1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bệnh động mạch ngoại biên không triệu chứng trên bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát

7 61 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 317,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày việc khảo sát tần suất bệnh động mạch ngoại biên không triệu chứng trên bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát. Phát hiện sớm TTCQĐ không triệu chứng là cần thiết. ABI (chỉ số cổ chân cánh tay) giúp tầm soát và phát hiện bệnh động mạch ngoại biên dưới lâm sàng.

Trang 1

BỆNH ĐỘNG MẠCH NGOẠI BIÊN KHÔNG TRIỆU CHỨNG TRÊN BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP NGUYÊN PHÁT

Lê Tự Phương Thuý*, Lê Thượng Vũ ** , Phạm Nguyễn Vinh ***

TÓM TẮT

Mở đầu: Tăng huyết áp (THA) có bệnh suất và tử suất cao qua việc gây ra các tổn thương cơ

quan đích (TTCQĐ) Phát hiện sớm TTCQĐ không triệu chứng là cần thiết ABI (chỉ số cổ chân cánh tay) giúp tầm soát và phát hiện bệnh động mạch ngoại biên dưới lâm sàng

Mục tiêu: Khảo sát tần suất bệnh động mạch ngoại biên không triệu chứng trên bệnh nhân tăng

huyết áp nguyên phát

Đối tượng –Phương pháp nghiên cứu: 165 bn THA nguyên phát không có các TTCQĐ lâm sàng

được nghiên cứu cắt ngang ở ở phòng khám/khoa nội tim mạch BV Nguyễn Tri Phương và Viện Tim Tâm Đức ABI được thực hiện bằng máy tự động đo huyết áp đồng thời tứ chi Các mối tương quan đơn biến và đa biến bằng logistic regression được phân tích nhằm khẳng định sự tương quan độc lập

Kết quả: Tần suất TTCQĐ không triệu chứng ở động mạch ngoại biên trên bệnh nhân tăng huyết

áp nguyên phát: 9,7% Bệnh động mạch ngoại biên có xu hướng thường gặp bên phải hơn bên trái; hai bên hơn là một bên và ít gặp hơn ở nhóm tăng huyết áp mới phát hiện chưa điều trị Bệnh động mạch ngoại biên tương quan với nồng độ acid uric và tuổi

Kết luận: Bệnh động mạch ngoại biên có tần suất không nhỏ trên bn THA Đo ABI là xét nghiệm

nhanh, rẻ tiền, không xâm lấn và khả thi giúp lượng giá tổn thương cơ quan đích không xâm lấn ở Việt Nam

Từ khóa: tăng huyết áp, ABI, bệnh động mạch ngoại biên, acid uric, tuổi

ABSTRACT

ASYMTOMATIC PERIPHERAL ARTERY DISEASE IN PRIMARY HYPERTENSIVE PATIENTS

Le Tu Phuong Thuy, Le Thuong Vu, Pham Nguyen Vinh

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 22 - No 1- 2018: 167 - 172

Background: Hypertension has got high morbidity and mortality due to the induction of target

organ damage (TOD) Early detection of subclinical TOD is necessary ABI (ankle arm index) could help to screen and detect subclinical peripheral arterial disease

Objective: Prevalence of subclinical peripheral artery disease in primary hypertension is to be determined in Vietnam

Methods: 165 primary hypertensive patients without clinical TOD were assessed

cross-sectionally at Outpatient clinics and cardiovascular department of Nguyen Tri Phuong Hospital and Tam Duc Heart Institute ABI was performed by an automated four limb blood pressure measurement

at the same time Univariate and multivariate logistic regression were used to look for independent correlated factors

Results: Frequency of asymptomatic peripheral arterial disease in primary hypertensive patients:

* Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch ****Đại học Y dược tp Hồ Chí Minh ***BV Tim Tâm Đức

Tác giả liên hệ: BS CKII Lê Tự Phương Thuý ĐT:84 903368014 Email:thuyletu@gmail.com

Trang 2

9.7% Peripheral artery disease tends to be more common on the right than on the left; bilateral were more common than unilateral and less common in newly diagnosed untreated hypertension Peripheral artery disease was correlated with uric acid level and age

