1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hồi phục chức năng thận ở bệnh nhân suy thận tiến triển nhanh do viêm cầu thận tại Bệnh viện Chợ Rẫy

8 87 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 329,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hồi phục chức năng thận ở BN suy thận tiến triển nhanh (RPRF) cần chạy thận nhân tạo (TNT) ít gặp trên lâm sàng. Mục tiêu nghiên cứu (1) mô tả kết quả và (2) các yếu tố ảnh hưởng lên sự hồi phục của 64 trường hợp (TH) RPRF do viêm cầu thận (VCT) có chạy TNT tại bệnh viện Chợ Rẫy từ 2014 đến 2018.

Trang 1

HỒI PHỤC CHỨC NĂNG THẬN Ở BỆNH NHÂN SUY THẬN TIẾN TRIỂN

NHANH DO VIÊM CẦU THẬN TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY

Trần Thị Bích Hương *,** , Nguyễn Ngọc Lan Anh * , Nguyễn Minh Tuấn *** , Trần Văn Vũ **

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Hồi phục chức năng thận ở BN suy thận tiến triển nhanh (RPRF) cần chạy thận nhân tạo

(TNT) ít gặp trên lâm sàng Mục tiêu nghiên cứu (1) mô tả kết quả và (2) các yếu tố ảnh hưởng lên sự hồi phục của 64 trường hợp (TH) RPRF do viêm cầu thận (VCT) có chạy TNT tại bệnh viện Chợ Rẫy từ 2014 đến 2018

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thiết kế tiền cứu, theo dõi dọc Bệnh thận căn nguyên được chẩn

đoán dựa vào lâm sàng, xét nghiệm và sinh thiết thận Các TH được điều trị bằng chạy TNT phối hợp với điều trị bệnh căn nguyên (dựa theo kinh điển) và đánh giá khả năng ngưng chạy TNT Bệnh vi mạch huyết khối (thrombotic microangiopathy, TMA) được chẩn đoán dựa trên tán huyết với Coombs test âm tính, giảm tiểu cầu, D-Dimer>600ng/mL, LDH>600U/L, mảnh vỡ hồng cầu trên phết máu ngoại biên kèm hoặc không kèm xác định bằng sinh thiết thận

Kết quả: Trong 64 TH, 49 nữ, trung vị 25 tuổi, có 59 TH viêm thận lupus, 3 bệnh thận IgA; 1 bệnh kháng

thể kháng màng đáy cầu thận; 1 bệnh cầu thận màng nguyên phát TMA được chẩn đoán ở 56/64 TH, với 21 TH khẳng định bằng sinh thiết thận Bệnh nhân (BN) TMA được thay huyết tương (26TH) hoặc truyền huyết tương (30TH) kèm dùng heparin Mọi TH đều được dùng methylprednisolone (trung vị 32 mg/ngày) trong tháng đầu tiên, và giảm liều sau đó 41 TH (39 LN, 2 không LN) được dùng cyclophosphamide truyền tĩnh mạch (trung vị

6 liều) trong 12 tháng theo dõi 36/59 (61%) TH LN ngưng chạy TNT sau thời gian chạy TNT trung vị 39 ngày (24, 72 ngày) và tiếp tục không chạy TNT sau theo dõi trung vị 10 tháng (6, 11 tháng) Trong 28 TH không hồi phục chức năng thận, 4 TH tử vong và 24 TH tiếp tục chạy TNT định kỳ

Kết luận: Hồi phục chức năng thận thường gặp ở BN RPRF chạy TNT do viêm thận lupus kèm hoặc không

kèm TMA

Từ khóa: suy thận tiến triển nhanh, hồi phục chức năng thận, chạy thận nhân tạo, viêm thận lupus, bệnh vi

mạch huyết khối

ABSTRACT

RECOVERY OF KIDNEY FUNCTION IN GLOMERULONEPHRITIS WITH RAPIDLY PROGRESSIVE RENAL FAILURE AT CHO RAY HOSPITAL

Tran Thi Bich Huong, Nguyen Ngoc Lan Anh, Nguyen Minh Tuan, Tran Van Vu

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 3 - 2019: 336 - 343

Objectives: It is clinically uncommon for glomerulonephritis (GN) patients with rapidly progressive renal

failure (RPRF) who require hemodialysis (HD) to recover kidney function Our aim was to describe (1) the results (2) the factors associated with the recovery of kidney function of 64 GN patients with RPRF on HD at Cho Ray Hospital from 2014 to 2018

Methods: A prospective cohort study was conducted A definitive diagnosis of the kidney disease was

established by history, clinical examination, lab tests, and renal biopsy The patients had received HD and standard therapy for their primary medical condition with evaluation for the ability of kidney function

