1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm lâm sàng, X quang và giải phẫu bệnh bướu nguyên bào men ở người Việt Nam

9 57 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 381,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết mô tả đặc điểm lâm sàng, X quang và giải phẫu bệnh bướu nguyên bào men (BNBM) ở người Việt và phân tích sự liên quan giữa các yếu tố này.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, X QUANG VÀ GIẢI PHẪU BỆNH

BƯỚU NGUYÊN BÀO MEN Ở NGƯỜI VIỆT NAM

Võ Đắc Tuyến*, Lê Đức Lánh*, Nguyễn Thị Hồng*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, X quang và giải phẫu bệnh bướu nguyên bào men (BNBM) ở người

Việt và phân tích sự liên quan giữa các yếu tố này

Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả Mẫu nghiên cứu gồm 70 ca BNBM điều trị tại Bệnh

Viện Răng Hàm Mặt Trung Ương Tp.HCM từ năm 2011 đến năm 2013 Các dữ liệu thu thập bao gồm lâm sàng, X quang và giải phẫu bệnh

Kết quả: Tỉ lệ phân bố nam:nữ là 1,12:1 Tuổi trung bình 34,6 ± 14,8 tuổi Tuổi trung bình BNBM dạng

nang 30,5 ± 13,5 tuổi và BNBM dạng đặc 36,8 ± 15,2 tuổi Bướu thường gặp nhất ở tuổi từ 20 đến 39 tuổi (57,7%) Hàm dưới gặp nhiều hơn hàm trên (94,3% so với 5,7% ở hàm trên) Sưng mặt là triệu chứng gặp nhiều nhất (92,9%) Thấu quang một hốc 18,6%, nhiều hốc 81,4% BNBM có đường viền không rõ có tỉ lệ cao nhất 67,1% 24,3% có răng ngầm và 77,1% tiêu chân răng Tỉ lệ thủng vỏ xương là 58,6%, liên quan có ý nghĩa với răng ngầm (p<0,05) Về vi thể, ở bướu dạng nang, dạng trong vách thường gặp nhất (48%), đa số bướu dạng nang có đường viền không rõ là dạng trong vách (p<0,05) Ở bướu dạng đặc, dạng đám rối thường gặp nhất (28,9%), có sự liên quan ý nghĩa giữa dạng vi thể và tuổi Ở tuổi dưới 40 tuổi, dạng đám rối gặp nhiều nhất, trong khi dạng gai và dạng tế bào hạt lại gặp ở tuổi lớn hơn

Kết luận: Các dữ liệu liên quan đến giới tính, tuổi, vị trí, triệu chứng, đặc điểm X quang và giải phẫu bệnh

tương tự như các nghiên cứu trước đây ở trong nước và trên thế giới Trong nghiên cứu này chúng tôi ghi nhận tuổi trung bình ở BNBM dạng nang cao hơn so với một số nghiên cứu khác Dạng mô bệnh học thường gặp ở BNBM dạng nang là dạng trong vách và ở BNBM dạng đặc là dạng đám rối

Từ khóa: Bướu nguyên bào men dạng nang, bướu nguyên bào men dạng đặc

ABSTRACT

CLINICAL, RADIOGRAPHIC AND HISTOPATHOLOGIC CHARACTERISTICS

OF AMELOBLASTOMA AMONG VIETNAMESE

Vo Dac Tuyen, Le Duc Lanh, Nguyen Thi Hong

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 2 - 2016: 146 - 154

Objectives: The aims of this study were to describe and analyze clinical, radiographic and histopathological

features of ameloblastoma among Vietnamese

Materials and methods: Cross-sectional study was conducted A total of 70 cases of ameloblastoma were

treated from 2011 to 2013 at the National Hospital of Odonto-Stomatology in HCM city

Results: Male to female ratio was 1.12:1 The mean age of patients was 34.6 ± 14.8 years The mean age was

30.5 ± 13.5 years for unicystic ameloblastoma and 36.8 ± 15.2 years for solid ameloblastoma The 20-39 year old age group had the highest percentage of occurrence (57.7%) The location of ameloblastomas showed a marked predominance in the mandible (94.3%) Swelling was the most common symptom (92.9%) 18.6% had unilocular radiolucency and 81.4% had multilocular radiolucency There were 47 cases of ill-defined edge (67.1%) There

* Khoa Răng Hàm Mặt, Đại Học Y Dược Tp.HCM

Trang 2

were 17 cases (24.3%) of the tumor associated with embedded teeth in root resorption was 47 cases (77.1%) and cortical perforation was 41 ones (58,6%) There was an association between the cortical perforation and impaction

of teeth (p<0.05) The most frequent histological patterns in solid ameloblastoma were plexiform (28.9%) and in unicystic ameloblastoma were mural (48%) There was an association between the histopathological subtype of solid ameloblastoma and age group and between the histopathological subtype of unicystic ameloblastoma and radiographic boundary (p<0.05)

Conclusions: Data related to gender, age, site distribution, symptoms, and radiographic appearance,

histopathological subtypes were similar to previous studies in various parts of the world In contrast to other reports, we observed that unicystic ameloblastoma can occur in older patients The most common histologic type was plexiform solid ameloblastoma and mural unicystic ameloblastoma

Key words: cystic/unicystic ameloblastoma, solid/multicystic ameloblastoma

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bướu nguyên bào men (BNBM) là một

trong những loại bướu do răng thường gặp

nhất ở xương hàm BNBM đa dạng về lâm

sàng, hình ảnh học, mô bệnh học và đặc biệt là

diễn tiến sinh học Theo phân loại mô học

bướu do răng của WHO năm 2005, BNBM có 4

loại: BNBM dạng đặc, BNBM dạng nang,

BNBM dạng xơ hóa và BNBM ngoại vi hay

ngoài xương(6,7) BNBM luôn được sự quan tâm

đặc biệt của các nhà khoa học, bởi vì, dù được

xem là loại bướu lành tính, nhưng có tính chất

phá hủy, xâm lấn tại chỗ và có tỉ lệ tái phát rất

cao, tỉ lệ tái phát sau điều trị bảo tồn từ 50-90%

và sau điều trị triệt để là 15%(11)