Conclusion: Peripheral artery disease had a noticeable prevalence in primary hypertension ABI

by automatic four limb blood pressure measurement was a fast, inexpensive, non-invasive and feasible test in evaluating subclinical TOD in Viet Nam

Keywords: hypertension, ABI, peripheral arterial disease, uric acid, age

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tử vong do tim mạch vẫn là nguyên

nhân gây chết hàng đầu thế giới(24) Tăng

huyết áp là nguyên nhân gây ra ít nhất 45%

tử vong do bệnh tim thiếu máu cục bộ và

51% tử vong do đột quỵ(24) Người ta biết

rằng có mối liên hệ chặt chẽ giữa tăng huyết

áp với tăng nguy cơ bệnh động mạch ngoại

biên cũng như bệnh động mạch ngoại biên

và bệnh mạch vành hoặc bệnh mạch máu

não: 40% bệnh nhân bị bệnh mạch vành hay

mạch máu não bị bệnh ĐM ngoại biên

nhưng ngược lại 60% bệnh nhân bị bệnh

bệnh động mạch ngoại biên bị bệnh mạch

vành hay mạch máu não(13) ABI thấp (<0.9)

là dấu hiệu của bệnh động mạch ngoại biên

và tình trạng xơ vữa động mạch tiến triển,

và có giá trị dự báo biến cố tim mạch: ABI

thấp làm tăng gấp hai lần tỷ lệ tử vong

trong 10 năm do tim mạch và các biến cố

mạch vành quan trọng trong các nhóm nguy

cơ Framingham(13) ABI có thể đo bằng các

máy tự động hay dùng máy Doppler kết

hợp với máy đo huyết áp(27) ABI được đo

đồng thời bằng huyết áp tứ chi dễ thực hiện

và hiệu quả tương tự Doppler(4) Yang

2007(25) ghi nhận trên người Trung hoa (4716

người tăng huyết áp và 833 người không

tăng huyết áp bắt cặp theo tuổi và giới) tần

suất bệnh mạch máu ngoại biên với ABI< 0,9

là 8,7% ở người tăng huyết áp và 5% ở người

không tăng huyết áp Bệnh mạch máu ngoại

biên trên người tăng huyết áp có tương

quan độc lập với tuổi, giới, tình trạng đang

hút thuốc lá, tiền sử đột quỵ, nồng độ acid

uric và nồng độ cholesterol(25) Ở Việt Nam,

ABI được khảo sát trên một số dân số nguy

cơ cao như bệnh mạch vành(2), đái tháo đường(6,20,21), nhưng chưa được mô tả trên bn THA Chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm (1) mô tả tần suất bệnh động mạch ngoại biên không triệu chứng và (2) tìm hiểu mối tương quan của bệnh này với các yếu tố nguy cơ tim mạch khác trên bn Việt Nam có THA nguyên phát

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Chọn toàn bộ bệnh nhân được chẩn đoán tăng huyết áp theo tiêu chuẩn Hội Tim mạch Việt Nam đến khám hay nhập viện tại BV Nguyễn Tri Phương và Viện Tim Tâm Đức trong thời gian từ 1/6/2015 đến 30/5/2016, tuổi

từ 35-80 tự nguyện đồng ý tham gia nghiên cứu Các tiêu chuẩn loại trừ gồm (1) Có bằng chứng lâm sàng của tăng huyết áp thứ phát, (2) Mắc các bệnh kèm theo như đái tháo đường, suy thận nặng (độ lọc cầu thận < 30ml/phút), tiểu đạm đại thể, suy tim sung huyết, bệnh van tim, hội chứng vành cấp, bệnh mạch vành đã được chẩn đoán, bệnh động mạch ngoại biên có triệu chứng, có âm thổi động mạch cảnh, các bệnh cấp tính nặng bao gồm cơn gút cấp, suy thập cấp … Bệnh kèm theo không thuốc nhóm bệnh lý tim mạch gồm các bệnh lý bệnh tăng sinh và ung thư, vảy nến, tiền sử ngưng thở khi ngủ đã chẩn đoán, cường giáp hoặc suy giáp (3) Đang điều trị với lợi tiểu thiazide và/hoặc lợi tiểu quai; thuốc huyết áp có losartan, thuốc điều chỉnh rối loạn lipid máu fenobibrate, thuốc chống kết tập tiểu cầu aspirin; thuốc kháng lao pyrazinamid, ethambutol, thuốc kháng siêu vi

