối

với phân phối không chuẩn

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trong khoảng thời gian từ 01/04/2014 –

31/03/2017, với trên 92.000 trường hợp MLT,

chúng tôi đã tiến hành thu thập được 38 trường

hợp NKVM cơ tử cung được phẫu thuật lại tại

bệnh viện Từ Dũ thỏa tiêu chí chọn mẫu, kết quả

như sau (Bảng 1)

Đặc điểm liên quan chuyển dạ

Bảng 1 Đặc điểm liên quan chuyển dạ

Khởi phát CD

Sử dụng oxytocin

Sốt trước phẫu thuật

Vỡ ối trước phẫu thuật

Đa số các trường hợp (82%) trong nhóm

nghiên cứu được phẫu thuật lần đầu khi chưa

vào chuyển dạ Trên 90% các trường hợp không

có sốt trước phẫu thuật, 3 trường hợp sốt trước

phẫu thuật có 2 trường hợp không ghi nhận ối

vỡ, 1 trường hợp ối vỡ 8g20 phút

Bảng 2 Phân bố các chủng vi khuẩn gây bệnh

Vi khuẩn

Escherichia coli 38 47,5% (90,4%)

Staphylococcus epidermidis 15 18,7% (35,7%)

Staphylococcus aureus 10 12,5% (23,8%)

Enterococcus 6 7,5% (14,3%)

Klebsiella spp 5 6,3% (11,9%)

Enterobacter spp 2 0,2% (4,8%)

Proteus mirabilis 2 0,2% (4,8%)

Streptococcus spp 2 0,2% (4,8%)

Bảng 3 Tỉ lệ nhạy với kháng sinh của E coli

Bảng 4 Tỉ lệ nhạy kháng sinh của S epidermidis

Bảng 5 Tỉ lệ nhạy với kháng sinh của Staphylococcus aureus

BÀN LUẬN

Chẩn đoán NKVM cơ TC

Nhiễm khuẩnvết mổ (NKVM) là những nhiễm khuẩn tại vết mổ xuất hiện trong vòng 30 ngày sau phẫu thuật đối với các phẫu thuật không cấy ghép và trong vòng 1 năm sau phẫu thuật với các phẫu thuật có cấy ghép(4)

NKVM thường được chia theo có 3 mức độ tương ứng với phân chia giải phẫu: (1) NKVM

Trang 4

nông: da - tổ chức dưới da, (2) NKVM sâu: cân

cơ – cơ, (3) NKVM ở cơ quan/khoang cơ thể

Theo CDC (Center For Disease Control And

Prevention)(4): NKVM được định nghĩa là khi có

sự tăng sinh của vi sinh vật gây bệnh tại vị trí

rạch da hoặc niêm mạc được thực hiện bởi Bác sĩ

phẫu thuật()

Tiêu chuẩn lâm sàng định nghĩa NKVM bao

gồm một trong các yếu tố sau:

Có mủ chảy ra từ vết mổ

Phân lập được vi khuẩn từ mẫu bệnh phẩm

thu được của dịch hoặc mô từ vết mổ

Chẩn đoán của phẫu thuật viên hoặc bác sĩ

lâm sàng

Vết mổ yêu cầu phải mổ lại

Định nghĩa này không đề cập đến việc có

hay không có vi sinh vật được phân lập từ vết

thương, mặc dù đây là yếu tố giúp quyết định

liệu pháp điều trị Trên thực tế lâm sàng, có

25-50% trường hợp vết thương nhiễm khuẩn nhưng

không phân lập được vi sinh vật, ngược lại các vi

khuẩn vẫn có thể phân lập được từ các vết

thương đã lành tốt Vì vậy để chẩn đoán một vết

thương có nhiễm khuẩn hay không cần dựa vào

các triệu chứng lâm sàng và nhất là có sự hiện

diện của mủ tại vết thương

NKVM cơ TC là NKVM cơ quan/ khoang cơ

thể Trong nghiên cứu chúng tôi, chẩn đoán

NKVM dựa vào tiêu chuẩn lâm sàng của phẫu

thuật viên khi mổ lại

Trong khoảng thời gian từ 01/04/2014 –

31/03/2017, với trên 92.000 trường hợp MLT,

chúng tôi ghi nhận có 38 trường hợp được chẩn

đoán NKVM cơ tử cung tại viện

Tỉ lệ mẫu cấy dương tính

Theo kết quả nuôi cấy tại Khoa vi sinh bệnh

viện Từ Dũ, trong số mẫu cấy sản dịch có

khoảng từ 15- 20% dương tính trong chẩn đoán

viêm nội mạc tử cung(1)

Trong nghiên cứu này, với 76 mẫu cấy từ

dịch ổ bụng và vết mổ cơ tử cung có 42 mẫu

dương tính (55,3%) dương tính Ba chủng

thường gặp là Escherichia coli (38/42= 90,4%); Staphylococcus epidermidis (15/42= 35,7%) và Staphylococcus aureus (23,8%) Có 14 mẫu cấy

đa vi khuẩn

Chủng vi khuẩn gây bệnh thường gặp trong NKVM cơ tử cung

Kết quả cấy vi sinh cho thấy, Escherachia coli

là chủng vi khuẩn chiếm tỉ lệ cao nhất trong số chủng vi khuẩn gây bệnh 38/80 (47,5%) và chiếm 38/42 (90,4%) trong số mẫu cấy dương tính