Các thông số liên quan đặc điểm lâm sàng -

bệnh học của BNBM đã được nghiên cứu và báo

cáo ở nhiều nước trên thế giới Ở nước ta, đã có

một số nghiên cứu về lâm sàng, X quang và giải

phẫu bệnh của BNBM, tuy nhiên, phần lớn là các

nghiên cứu hồi cứu thu thập số liệu từ hồ sơ

bệnh án lưu trữ tại bệnh viện, do đó sẽ thiếu

những dữ liệu cần thiết và chính xác, nhất là là

các số liệu liên quan đến đặc điểm đại thể và vi

thể của bướu, vì vậy không thể hoặc khó phân

loại một cách chính xác các thể bệnh của BNBM,

đặc biệt là giữa BNBM dạng đặc và dạng nang,

là hai thể bệnh chính của bướu ở xương hàm

Nghiên cứu nhằm mục tiêu mô tả các đặc

điểm lâm sàng, X quang và giải phẫu bệnh, đồng

thời phân tích sự liên quan giữa các yếu tố này ở

BNBM dạng đặc và BNBM dạng nang nhằm góp

phần trong chẩn đoán và điều trị, cũng như có được những thông số cần thiết về BNBM ở người Việt, làm tư liệu và tham khảo cho những

nghiên cứu sau này

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang, mô tả gồm 70 BNBM điều trị tại bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung Ương Tp HCM đáp ứng đủ tiêu chuẩn chọn mẫu, thuộc mẫu được chọn trong thời gian nghiên cứu từ năm 2011 đến năm 2013

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu, có đầy đủ hồ sơ bệnh án và kết quả giải phẫu bệnh sau mổ là bướu nguyên bào men

Thu thập dữ liệu nghiên cứu

Ghi nhận các dữ liệu về tuổi, giới tính, triệu chứng lâm sàng; các dữ liệu về X quang; đặc điểm đại thể của bướu qua xem xét bệnh phẩm

mổ và dữ liệu về giải phẫu bệnh gồm các phần sau: (1) Chẩn đoán xác định BNBM dựa trên các tiêu chuẩn tế bào học do Vickers và Gorlin đề nghị năm 1970(29) (2) Xác định thể bệnh (dạng đặc: về đại thể là mô đặc, có thể xen lẫn vùng thoái hóa nang - về vi thể các nguyên bào men sắp xếp thành đám hay dải tế bào trong mô đệm sợi; dạng nang: về đại thể chỉ có một túi nang -

về vi thể bao nang được lót bởi biểu mô nguyên bào men)(7,19) (3) Chẩn đoán dạng vi thể: Dạng đặc gồm có túi tuyến, đám rối, gai, tế bào hạt và

tế bào đáy; dạng nang gồm có dạng ống, trong

Trang 3

ống và trong vách

Xử lý số liệu

Nhập dữ liệu và phân tích bằng phần mềm

STATA 12

KẾT QUẢ

Giới tính và tuổi

Tỉ lệ phân bố giới tính tương tự nhau, gồm

37 nam, tỉ lệ 52,9% và 33 nữ, tỉ lệ 47,1% Tỉ lệ

nam:nữ là 1,12:1 Về tuổi, mẫu phân bố ở

nhiều lứa tuổi, nhỏ nhất 14 tuổi, lớn nhất 74

tuổi, trung bình ở BNBM là 34,6 ± 14,8 tuổi, cụ

thể ở BNBM dạng nang là 30,5 ± 13,5 tuổi và ở

BNBM dạng đặc là 36,8 ± 15,2 tuổi

Bảng 1 Phân bố bướu nguyên bào men theo nhóm

tuổi và giới tính

Nhóm tuổi n ( %) Giới tính p

Nam Nữ

0-19 9 (12,9) 8 (88,9) 1 (11,1)

0,025a 20-39 39 (55,7) 19 (48,7) 20 (51,3)

40-59 15 (21,4) 9 (60,0) 6 (40,0)

60+ 7 (10,0) 1(14,3) 6 (85,7)

a : Phép kiểm chính xác Fisher

Thể bệnh

BNBM dạng nang có 25 ca, tỉ lệ 37,5% và

BNBM dạng đặc có 45 ca, tỉ lệ 64,3%

Bảng 2 Liên quan giữa thể bệnh với các nhóm tuổi

0-19 20-39 40-59 60 +

0,15a Dạng nang 25 6

(24,0) 14 (56,0) 4 (16,0) 1 (4,0) Dạng đặc 45 3 (6,7) 25 (55,6) 11(24,4) 6(13,3)

a : Phép kiểm chính xác Fisher

Bảng 3 Liên quan giữa thể bệnh với giới tính

Dạng nang 25 14 (56,0) 11(44,0)

0,69 Dạng đặc 45 23 (51,1) 22 (48,9)

Phép kiểm chi bình phương

Triệu chứng / dấu chứng lâm sàng

Bảng 4 Tỉ lệ và liên quan giữa triệu chứng/dấu

chứng lâm sàng với thể bệnh của BNBM

Lâm sàng n (%) Thể bệnh p

Dạng nang Dạng đặc

Sưng mặt Có 65 (92,9) 24 (96,0) 41 (91,1) 0,65

Không 5 (7,1) 1 (4,0) 4 (8,9)

Lâm sàng n (%) Thể bệnh p

Dạng nang Dạng đặc

Đau Có 25 (35,7) 8 (32,0) 17 (37,8) 0,63b Không 45 (64,3) 17 (68,0) 28 (62,2)

Tê môi, cằm

3 (4,3) 2 (8,0) 1 (2,2)

0,29a

Không 67 (95,7) 23 (92,0) 44 (97,8)

Dò dịch,

mủ

6 (8,6) 1 (4,0) 5 (11,1)

0,41a

Không 64 (91,4) 24 (96,0) 40 (88,9)