Trang 3

ritonavir, đang điều trị các thuốc hạ acid uric

bao gồm allopurinol, febuxostat, probenecid,

benzbromazone và các chế phẩm y học cổ

truyền hạ acid uric hoặc chữa các chứng đau

khớp (kim tiền thảo, diệp hạ châu, lá đại bi, hy

thiêm, thống phong hoàn, thạch kim thang,

râu mèo…) Hóa trị ung thư hoặc độc tế bào

(bao gồm cả cyclosporine và tacrolimus) (4)

Uống bia/rượu mạnh thường xuyên và/hoặc

vừa uống trước khi nhập viện (không kể rượu

vang) Chế độ ăn gây tăng acid uric (nhiều

thịt, hải sản, phủ tạng… trên 3 lần/tuần) (5)

Tiển sử chẩn đoán ngộ độc chì, nghề nghiệp

hoặc tiền sử tiếp xúc chì (làm bình ắc quy…)

(6) Có chống chỉ định đo ABI: đau vùng cẳng,

bàn chân dữ dội; triệu chứng lâm sàng huyết

khối tĩnh mạch sâu hoặc khám lâm sàng ghi

nhận mạch vôi hoá, cứng, không thể ép được

Cỡ mẫu

Tỷ lệ bệnh động mạch ngoại biên trên

bệnh nhân tăng huyết áp trong các nghiên

cứu ở Việt Nam và thế giới là 5-8,7%(25) Để

đạt cỡ mẫu lớn nhất với sai lầm loại 1 alpha

5%, độ mạnh 80%, d= 0,05, chúng tôi tính cỡ

mẫu với tỷ lệ dự đoán 50% Cỡ mẫu tối thiểu

là 164 bệnh nhân

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang, mô tả có phân

tích

Quy trình thực hiện nghiên cứu

Huyết áp được sau khi bệnh nhân ngồi

hay nằm nghỉ ít nhất 5 phút và không hút

thuốc lá, uống cà phê trước đó Băng quấn

để ở mức ngang tim Trị số được tính trung

bình của 2 lần đo Phân độ THA dựa theo

phân độ của Hội Tim mạch Việt nam Trị số

phân độ dựa vào huyết áp cao nhất khi mới

phát hiện và chưa dùng thuốc

Ở BV Nguyễn tri Phương, ABI được khảo

sát bằng máy chẩn đoán bệnh động mạch

ngoại biên BOSO ABI 100 Ở Tâm Đức, máy

đo ABI là Omron Colin VP-1000 plus Hai máy

này giúp đo huyết áp tứ chi tự động đồng thời

nhanh chóng Bệnh nhân được nằm nghỉ ít nhất 5 phút trước khi đo Băng quấn ở cánh tay phải cách khuỷu 2-3cm, băng quấn ở cổ chân phải cách mắt cá chân 1-2cm Thời gian nghỉ giữa 2 lần đo là tối thiểu 2 phút Chỉ số ABI: bệnh động mạch ngoại biên không triệu chứng khi ABI<0,9 Các tổn thương cơ quan đích khác được đánh giá theo các quy trình thường quy

Phân tích thống kê bằng phần mềm SPSS

15 Khảo sát mối tương quan đơn biến bằng chỉ số tương quan Pearson r hoặc Spearmean’s rho cho các biến không phân

bố chuẩn và đa biến bằng logistic regression Các kiểm định có ý nghĩa thống

kê khi trị số p < 0,05

KẾT QUẢ

Có 180 bệnh nhân được sàng lọc Có 15 bệnh nhân bị loại do có ít nhất một tiêu chuẩn loại trừ Tổng cộng có 165 bệnh nhân được thu nhận vào nghiên cứu