Escherachia coli là vi khuẩn đường ruột, xâm

nhập vào âm đạo và đi ngược dòng vào tử cung gây nhiễm khuẩn Để dự phòng nhiễm khuẩn do

Escherachia coli, ngoài những qui định chung về

phòng chống nhiễm khuẩn, nên rửa âm đạo bằng povidin pha loãng trong chuyển dạ và trước khi mổ lấy thai Mặc khác, trong quá trình chuyển dạ, hạn chế thăm khám âm đạo khi không cần thiết

Chủng vi khuẩn thường gặp thứ 2 sau

E.coli trong nghiên cứu là Staphylococcus epiderminis, chiếm 18,7% trong số chủng vi

khuẩn gây bệnh và 15/42= 35,7% trong số mẫu

cấy dương tính Đây là một vi khuẩn thường

trú trên da vì vậy công tác vô khuẩn trên da cần được chú trọng: tắm trước khi vào phòng sinh, sử dụng dụng cụ vệ sinh vùng lông mu hợp lý cho phẫu thuật vùng trên xương vệ, tránh sử dụng dao cạo nhằm tránh gây tổn thương trầy sướt da vùng sắp phẫu thuật, rửa tay phẫu thuật đúng qui cách(2,7) Trong phẫu thuật mổ lấy thai, cần tránh bóc nhau, màng nhau bằng tay Khuyến cáo sử dụng dung dịch sát khuẩn chlorhexidine-alcohol cho vùng da ngay trước khi phẫu thuật và đợi thời gian ít nhất 2 phút trước khi rạch da 122 Tất

cả các biện pháp nhằm phòng chống nhiễm khuẩn đã và đang được Ban giám đốc bệnh viện đẩy mạnh và kiểm soát nghiêm ngặt

Những kháng sinh nhạy với các chủng vi khuẩn gây bệnh

Trang 5

Theo kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết

các chủng vi khuẩn gây bệnh nhạy với các kháng

sinh phổ rộng và thế hệ mới, đắt tiền như

Ticarcillin/clavulanic acid, Imipenem,

Piperacillin/Tazobactam; Amikacin Với tình

trạng đề kháng kháng sinh ngày càng tăng cao

hiện nay, việc dùng các kháng sinh mạnh này có

nguy cơ kháng thuốc Vì vậy việc phòng chống

nhiễm khuẩn ngoài việc mang lại sức khỏe cho

người bệnh, giảm thời gian nằm viện, giảm sử

dụng thuốc kháng sinh mạnh và giảm tình trạng

đề kháng kháng sinh trong tương lai

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 38 trường hợp NKVM sau

mổ lấy thai từ 01/04/2014 – 31/03/2017 trong số

trên 92.000 trường hợp MLT, chúng tôi rút ra kết

luận: chủng vi khuẩn thường gặp trong NKVM

cơ tử cung sau MLT là Escherachia coli chiếm 38/80

(47,5%) chủng vi khuẩn gây bệnh và chiếm 38/42

(90,4%) trong số mẫu cấy dương tính;

Staphylococcus epiderminis chiếm 18,7% trong số

chủng vi khuẩn gây bệnh và 15/42= 35,7% trong

số mẫu cấy dương tính Staphylococcus aureus với

tỉ lệ tương ứng là 12,5% và 23,8%; và Enterococcus

7,5% và 14,3% Các chủng vi khuẩn Klebsiella spp,

Enterobacter spp, Proteus mirabilis và Streptococcus

spp có ở tỉ lệ thấp hơn Các loại kháng sinh nhạy

với các chủng gây bệnh phần lớn là những kháng sinh phổ rộng thế hệ mới, đắt tiền Việc

dự phòng nhiễm khuẩn đặt biệt cần được quan tâm hơn nữa về thực hiện rửa âm đạo khi chuyển dạ và trước khi MLT, hạn chế thăm khám âm đạo trong quá trình chuyển dạ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bệnh viện Từ Dũ, Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn (2014) "Báo cáo tổngkết tổng kết cuối năm" pp.1-13

2 Bộ Y tế, Cục quản lý khám chữa bệnh (2012) "Tài liệu đào tạo phòng và kiểm soát nhiễm khuẩn" pp.11-12

3 Eli N, Perencevich KES., Cosgrove SE, Guadagnoli E, Meara E,

Platt R (2003) Emerging infectious diseases, 9(2):pp.196-204

4 Horan TC, Gaynes RP, Martone WJ, et al (1992) "CDC

definitions of nosocomial surgical site infections, 1992: a modification of CDC definitions of surgical wound infections"

Infect Control Hosp Epidemiol, 13(10):pp.606-8

5 Jido T, Garba I (2012) "Surgical-site Infection Following

Cesarean Section in Kano, Nigeria" Ann Med Health Sci Res,

2(1):pp.33-6

6 Mangram AJ, Horan TC, Pearson ML, et al (1999) “Guideline for Prevention of Surgical Site Infection” American Journal of Infection

Control, 27(2):pp.97-134

7 Stonecypher K (2009) "Going around in circles: is this the best

practice for preparing the skin?" Crit Care Nurs Q, 32(2):pp.94-8

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 20/10/2017

Ngày đăng: 16/01/2020, 00:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w