Loét niêm mạc

2 (2,9) 1 (4,0) 1 (2,2)

>0,99 Không 68 (97,1) 24 (96,0) 44 (97,8)

Nhổ răng không lành

2 (2,9) 1 (4,0) 1 (2,2)

>0,99a

Không 68 (97,1) 24 (96,0) 44 (97,8)

a : Phép kiểm chính xác Fisher, b : Phép kiểm chi bình phương

Vị trí bướu

Bảng 5 Tỉ lệ và liên quan giữa vị trí bướu với thể

bệnh của BNBM

Vị trí n (%) Dạng

nang

Dạng đặc p Hàm dưới 66

(94,3)

Cằm 2 (3,1) 2 (8,0) 0 (0,0)

0,06a

Cành ngang 8 (12,1) 1 (4,0) 7 (17,1) Góc hàm 2 (3,1) 0 (0,0) 2 (4,9) Cằm - Cành ngang 16(24,2) 7 (28,0) 9 (22,0) Cành ngang - góc hàm 14(21,2) 4 (16,0) 10 (24,4) Cành ngang- góc hàm-

cành lên

16 (24,2) 5 (20,0) 11 (26,8) Góc hàm - cành lên 8 (12,1) 6 (24,0) 2 (4,8)

Hàm trên 4(5,7)

(-) Răng sau 2 (50) 0 (0,0) 2 (50,0) Răng trước 1 (25) 0 (0,0) 1(25,0) Răng sau + Răng trước 1 (25) 0 (0,0) 1(25,0)

a : Phép kiểm chính xác Fisher

Dạng thấu quang

Bảng 6 Tỉ lệ và liên quan giữa dạng thấu quang và

thể bệnh của BNBM

Dạng nang Dạng đặc

Một hốc 13 (18,6) 9 (36,0) 4 (8,9)

0,01a Nhiều hốc 57(81,4) 16 (64,0) 41 (91,1)

a : Phép kiểm chính xác Fisher

Bảng 7 Tỉ lệ và liên quan giữa thấu quang nhiều hốc

với thể bệnh của BNBM

Thấu quang nhiều hốc n (%)

Thể bệnh

p Dạng

nang

Dạng đặc

Bọt xà phòng 47 (82,5) 16 (100) 31(75,6)

0,50a

Tổ ong 1 (1,8) 0 (0,0) 1 (2,4)

Mạng nhện 3 (5,3) 0 (0,0) 3 (7,3)

Bọt xà phòng + Tổ ong 4 (7,0) 0 (0,0) 4 (9,8)

Bọt xà phòng + Mạng nhện 2 (3,5) 0 (0,0) 2 (4,9)

a : Phép kiểm chính xác Fisher

Trang 4

Đặc điểm đường viền bướu

Bảng 8 Tỉ lệ và liên quan giữa đường viền bướu với

thể bệnh của BNBM

Đường

viền bướu n (%)

Thể bệnh

P Dạng nang Dạng đặc

Rõ tụ cốt 6 (8,6) 3 (12,0) 3 (6,7)

0,58a

Rõ không tụ cốt 17 (24,3) 7 (28,0) 10 (22,2)

Không rõ 47 (67,1) 15 (60,0) 32 (71,1)

a : Phép kiểm chính xác Fisher

Răng ngầm trong bướu

Bảng 9 Tỉ lệ và liên quan giữa răng ngầm và thể

bệnh của BNBM

Răng ngầm n (%) Thể bệnh p

Dạng nang Dạng đặc

Có 17(24,3) 9 (36,0) 8 (17,8)

0,09 Không 53(75,7) 16 (64,0) 37 (82,2)

Phép kiểm chi bình phương

Tiêu chân răng và kiểu hình thái tiêu chân

răng

Có 61 ca có chân răng nằm trong bướu, tỉ

lệ 87,2% (21 ca BNBM dạng nang và 40 ca

BNBM dạng đặc) và 9 ca không có chân răng

nằm trong bướu, tỉ lệ 12,8%

Bảng 10 Tỉ lệ và liên quan giữa tiêu chân răng và thể

bệnh của BNBM

Tiêu chân răng n (%) Thể bệnh p

Dạng nang Dạng đặc

Có 47(77,1) 16 (76,2) 31 (77,5)

>0,99a Không 14(22,9) 5 (23,8) 9 (22,5)

a : Phép kiểm chính xác Fisher

Bảng 11 Tỉ lệ và liên quan giữa kiểu tiêu ngót với thể

bệnh BNBM

n (%) Thể bệnh p Dạng nang Dạng đặc

Dao cắt 28(59,6) 11 (68,8) 17 (54,8)

0,74a Gọt viết chì 11(23,4) 2 (12,5) 9 (29,0) Nhiều mặt cắt 5(10,6) 2 (12,5) 3 (9,7) Dao cắt - gọt viết chì 3(6,4) 1 (6,3) 2 (6,5)

a : Phép kiểm chính xác Fisher

Phồng xương và thủng vỏ xương

Bảng 12 Tỉ lệ và liên quan giữa phồng/thủng vỏ

xương với thể lâm sàng BNBM

Dạng nang Dạng đặc Phồng

xương

Có 69 (98,6) 25 (100) 44 (97,8)

>0,99 Không 1(1,4) 0 (0,0) 1(2,2)

Thủng xương

Có 41(58,6) 11(44,0) 30 (66,7)

0,36 Không 29(41,4) 14 (56,0) 15 (33,3)

a : Phép kiểm chính xác Fisher

Bảng 13 Liên quan giữa yếu tố tiên lượng với thủng

vỏ xương

Yếu tố tiên lượng Thủng vỏ xương p

Có thủng Không thủng Thấu

quang

Một hốc 5 (38,5) 8 (61,5)

0,10b Nhiều hốc 36 (63,2) 21 (36,8)

Đường viền bướu

Rõ, tụ cốt 1 (16,7) 5 (83,3)

0,12a

Rõ, không tụ cốt 10 (58,8) 7 (41,2) Không rõ 30 (63,8) 17 (36,2)