Các đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu

Trong 165 bệnh nhân có 55 nam chiếm tỷ

lệ 33,3% Tỷ lệ nam: nữ = 55:110 = 1:2 Tuổi trung bình ± độ lệch chuẩn 58,20 ± 9,60 (năm) BMI 23,70 ± 3,20 (kg/m2) BMI trung bình nằm trong khoảng quá cân theo chỉ số BMI cho bệnh nhân châu Á Mức độ nặng tăng huyết áp theo Hội Tim mạch VN: độ 1:

9 bệnh nhân (5,5%); độ 2: 55 bệnh nhân (33,3%); độ 3: 101 bệnh nhân (61,2%) Khoảng ¼ bệnh nhân mới biết tăng huyết áp lần đầu Trung vị thời gian THA là 3 năm Giảm chức năng thận không triệu chứng (độ lọc cầu thận ước tính, hiệu chỉnh 30-60ml/phút) hiện diện trên 52 trường hợp có tần suất 31,5% Trung vị cholesterol toàn phần trên 5,2mmol/L; trung vị HDL cholesterol dưới 1,3mmol/L khẳng định trên 50% bệnh nhân có rối loạn lipid máu

Trang 4

Bệnh động mạch ngoại biên qua chỉ số cổ

chân-cánh tay

Chỉ số cổ chân -cánh tay (Trung bình ±

Độ lệch chuẩn) là phải: 1,056 ± 0,107; trái:

1,066 ± 0,099

Bảng 1: Bệnh động mạch ngoại biên

Biến Tần số Tần suất

(%)

Bệnh động mạch ngoại biên một

bên

Bệnh động mạch ngoại biên hai

bên

Nhận xét: 1/10 bệnh nhân nghiên cứu có

bệnh động mạch ngoại biên

Các yếu tố tiên lượng Bệnh động mạch

ngoại biên

Một mô hình hồi quy logictic đã được

hình thành nhằm đánh giá ảnh hưởng của

tuổi, giới, cân nặng, BMI, có hút thuốc lá,

huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương, thời

gian tăng huyết áp, cholesterol toàn phần,

LDL cholesterol, triglycerid, độ lọc cầu thận

ước tính, nồng độ AUHT trên nguy cơ có

bệnh động mạch ngoại biên của bệnh nhân

tăng huyết áp nguyên phát Mô hình hồi

quy có ý nghĩa thống kê với chi bình

phương bằng 27,9; P =0,009 Mô hình giải

thích 33,1% (Negelkerke R2) sự thay đổi của

bệnh động mạch ngoại biên và phân loại

đúng 90,9% các trường hợp

Bảng 2: Các yếu tố giúp tiên lượng sự hiện diện

có bệnh động mạch ngoại biên sau hiệu chỉnh

B* Exp (B)* Khoảng tin cậy 95%* P*

*: kết quả sau hiệu chỉnh với giới, cân nặng, BMI, có

hút thuốc lá, huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương,

thời gian tăng huyết áp > 3 năm, cholesterol, LDL

cholesterol, triglycerid, độ lọc cầu thận ước tính

Bệnh nhân có nồng độ acid uric tăng 1

µmol/L thì sẽ 1,010 lần nhiều khả năng hơn có

bệnh động mạch ngoại biên (10 µmol/L tăng

1,1 lần khả năng có bệnh động mạch ngoại biên) Bệnh nhân có tuổi tăng 1 năm thì sẽ 1,133 lần nhiều khả năng hơn có bệnh động mạch ngoại biên

Kết quả phân tích dưới nhóm các bệnh nhân tăng huyết áp mới chẩn đoán, chưa sử dụng thuốc (để loại hiệu quả của việc điều trị)

Có 40 bệnh nhân không có tiền sử tăng huyết áp và không dùng thuốc tim mạch: huyết áp/rối loạn lipid máu/kháng kết tập tiểu cầu trước nhập viện (tăng huyết áp mới chẩn đoán, chưa sử dụng thuốc) được phân tích dưới nhóm Trong 40 bệnh nhân có 11 nam chiếm tỷ lệ 27,5% Tỷ lệ nam: nữ = 11:29