Răng ngầm

Có 6 (35,3) 11 (64,7)

0,03b Không 35 (66,0) 18 ( 34,0)

a : Phép kiểm chính xác Fisher, b : Phép kiểm chi bình phương

Đặc điểm giải phẫu bệnh bướu nguyên bào men dạng nang

Bảng 14 Liên quan giữa tuổi, giới tính và giải phẫu bệnh BNBM dạng nang

Giải phẫu bệnh BNBM dạng nang

p Dạng ống Trong ống Trong vách Trong vách - trong ống Giới tính Nam 4 (28,6) 2 (14,3) 7 (50,0) 1 (7,1) 0,93a

Nữ 3 (27,3) 1 (9,1) 5 (45,4) 2(18,2)

Nhóm tuổi

0 – 19 2 (33,3) 2 (33,3) 1(16,7) 1(16,7)

0,10a

20 – 39 4 (28,6) 0 (0,0) 9 (64,3) 1(7,1)

40 – 59 1(25,0) 0 (0,0) 2 (50,0) 1(25,0)

60+ 0 (0,0) 1(100) 0 (0,0) 0 (0,0)

a : Phép kiểm chính xác Fisher

Kết quả nghiên cứu ghi nhận dạng ống có 7

ca, 28%; dạng trong ống có 3 ca, 12%; dạng trong

vách có 12 ca, 48% và dạng kết hợp trong vách -

trong ống có 3 ca, 12%

Trang 5

Bảng 15 Liên quan giữa đặc điểm X quang và giải phẫu bệnh BNBM dạng nang

Giải phẫu bệnh BNBM dạng nang

p Dạng ống Trong ống Trong vách Trong vách Trong ống Thấu quang Một hốc 4 (44,5) 2 (22,2) 2 (22,2) 1 (11,1) 0,20

Nhiều hốc 3 (18,7) 1 (6,3) 10 (62,5) 2 (12,5)

Đường viền

bướu

Rõ, tụ cốt 2 (66,7) 1(33,3) 0(0,0) 0 (0,0)

0,00a

Rõ, không tụ cốt 5 (71,4) 1(14,3) 0 (0,0) 1(14,3) Không rõ 0 (0,0) 1(6,7) 12 (80,0) 2 (13,3)

Tiêu chân

răng

Có 3 (18,8) 1(6,3) 9 (56,2) 3(18,7)

0,16a Không 3 (60,0) 1(20,0) 1 (20,0) 0 (0,0)

Thủng vỏ

xương

Có 2 (18,2) 0 (0) 8 (72,7) 1 (9,1)

0,17a Không 5 (35,7) 3 (21,4) 4 (28,6) 2 (14,3)

Răng ngầm Có 3 (33,3) 2 (22,2) 3 (33,3) 1(11,2) 0,67a

Không 4 (25,0) 1 (6,3) 9 (56,2) 2 (12,5)

a : Phép kiểm chính xác Fisher

Đặc điểm giải phẫu bệnh bướu nguyên bào

men dạng đặc

Kết quả nghiên cứu ghi nhận dạng túi tuyến

có 12 ca, 26,7%; dạng đám rối có 13 ca, 28,9%;

dạng gai có 6 ca, 13,3%; dạng tế bào hạt có 3 ca, 6,7% và dạng kết hợp túi tuyến - đám rối có 11

ca, 24,4%

Bảng 16 Liên quan giữa tuổi, giới tính và giải phẫu bệnh của bướu

Giải phẫu bệnh BNBM dạng đặc

p Túi tuyến Đám rối Gai Tế bào hạt Túi tuyến đám rối

Giới tính Nam 4 (17,4) 9 (39,1) 2 (8,7) 1 (4,4) 7 (30,4) 0,29a

Nữ 8 (36,4) 4 (18,2) 4 (18,2) 2 (9,1) 4 (18,2)

Nhóm tuổi

0 – 19 0 (0) 3 (100) 0 (0) 0 (0) 0 (0)

0,004a

20 – 39 7 (28,0) 9 (36,0) 2 (8,0) 0 (0) 7 (28,0)

40 – 59 3 (27,3) 1 (9,1) 3 (27,3) 0 (0) 4 (36,4)

60+ 2 (33,3) 0 (0) 1 (16,7) 3 (50,0) 0 (0)

a : Phép kiểm chính xác Fisher

Bảng 17 Liên quan giữa đặc điểm X quang với giải phẫu bệnh của BNBM dạng đặc

Giải phẫu bệnh BNBM dạng đặc

p Túi tuyến Đám rối Gai Tế bào hạt Túi tuyến Đám rối Thấu quang Một hốc 1 (25,0) 1 (25,0) 1 (25,0) 1 (25,0) 0 (0,0) 0,36a

Nhiều hốc 11(26,8) 12 (29,3) 5 (12,2) 2 (4,9) 11 (26,8)

Đường viền

Rõ tụ cốt 0 (0,0) 2 (66,7) 0 (0,0) 0 (0,0) 1 (33,3)

0,28a

Rõ không tụ cốt 4 (40,0) 4 (40,0) 1 (10,0) 1 (10,0) 0 (0,0) Không rõ 8 (25,0) 7 (21,9) 5 (15,6) 2 (6,3) 10 (31,2)

Tiêu chân răng Có 6 (19,3) 11 (35,5) 4(12,9) 2 (6,5) 8 (25,8) 0,63a

Không 3 (33,4) 2(22,2) 2 (22,2) 1(11,1) 1 (11,1)

Thủng xương Có 8 (26,7) 7 (23,3) 6 (20,0) 1 (3,3) 8 (26,7) 0,22a

Không 4 (26,7) 6 (40) 0 (0,0) 2 (13,3) 3 (20,0)

Răng ngầm Có 0 (0,0) 4 (50,0) 1 (12,5) 0 (0,0) 3 (37,5) 0,23a

Không 12 (32,4) 9 (24,3) 5 (13,5) 3(8,2) 8 (21,6)

a : Phép kiểm chính xác Fisher

Trang 6

BÀN LUẬN

Giới tính và tuổi

Trong nghiên cứu này tỉ lệ phân bố theo giới

tính gần như tương tự nhau, nam 52,9% và nữ

47,1%, tỉ lệ nam: nữ là 1,12:1 Kết quả này tương

tự như nghiên cứu của Reichart và cs có tỉ lệ

nam/nữ là 1,14:1(22).Đa số các nghiên cứu cho

thấy không có sự khác biệt giới tính trong

BNBM, tuy nhiên một số nghiên cứu ở Nigeria,

Trung Quốc và Ấn Độ cho thấy BNBM thường

gặp nhiều hơn ở nam(23,26) Về tuổi mắc bệnh,

trong nghiên cứu này BNBM thường gặp ở lứa

tuổi 20-39 tuổi (55,7%), trung bình 34 tuổi, nhỏ

nhất 14 tuổi, lớn nhất 74 tuổi Tuổi trung bình

BNBM dạng nang là 30,5 tuổi, và BNBM dạng

đặc là 36,8 tuổi Kết quả này cũng tương tự như

một số nghiên cứu trước đây Nghiên cứu của

Reichart và cs trên 3677 ca BNBM từ năm 1960

đến 1993, tuổi trung bình là 35 tuổi, nhỏ nhất 4

tuổi và lớn nhất 92 tuổi(22) Ledesma-Montes

nghiên cứu 163 ca BNBM cho thấy tuổi trung

bình BNBM dạng đặc là 41,4 tuổi, trong khi đó

tuổi trung bình BNBM dạng nang là 26,3 tuổi(13)

Ở Việt Nam, nghiên cứu hồi cứu của Phan

Huỳnh An trên 52 ca BNBM cho thấy bướu

thường gặp nhất từ 20 - 40 tuổi (46,2%), trung

bình 33 tuổi(18) Nghiên cứu của Đỗ Thị Thảo, tuổi

thường gặp 21- 40 tuổi (trung bình 33,5 tuổi)(9)

Tuổi trung bình dạng nang trong nghiên cứu này

có cao hơn so với một số nghiên cứu khác trên

thế giới, điều này cũng có thể do liên quan đến

tình trạng kinh tế - xã hội ở nước ta, bệnh nhân

thường không có điều kiện đến khám phát hiện

bệnh và trì hoãn điều trị trong thời gian dài

Nghiên cứu này cũng cho thấy có sự liên quan

có ý nghĩa giữa nhóm tuổi và phân bố giới tính,

ở lứa tuổi từ 0-19 tuổi, nam chiếm tỉ lệ cao hơn, tỉ

lệ nam:nữ là 88,9%:11,1%, trong khi đó ở lứa tuổi

trên 60, nữ chiếm tỉ lệ cao hơn, tỉ lệ nam : nữ là

14,3% : 85,7%

Vị trí

Theo y văn, BNBM gặp ở hàm dưới nhiều

hơn hàm trên, vị trí thường nhất là ở vùng

răng sau hàm dưới Trong nghiên cứu này, bướu ở hàm dưới chiếm tỉ lệ 94,3%, bướu hàm trên chỉ có 5,7% Ở vùng cành ngang - góc hàm, bướu dạng đặc chiếm tỉ lệ cao hơn (24,4%) trong khi đó, ở vùng góc hàm - cành lên, bướu dạng nang chiếm tỉ lệ cao hơn (24%) Kết quả nghiên cứu này cũng tương tự như các nghiên cứu trước đây(5,27)

Thể bệnh

Dựa trên biểu hiện sinh học và đặc điểm mô bệnh học, BNBM được chia thành nhiều thể bệnh và có tiên lượng hoàn toàn khác nhau Trong đó, BNBM dạng đặc và BNBM dạng nang thường gặp nhất trên lâm sàng, Hiện nay, các nhà khoa học đều cho rằng BNBM dạng nang là một thực thể riêng biệt, cần phân biệt với BNBM dạng đặc vì điều này có liên quan đến kế hoạch điều trị và tiên lượng bệnh(4) Trong nghiên cứu này chúng tôi kết hợp xem xét đại thể bệnh phẩm mổ và chẩn đoán vi thể để xác định chính xác thể bệnh của bướu, trong số 70 ca BNBM có

45 ca BNBM dạng đặc tỉ lệ 64,3% và 25 ca BNBM dạng nang tỉ lệ 37,5% Kết quả tương tự nghiên cứu gần đây của của Đỗ Thị Thảo trên 33 ca BNBM (BNBM dạng đặc 57,6% và BNBM dạng nang 42,4%)(9) Theo y văn, BNBM dạng đặc chiếm tỉ lệ khoảng 80 - 85%, trong khi BNBM dạng nang chiếm khoảng 5-15% Nghiên cứu của Reichart và cs, tỉ lệ BNBM dạng nang là 6,2%(22); nghiên cứu của Santos và cs, BNBM dạng nang

là 15,3%(23); nghiên cứu Ledesma-Montes và cs, BNBM dạng nang là 63,2%(13) Các kết quả này tương đối khác nhau giữa các nghiên cứu, điều này có thể được giải thích một phần do sự khác biệt về chủng tộc và một phần khác do khác biệt

về các tiêu chuẩn áp dụng trong chẩn đoán BNBM dạng nang và BNBM dạng đặc

Đặc điểm lâm sàng

Sưng biến dạng mặt và đau là những dấu chứng, triệu chứng gặp nhiều nhất với tỉ lệ lần lượt là 92,9% và 35,7% Kết quả cũng ghi nhận không có sự khác biệt về biểu hiện các triệu chứng, dấu chứng giữa BNBM dạng nang và

Trang 7

dạng đặc (p>0,05) Kết quả này cũng tương tự

một số nghiên cứu trước đây(6,22,26)