~ 3:7 Tuổi trung bình 57± 11,2 Giảm chức năng thận không triệu chứng (độ lọc cầu thận ước tính, hiệu chỉnh 30-60ml/phút) hiện diện trên 13/40 trường hợp có tần suất 32,5% Mức độ nặng tăng huyết áp theo ESC: độ 1: 2 bệnh nhân (5%); độ 2: 11 bệnh nhân (27.5%); độ 3: 27 bệnh nhân (67.5%) Trung vị cholesterol toàn phần trên 5,9 mmol/L khẳng định trên 50% bệnh nhân có rối loạn lipid máu Huyết áp tâm thu trung bình 180,8 ± 18,4; huyết áp tâm trương trung bình 89,7±17,1 mmHg Chỉ số cổ chân -cánh tay (Trung bình±Độ lệch chuẩn) là phải: 1,060±0,084; trái: 1,073±0,092 Có bệnh động mạch ngoại biên ở nhóm tăng huyết áp mới chẫn đoán là 7,5% (khác biệt không có ý nghĩa thống kê với nhóm bn nghiên cứu)

BÀN LUẬN

Các đặc điểm chung của 165 bệnh nhân nghiên cứu

Tuổi bệnh nhân trung bình là 58,2 ± 9,6 cao hơn tuổi trung bình trong các nghiên cứu tăng huyết áp dao động từ 44,9 ± 1,3(5) đến 55,0 ± 12,4(1) trên thế giới; nhưng tương

tự Châu Ngọc Hoa(3) là 59,1 ± 2,8; và thấp hơn Phạm Ngọc Kiếu(18) là 61,4 ± 15,1 Nghiên cứu chúng tôi có tỷ lệ nam: nữ tương tự Lý Lan Chi(12) 1:2 và Ofori(17) BMI trung bình chúng tôi là 23,7 ± 3,2, Phạm

Trang 5

Ngọc Kiếu(18) 23,47; và một nghiên cứu cộng

đồng ở Nhật trong đó BMI ở nam là 23,7 và

nữ là 23,1(26) Tuy nhiên BMI chúng tôi thấp

hơn các tác giả Nigeria, Ý, Hy Lạp:

Tsioufis(22) là 28,6kg/m2; Ofori (17) 29,0±5,0;

Viazzi 26,4±3,6 kg/m2(23)

Trong nhóm nghiên cứu THA độ I là

5,5%; độ II là 33,3%, và độ III chiếm 61,2%

(phân loại của Hội Tăng Huyết Áp Việt

Nam(9)) gần tương tự Lý Lan Chi(12) Độ I của

chúng tôi thấp hơn của Phạm Ngọc Kiếu(18)

(P <0,001) Ofori(17) chỉ khảo sát THA nhẹ và

trung bình Như vậy nhóm nghiên cứu chọn

những bệnh nhân THA nhập viện có độ

nặng tăng huyết áp hoặc cao hơn hoặc bằng

các nghiên cứu khác

Tần suất tăng huyết áp chưa điều trị

nhóm nghiên cứu 24,2% Hoàng Quốc Hòa(8)

báo cáo tỷ lệ không điều trị là 8,3% Nguyễn

Văn Hoàng(15,16) có 35,1% phát hiện tăng

huyết áp lần đầu Tần suất bệnh nhân không

biết tăng huyết áp vì vậy không điều trị

hoặc biết huyết áp mà không điều trị ở cộng

đồng là 70,4%(14) Tần suất tăng huyết áp

không điều trị chúng tôi 24,2% thấp hơn tần

suất THA chưa điều trị trong cộng đồng

nhưng tương tự các nghiên cứu khác

Tần suất hút thuốc lá trong nghiên cứu

là 26,1% tương tự Tsioufis(22) là 31,8%

Gomez-Marcos 22,6%(7) (P=0,14-0,38) Hút

thuốc lá có thể ảnh hưởng đến sự xuất hiện

các tổn thương cơ quan đíchvà vì vậy được

coi như là biến gây nhiễu

Bệnh động mạch ngoại biên

Tỷ lệ bệnh động mạch ngoại biên qua chỉ

số ABI trong nghiên cứu chúng tôi là 9,7%

Việc tầm soát bệnh động mạch ngoại biên

không triệu chứng có vẻ chưa được áp dụng

rộng rãi Trong y văn, chỉ mới có Yang(25)