Đặc điểm X quang

Ueno và cs cho rằng đặc điểm X quang có

liên quan đến biểu hiện sinh học của bướu và

bướu có hình ảnh thấu quang nhiều hốc

thường có tiên lượng xấu hơn(28) Trong nghiên

cứu này, khảo sát trên phim toàn cảnh 70 ca

BNBM có 13 ca biểu hiện thấu quang một hốc,

tỉ lệ 18,6% và 57 ca biểu hiện thấu quang nhiều

hốc, tỉ lệ 81,4% Hình ảnh thấu quang nhiều

hốc thường gặp nhất là dạng bọt xà phòng, tỉ

lệ 82,5% Kết quả này cũng tương tự với một

số nghiên cứu trong nước của Đỗ Thị Thảo(9),

với tỉ lệ thấu quang một hốc / nhiều hốc lần

lượt là 15% / 85% Tuy nhiên, một số nghiên

cứu như của Reichart và cs, Tatapudi và cs cho

thấy dạng thấu quang một hốc chiếm tỉ lệ khá

cao, lần lượt là 51,1% và 50%(22,27) Sự khác biệt

này có thể một phần là do BNBM dạng nang

chiếm tỉ lệ cao trong mẫu khảo sát BNBM

dạng nang thường có hình ảnh thấu quang

một hốc, tuy nhiên, nhiều nghiên cứu gần đây

cho thấy BNBM dạng nang cũng có hình ảnh

thấu quang nhiều hốc, đặc biệt trong nhưng

trường hợp bướu không liên quan đến răng

ngầm(4,16,24,25) Trong nghiên cứu này, trong số

57 ca thấu quang nhiều hốc, có 16 ca là bướu

dạng nang, chiếm tỉ lệ 64% Kết quả nghiên

cứu cũng cho thấy có sự liên quan có ý nghĩa

thống kê giữa hình ảnh thấu quanh một

hốc/nhiều hốc với thể bệnh bướu dạng đặc

hay dạng nang (p<0,05)

Đường viền bướu trên phim X quang cũng là

một thông số có giá trị đánh giá tỉ lệ tăng trưởng

của bướu Bướu có đường viền rõ tụ cốt được

xem là tiến triển chậm, trong trường hợp này

xương lành xung quanh phản ứng mạnh tạo

thành một đường viền xơ hóa tụ cốt, có vai trò

như lớp xương đặc hạn chế sự xâm lấn của tế

bào bướu và tiên lượng tốt hơn Nghiên cứu của

Li và cs trên 97 ca bướu nguyên bào men, bướu

đường viền rõ tụ cốt 24,7%; rõ không tụ cốt

42,3% và không rõ 33%(14) Trong nghiên cứu

này, bướu có đường viền rõ tụ cốt, rõ không tụ cốt và không rõ với tỉ lệ lần lượt là 8,6%, 24,3%

và 67,1% Sự khác biệt kết quả giữa hai nghiên cứu có thể do sự khác nhau về phân bố tỉ lệ BNBM dạng nang và dạng đặc trong mẫu nghiên cứu Nếu chỉ xem xét riêng trên BNBM dạng nang ở nghiên cứu này thì đường viền rõ

tụ cốt, rõ không tụ cốt và không rõ phân bố với tỉ

lệ lần lượt là 12%, 28% và 60% Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy trong số bướu có đường viền không rõ, bướu dạng đặc có tỉ lệ 71,1% nhiều hơn bướu dạng nang 60%, tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)

Tiêu chân răng liên quan bướu là một đặc điểm thường thấy ở bướu nguyên bào men Trong một nghiên cứu trước đây của chúng tôi(30), tỉ lệ tiêu chân răng là 60% Trong nghiên cứu này, tỉ lệ tiêu chân răng là 77,1%, tương tự như kết quả nghiên cứu gần đây của Apajalahti

và cs 2015, tỉ lệ tiêu chân răng là 72%(3), tuy nhiên, kết quả này hơi cao hơn so với một số các nghiên cứu trước đây Nghiên cứu của Ogunsalu, tỉ lệ tiêu chân răng là 31,6%(18), của MacDonald-Jankowsdi là 59%(16) Một số nghiên cứu trước đây trong nước cũng cho thấy tỉ lệ tiêu chân răng khá cao, nghiên cứu của Phan Huỳnh

An là 59,6%, của Đỗ Thị Thảo 63,6%(9,18) Theo Philipsen, bướu dạng đặc thường làm tiêu ngót chân răng hơn bướu dạng nang(19), trong nghiên cứu này bướu dạng đặc có tỉ lệ tiêu chân răng (77,5%) cao hơn bướu dạng nang (76,2%), dạng tiêu ngót thường gặp nhất là dạng dao cắt, 59,6%, tuy nhiên không có sự khác biệt có ý nghĩa về tỉ lệ tiêu chân răng, tỉ lệ phân bố các kiểu tiêu chân răng giữa bướu dạng nang và dạng đặc

Phần lớn các nghiên cứu đều báo cáo sự hiện diện của răng ngầm trong bướu Nghiên cứu này ghi nhận tỉ lệ răng ngầm trong BNBM

là 24,3%, thấp hơn tỉ lệ 36,5% của Phan Huỳnh

An(18), nhưng cao hơn nghiên cứu của Arotiba, 17,8(5) Trong nghiên cứu này cũng ghi nhận bướu dạng nang có tỉ lệ răng ngầm là 36% cao hơn bướu dạng đặc 17,8%, tương tự trong

Trang 8

nghiên cứu của Philipsen, tỉ lệ răng ngầm

trong BNBM dạng nang là 52-80%; trong khi ở

dạng đặc là 15-40%(19)

Tình trạng phồng và thủng vỏ xương được

đánh giá chính xác trên phim CT Gần như tất cả

bướu nguyên bào men đều gây phồng và mỏng

lớp vỏ xương.Trong nghiên cứu này, tỉ lệ gây

phồng xương là 98,6%, không có sự khác biệt

giữa bướu dạng đặc và bướu dạng nang Nghiên

cứu của Apajalahti và cs 2015, tỉ lệ thủng vỏ

xương là 77%(3), trong nghiên cứu này tỉ lệ thủng

vỏ xương là 58,6%, bướu dạng đặc có tỉ lệ thủng

vỏ xương cao hơn bướu dạng nang Liên quan

giữa một số yếu tố được xem là yếu tố tiên lượng

như một hốc/nhiều hốc, tiêu chân răng và răng

ngầm trong bướu với tình trạng thủng xương

được phân tích Bướu nhiều hốc, đường viền

không rõ có tỉ lệ thủng xương cao hơn, đặc biệt

kết quả nghiên cứu ghi nhận có sự liên quan ý

nghĩa thống kê giữa răng ngầm trong bướu và

thủng vỏ xương, bướu không có răng ngầm có tỉ

lệ thủng vỏ xương cao hơn (p<0,05)

Đặc điểm giải phẫu bệnh

Kết quả nghiên cứu qua khảo sát vi thể

BNBM dạng nang cho thấy dạng trong vách

chiếm tỉ lệ cao nhất 48% kết quả này tương tự

như nghiên cứu của Ackerman và cs trên 57 ca

BNBM dạng nang cũng cho thấy dạng trong

vách chiếm tỉ lệ cao nhất 49%(1) Đối với BNBM

dạng đặc, đa số các nghiên cứu ghi nhận dạng

túi tuyến là dạng thường gặp nhất Nghiên cứu

của Chizonga và cs qua 117 ca BNBM cũng cho

thấy dạng túi tuyến thường gặp nhất chiếm tỉ lệ

70,1%, kế đến là dạng đám rối chiếm tỉ lệ

31,6%(8) Nghiên cứu của Fulco trên 54 ca BNBM

dạng đặc cho thấy dạng túi tuyến chiếm tỉ lệ

77,6%(10) Ở Việt Nam, nghiên cứu của Lâm Ngọc

Ấn ghi nhận dạng túi tuyến gặp nhiều nhất

52%(13), nghiên cứu của Đỗ thị Thảo cũng thấy

dạng túi tuyến thường gặp nhất 60,6%(9) Tuy

nhiên, cũng có nghiên cứu ghi nhận dạng đám

rối phổ biến hơn dạng túi tuyến Trong nghiên

cứu này, dạng đám rối thường gặp nhất, tỉ lệ

28,9%, dạng túi tuyến và dạng kết hợp túi tuyến

- đám rối có tỉ lệ lần lượt là 26,7% và 24,4% Kết quả này giống nghiên cứu của Shoor và cs, dạng đám rối chiếm tỉ lệ cao nhất 6/21ca(26) và trong nghiên cứu của Kim và cs, dạng đám rối chiếm 35,2%, dạng túi tuyến 29,6%(12) Liên quan giữa đặc điểm mô học của bướu với tuổi, giới tính và đặc điểm X quang cũng được phân tích Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có sự liên quan có ý nghĩa giữa đường viền bướu và dạng vi thể của bướu dạng nang, bướu có đường viền không rõ,

về vi thể thường là dạng trong vách, tỉ lệ 80% (p<0,05) Bướu có đường viền không rõ được xem là có biểu hiện xâm lấn nhiều hơn các loại khác(14) Dạng trong vách có sự thâm nhiễm của

tế bào bướu vào xương lành xung quanh khoảng 2,5 mm(20) là thể xâm lấn nhiều nhất, có tỉ lệ tái phát rất cao 35,7%(2,25) Kết quả nghiên cứu này cũng ghi nhận có sự liên quan có ý nghĩa giữa tuổi và phân nhóm mô bệnh học của bướu dạng đặc, ở tuổi từ 0-19 tuổi, thường gặp nhất là đám rối trong khi ở lứa tuổi lớn hơn từ 40 - 60 tuổi, dạng gai và dạng tế bào hạt chiếm tỉ lệ cao hơn lần lượt là 27,3% và 50% Nghiên cứu của Reichart và cs có kết quả tương tự dạng đám rối thường gặp ở tuổi nhỏ hơn khi so sánh với dạng gai (50 tuổi)(22); nghiên cứu của Takahashi cũng thấy BNBM ở trẻ em chủ yếu là dạng đám rối(14)

KẾT LUẬN

Các thông số về tuổi, giới tính, vị trí, đặc điểm lâm sàng, X quang và giải phẫu bệnh của bướu nguyên bào men cũng gần tương tự như các nghiên cứu khác Tuy nhiên, BNBM dạng nang gặp ở tuổi lớn hơn so với một số nghiên cứu trước đây Dạng trong vách thường gặp nhất ở BNBM dạng nang và có liên quan ý nghĩa với đường viền bướu trên phim X quang Trong khi đó, dạng đám rối gặp nhiều nhất ở BNBM dạng đặc, thường gặp ở tuổi nhỏ hơn 40 tuổi, trong khi dạng gai và tế bào hạt lại gặp ở tuổi lớn hơn

Dựa trên các đặc điểm đại thể và vi thể có thể cho phép phân biệt được chính xác giữa BNBM dạng đặc và BNBM dạng nang, điều này

Trang 9

có ý nghĩa quan trọng trong điều trị và tiên

lượng bệnh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ackerman GL, Altini M, Shear M (1988), “The unicystic

ameloblastoma: a clinical pathological study of 57 cases”, J

Oral Pathol, l17 (9-10), 541-546

2 Adeyemo W.L., Bamgbose B.O., Ladeinde A.L., Ogunlewe

M.O.(2007), “Surgical management of ameloblastomas:

conservative or radical approach? A critical review of the

literature”, Oral Surgery, 1, 22-27

3 Apajalahti S., Kelppe J., Kontio R., Hagstrom J (2015),

“Imaging characteristics of ameloblastoma and diagnotic

value of computed tomography and magnetic resonance

imaging in a series of 26 patients”, Oral Surg Oral Med Oral

Pathol Oral Radio,120 (2), 118-130

4 Arora S (2015), “Unicystic Ameloblastoma: A Perception for

the Cautious Interpretation of Radiographic and Histological

Findings”, Journal of the colege of Physicians and Surgeons

Pakistan, 25(10), 761- 764

5 Arotiba G.T., Ladeinde A.L., Arotiba J.T., Ajike S.O., Ugboko

V.I., Ajayi O.F (2005), “Ameloblastoma in Nigerian children

and Adolescents: A review of 79 cases”, J Oral Maxillofac Surg,

63, 747-751

6 Barnes L (2009), “ Surgical pathology of the head and neck”,

Informa Healthcare USA, Vol 3, third edition, 1201-1314

7 Barnes L., Everson J.W., Reichart P., Sdransky D (2005),

“Pathology and genetic of head and neck tumors”, World Health

Organization Classification of Tumors, IARC Press: Lyon,

287-300

8 Chidzonga M.M., Perez V.M.L., Alvarez A.L.P., Harare A

(1996), “Ameloblastoma -The Zimbawean experience over 10

years”, Oral Surg Oral Med Oral Pathol Oral Radiol Endol, 82,

38-41

9 Đỗ Thị Thảo (2010), “Đặc điểm lâm sàng, giải phẫu bệnh, và biểu

hiện p53 trong bướu nguyên bào men”, Luận văn thạc sỹ y học,

Đại Học Y Dược Tp HCM

10 Fulco G.M., Francisco C., Nonaka W., De Souza L.P., De Costa

Miguel L.C., Pinto L.P (2010), “Solid ameloblastomas -

Retrospective clinical and histopathologic study of 54 cases”,

Braz J Otorhinolaryngol, 76 (2),172-177

11 Jhamb T., Kramer J.M (2014) “Molecular concepts in the

pathogenesis of ameloblastoma: Implications for therapeutics”

Experimental and Molecular Pathology, 97, 345-353

12 Kim S.G., Jang H.S., Kwang J (2001), “Ameloblastoma: A

clinical, radiographic and histopathologic analysis”, Oral Surg

Oral Med Oral Pathol Oral Radiol Endo, 91, 649-653

13 Lâm Ngọc Ấn, Khương Tấn Khánh, Huỳnh Đại Hải, Trần

Công Chánh, Lâm Hoài Phương, Đặng Duy Hiếu (2000), “U

men xương hàm tại miền nam Việt Nam:Phương pháp điều trị”, Kỹ

yếu công trình Viện RHM 1975 -1993, trang 207-216

14 Ledesma-Montes C., Mosqueda-Taylor A., Carlos-Bregni R.,

Romero de Leon E., Palma-Guzman J.M., Paez-Valencia C.,

Meneses-Garcia A (2007), “Ameloblastomas: a regional Latin

- American multicentric study”, Oral Disease, 13, 303-307

15 Li Y., Han B., Li L.J (2012) “Prognostic and proliferative

evaluation of ameloblastoma based on radiographic

boundary” International Journal of Oral Science, 4, 30-33

16 MacDonald–Jankowski D.S., Yeung R., Lee K.M., Li T.K (2004), “Ameloblastoma in the Hong Kong Chinese Part 2: systematic review and radiological presentation”,

Dentomaxillofacial Radiology, 33, 141-151

17 Neville B.W., Damm D.D., Allen C.M., Bouquot A (2009),

“Oral and maxillofacial pathology”, W B Saunders Company,

third edition, 611-619

18 Ogunsalu C., Daisley H., Henry K., Bedayse S., White K., Jagdeo B., Baldeo S (2006), “A new radiological classification

for ameloblastoma based on analysis of 19 cases”, West Indian Med J, 55(6), 36

19 Phan Huỳnh An (2009), “Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và X quang

u nguyên bào men”, Tiểu luận tốt nghiệp BS RHM, Đại Học Y

Dược Tp.HCM

20 Philipsen H.P, Reichart P.A (1998), “Unicystic

ameloblastoma A review of 193 cases from literature”, Oral Oncology, 34, 317-325

21 Rastogi S., Pandilwar P.K., Maitra S (2010), “Ameloblastoma:

an evidence based study”, J Maxillofac Oral Surg, 9 (2), 173-177

22 Reichart P.A., Philipsen H.P Sonner S (1995),

“Ameloblastoma: Biological Profile of 3677cases”, Oral Oncol, Eur J Cancer, 31B(2), 86-99

23 Santos T.S., Piva MR., Andrade ESS., Vajgel A., Vasconcelos RJH., Martins-Filho PRS (2014), “Ameloblastoma in the

Northeast region of Brazil: A review of 112 cases”, J Oral Maxillofac Pathol, 118, 66-71

24 Sapp J.P., Eversole L.R., Wysocky G.P (2004), “Contemporary oral and maxillofacical pathology”, Mosby, 2nd edition, 135-143

25 Seintou A., Martinelli-KlayCP., Lombardi (2014), “ Unicystic ameloblastoma in children: systematic review of

clinicopathological features and treatment outcomes”, Int J Oral Maxillofac Surg, 43,405-412

26 Shoor H., Pai K.M., Gupta S., Garg A., Sharma H., Kumar N (2014), “Clinical, Radiographic and Histopathologic Features

of Ameloblastoma: A retrospective Analysis of 21 Cases”,

International Journal of Scientific Study, 2(9), 83-88

27 Tatapudi R., Samad S.A., Reddy RS., Boddu NK (2014),

“Prevalence of ameloblastoma: A three-year retrospective

study”, Journal of Indian Academy of Oral Medicine & Radiology,

26(2), 145-151

28 Ueno S., Mushimoto K., Shirasu R (1989), “Prognostic evaluation of ameloblastoma based on histologic and

radiographic typing”, J Oral Maxillofac Surg, 47, 11-15

29 Vickers R.A., Gorlin R.J (1970), “Ameloblastoma: Delineation

of early histopathologic features of neoplasia”, Cancer , 26(3), 699-709

30 Võ Đắc Tuyến, Nguyễn Thị Kim Oanh, Lương Văn Tô My

(2013), “Hình ảnh bướu nguyên bào men trên phim chụp cắt

lớp điện toán”, Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, tập 17, phụ bản số 2, 207-213

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 19/02/2016

Ngày đăng: 15/01/2020, 23:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w