khảo sát trên 4716 bệnh nhân THA và ghi

nhận tỷ lệ bệnh động mạch ngoại biên qua

chỉ số ABI là 8,7% Như vậy, có vẻ kết quả

của chúng tôi tương đương với kết quả của

tác giả này Bệnh động mạch ngoại biên thường gặp bên phải hơn bên trái và hai bên hơn là một bên Sự khác biệt này chưa có ý nghia thống kê Bệnh động mạch ngoại biên

ít gặp hơn ở nhóm tăng huyết áp mới phát hiện chưa điều trị nhưng khác biệt cũng không có ý nghĩa thống kê

Bệnh động mạch ngoại biên và các yếu tố tương quan

Trong nghiên cứu này chúng tôi chứng minh được AUHT là yếu tố tiên lượng độc lập có hoặc không có bệnh động mạch ngoại biên song song với tuổi, và không phụ thuộc vào hiệu quả của giới, cân nặng, BMI, có hút thuốc lá, huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương, thời gian tăng huyết áp, cholesterol toàn phần, LDL cholesterol, triglycerid, độ lọc cầu thận ước tính Bệnh nhân có nồng độ acid uric tăng 10 µmol/L tăng 1,1 lần khả năng có bệnh động mạch ngoại biên Bệnh nhân có tuổi tăng 1 năm thì sẽ 1,133 lần nhiều khả năng hơn có bệnh động mạch ngoại biên

Kết quả này phù hợp với y văn Bệnh động mạch ngoại biên có mối liên hệ chặt chẽ với tăng acid uric trên các nghiên cứu trong cộng đồng người Trung hoa(11,27) và Hoa kỳ(19) Langlois (2003) khảo sát bệnh động mạch ngoại biên ở 145 bệnh nhân tăng huyết áp không có bệnh động mạch ngoại biên và 166 bệnh nhân tăng huyết áp có bệnh động mạch ngoại biên(10) AUHT tương quan với có bệnh động mạch ngoại biên (khoảng cách đi cách hồi tuyệt đối absolute claudication distance: ACD đánh giá với nghiệp pháp thảm lăn), tuổi, triglycerid và insulin; không phụ thuộc vào các thành tố của hội chứng chuyển hóa, tuổi, giới, đái tháo đường, hiệu áp, cholesterol, C-reactive protein, điều trị và chức năng thận Yang

2007 ghi nhận trên người Trung hoa (4716 người tăng huyết áp và 833 người không tăng huyết áp bắt cặp theo tuổi và giới) tần suất bệnh mạch máu ngoại biên là 8,7% ở

Trang 6

người tăng huyết áp và 5% ở người không

tăng huyết áp(25) Bệnh mạch máu ngoại biên

có tương quan độc lập với nồng độ acid uric

sau khi đã hiệu chỉnh với tuổi, giới, đang

hút thuốc lá, tiền sử đột quỵ và nồng độ

cholesterol(25) Trong phân tích dưới nhóm ở

các bệnh nhân chưa điều trị, cả tuổi, huyết

áp tâm thu, triglycerid lẫn nồng độ AUHT

đều không giúp tiên lượng sự có mặt của

bệnh động mạch ngoại biên Kết quả này có

lẽ do cỡ mẫu nhỏ với chỉ có 40 bệnh nhân

chưa điều trị Các bệnh nhân mới chẩn đoán

chưa điều trị có lẽ do thời gian tăng huyết

áp ngắn nên chưa có biểu hiện bệnh động

mạch ngoại biên dưới lâm sàng

Điểm mạnh của nghiên cứu

Lần đầu tiên khảo sát tổn thương cơ

quan đích trên bệnh nhân tăng huyết áp

nguyên phát bằng chỉ số ABI Phân tích đơn

và đa biến Thiết kế nghiên cứu có phân tích

dưới nhóm bệnh nhân chưa điều trị giúp

loại trừ các yếu tố gây nhiễu khác nhau giúp

khẳng định chắc chắn mối tương quan giữa

AUHT là có thật và giúp chắc chắn về mối

quan hệ tương quan có tính độc lập

Hạn chế

Thời gian thực hiện đề tài ngắn nên

chỉ có thể tiến hành nghiên cứu cắt

ngang không thể giúp kết luận về mối

quan hệ nhân quả Mặc dầu không tính chỉ

số ABI bằng Doppler, chúng tôi sử dụng

máy đo ABI chuyên dụng được chấp thuận

bởi các Hội chuyên môn

KẾT LUẬN

Tần suất bệnh động mạch ngoại biên

trên bệnh nhân tăng huyết áp đo bằng ABI

là 9,7% Bệnh động mạch ngoại biên có xu

hướng thường gặp bên phải hơn bên trái;

hai bên hơn là một bên và ít gặp hơn ở

nhóm tăng huyết áp mới phát hiện chưa

điều trị Đo ABI là xét nghiệm nhanh, rẻ

tiền, không xâm lấn và khả thi giúp lượng

giá tổn thương cơ quan đích không xâm lấn

ở Việt Nam

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Asbeutah AM, AlMajran AA, Asfar SK (2016),

"Diastolic versus systolic ankle-brachial pressure index using ultrasound imaging & automated oscillometric measurement in diabetic patients with

calcified and non-calcified lower limb arteries",BMC

Cardiovasc Disord, 16(1), 202

2 Bùi Cao Mỹ Ái, Võ Thành Nhân (2010), "KHẢO SÁT CHỈ SỐ MẮT CÁ CHÂN - CÁNH TAY Ở BỆNH

NHÂN BỆNH ĐỘNG MẠCH VÀNH",Y học Thành phố

Hồ Chí Minh, 14(1), 379

3 Châu Ngọc Hoa, Lê Hoài Nam (2009), "Khảo sát nồng

độ acid uric huyết thanh ở bệnh nhân tăng huyết áp

và ở người bình thường",Y học Thành Phố Hồ Chí Minh,

13(Phụ bản của số 1), 87-91

4 Dmitriev VA, Oshchepkova EV, Titov BN, Rogoza AN

et al (2013), "[Is there an association of uric acid level with preclinical target organ damage in moderate- and high-risk hypertensive patients?] [english

abstract]",Ter Arkh, 85(9), 52-57

5 Đoàn thị Anh Đào (2016), "ĐÁNH GIÁ CHỈ SỐ HUYẾT ÁP CỔ CHÂN-CÁNH TAY TRONG CHẨN ĐOÁN BỆNH ĐỘNG MẠCH CHI DƯỚI Ở BỆNH

NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG",Tạp chí Tim mạch học Việt

Nam, Hội nghị Tim mạch Việt Nam 2016

6 El Azeem HA (2011), "ASSOCIATION OF HYPERURICEMIA AND CAROTID INTIMA-MEDIA THICKNESS WITH TARGET ORGAN DAMAGE IN

HYPERTENSION",Al-Azhar Assiut Medical Journal,

9(1), 127-145

7 Gomez-Marcos MA, Recio-Rodriguez JI, Patino-Alonso

MC, Agudo-Conde C et al (2013), "Relationship between uric acid and vascular structure and function

in hypertensive patients and sex-related

differences",Am J Hypertens, 26(5), 599-607

8 Hoàng Quốc Hòa (2007), "Khảo sát nồng độ acid uric

huyết thanh ở bn tăng huyết áp",Y học Thành Phố Hồ

Chí Minh, 11(Phụ bản 4 Chuyên đề Khoa học Kỹ thuật

BV NDGD), 39-43

9 Huỳnh Văn Minh (2015), "Khuyến cáo về Chẩn đoán, Điều trị và Dự phòng Tăng huyết áp của Hội Tim

mạch học Quốc Gia Việt Nam 2015",Khuyến cáo về

Chẩn đoán và Điều trị Tăng huyết áp 2015, 1-34

10 Langlois M, De Bacquer D, Duprez D, De Buyzere M

et al (2003), "Serum uric acid in hypertensive patients

disease",Atherosclerosis, 168(1), 163-168

11 Li Y, Lu J, Wu X, Yang C (2013), "Serum uric acid concentration and asymptomatic hyperuricemia with

population",Angiology, 65(7), 634-640

12 Lý Lan Chi, Ngô Văn Truyền (2009), "Nồng độ acid uric huyết thanh với Lipid máu trên bệnh nhân tăng

huyết áp nguyên phát",Tạp chí y học thực hành, 682,

683, 391-394

Trang 7

13 Mancia G, Fagard R, Narkiewicz K, Redon J et al

(2013), 2013 ESH/ESC Guidelines for the management of

arterial hypertension

14 Nguyễn Lân Việt (2015), "Kết quả mới nhất điều tra

tăng huyết áp toàn quốc 2015-2016",Hội nghị Tăng

huyết áp Việt Nam lần 2 năm 2016, 1-35

15 Nguyễn Văn Hoàng, Nguyễn Anh Vũ (2014), "Mối

tương quan giữa nồng độ acid uric huyết thanh với

các thành tố của hội chứng chuyển hóa, chỉ số

Sokolow- lyon, chức năng thận",Tạp chí Tim mạch học

Việt Nam, 66, 132

16 Nguyễn Văn Hoàng, Nguyễn Anh Vũ (2014), "Nghiên

cứu nồng độ acid uric huyết thanh ở bệnh nhân hội

chứng chuyển hóa có và không có tăng huyết áp",Tạp

chí Tim mạch học Việt Nam, 66, 167

17 Ofori SN, OdiaOJ (2014), "Serum uric acid and target

organ damage in essential hypertension" Vasc Health

Risk Manag, 10, 253-261

18 Phạm Ngọc Kiếu, Phạm Ngọc Trung, Ngô Văn Truyền

(2012), "Nghiên cứu nồng độ Acid Uric huyết thanh ở

người tăng huyết áp nguyên phát",Tạp chí Nội tiết đái

tháo đường(6), 695

19 Shankar A, Klein BE, Nieto FJ, Klein R (2008),

"Association between serum uric acid level and

peripheral arterial disease",Atherosclerosis, 196(2),

749-755

20 Trần Bảo Nghi, Hồ Thượng Dũng (2011), "Giá trị chẩn

đoán của chỉ số abi và các yếu tố nguy cơ trong bệnh

lý động mạch ngoại biên chi dưới trên bệnh nhân đái

tháo đường",Y học Tp Hồ Chí Minh, 15(1), 255-262

21 Trần Hồng Chuyên (2013), "Chỉ số huyết áp tâm thu cổ

chân cánh tay (ABI) ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2

điều trị tại bệnh viện Đa Khoa Trung Ương Thái

Nguyên",Luận Văn Nội trú Đại học Y Dược Thái nguyên

22 Tsioufis C, Chatzis D, Vezali E, Dimitriadis K et al (2005), "The controversial role of serum uric acid in essential hypertension: relationships with indices of

target organ damage",J Hum Hypertens, 19(3), 211-217

23 Viazzi F, Parodi D, Leoncini G, Parodi A et al (2005),

"Serum uric acid and target organ damage in primary

hypertension",Hypertension, 45(5), 991-996

24 World Health Organization-Department of Health Statistics and Informatics (2011) Causes of Death

2008 (2011 ed., pp 1-28) World Health Organization

25 Yang X, Sun K, Zhang W, Wu H et al (2007),

"Prevalence of and risk factors for peripheral arterial disease in the patients with hypertension among Han

Chinese",J Vasc Surg, 46(2), 296-302

26 Yoshimura A, Adachi H, Hirai Y, Enomoto M et al (2014), "Serum uric acid is associated with the left ventricular mass index in males of a general

population",Int Heart J, 55(1), 65-70

27 Zhan Y, Dong Y, Tang Z, Zhang F et al (2015), "Serum Uric Acid, Gender, and Low Ankle Brachial Index in

Adults With High Cardiovascular Risk",Angiology,

66(7), 687-691

Ngày nhận bài báo: 16/11/2017 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 21/11/2017 Ngày bài báo được đăng: 15/03/2018

Ngày đăng: 16/01/2020, 00:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w