*Phân môn Thận, Bộ môn Nội, Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh **Khoa Nội Thận, BV Chợ Rẫy

***Khoa Thận nhân Tạo, BV Chợ Rẫy

Tác giả liên lạc: PGS.TS.BS Trần Thị Bích Hương ĐT: 0938817385 Email: huongtrandr@yahoo.com

Trang 2

recovery Thrombotic microangiopathy (TMA) was diagnosed based on Coombs negative hemolytic anemia, thrombocytopenia, D-Dimer >600 ng/mL, LDH >600 U/L, schistocytes on blood smear, with or without renal biopsy

Results: Of 64 GN patients, there were 49 females; patient median age 25; 59 lupus nephritis (LN) (54 class

III or IV, 1 class V, 1 unclassified); 3 IgA nephropathy; 1 Anti-glomerular basement membrane GN; 1 idiopathic membranoproliferative GN TMA, found in 56/64 patients, of which 21 were biopsy-proven, were treated with therapeutic plasma exchange (26 patients) or plasma infusion (30 patients) and heparin anticoagulation All 64 patients were on oral methylprednisolone (median 32mg/day) for the first month then tapered 41 patients (39

LN, 2 non-Lupus GN) received median of 6 doses of monthly intravenous cyclophosphamide 0.5g/m 2 over median

of 12 months follow up 36/59 (61%) LN patients recovered kidney function, and discontinued HD after median

39 days (Interquartile range (IQR) 24, 72 days) They remained dialysis independent for a median of 10 months (IQR 6, 11 months) follow up Among 28 patients who failed to recover kidney function, 4 died and 24 continued

HD after median of 4 months

Conclusion: RPRF in LN patients with or without TMA had a good likelihood of kidney function recovery

after requiring HD

Keywords: rapidly progressive renal failure, recovered kidney function, hemodialysis, thrombotic

microangiopathy, lupus nephritis

ĐẶT VẤN ĐỀ

Suy thận tiến triển nhanh (rapid progressive

renal failure, RPRF) là tình trạng mất chức năng

thận nhanh trong vòng trên 7 ngày đến dưới 3

tháng Tốc độ mất chức năng thận này chậm hơn

so với suy thận cấp hoặc tổn thương thận cấp

(acute kidney injury (AKI) là tình trạng mất chức

năng thận nhanh trong vài giờ đến vài ngày,

dưới 7 ngày), nhưng nhanh hơn bệnh thận mạn

Khác với bệnh thận mạn, các bệnh nhân (BN)

RPRF có kích thước 2 thận bình thường hoặc to

Theo Tomono Fujii, tử vong do RPRF là 8% cao

hơn nhóm BN không tổn thương thận là 1,2%,

và thấp hơn nhóm BN tổn thương thận cấp là

17,5%(6) Tuy có báo cáo lẻ tẻ từ các nghiên cứu

ngoài nước về hồi phục chức năng thận ở BN

RPRF, đang chạy thận nhân tạo (TNT) với thời

gian chạy TNT thay đổi tử dưới 3 tháng đến 12

tháng(1,3,9,12), song chưa có báo cáo tại Việt Nam

về vấn đề này Từ những kết quả ban đầu về

chẩn đoán và điều trị của nghiên cứu về suy

thận tiến triển nhanh(13,14), chúng tôi trình bày đề

tài này nhằm mục tiêu:

Mô tả kết quả hồi phục chức năng thận qua

theo dõi dọc 64 BN RPRF do viêm cầu thận tại

Bệnh Viện Chợ Rẫy

Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng lên sự hồi phục chức năng thận qua so sánh 2 nhóm có và không hồi phục chức năng thận

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Tiến cứu, theo dõi dọc từ 1/2014 đến 3/2018 tại khoa Thận, Bệnh Viện Chợ Rẫy trên 64 BN được chẩn đoán RPRF

Chỉ định chạy TNT

Các BN được chỉ định chạy TNT cấp cứu theo các chỉ định thường quy của BS chuyên khoa Thận, kèm đồng thuận trong hội chẩn với bác sĩ (BS) khoa Thận nhân tạo, Bệnh Viện Chợ Rẫy Việc chạy TNT được tiến hành qua catheter tĩnh mạch đùi (cấp cứu) và nếu được lên chương trình từ trước, BN được chủ động đặt catheter tĩnh mạch cảnh hầm để chạy TNT Lịch chạy TNT được thống nhất giữa BS Trần Thị Bích Hương (chủ nhiệm đề tài) với BS Nguyễn Minh Tuấn (Trưởng khoa TNT) trong thời gian điều trị nội và ngoại viện Trong 3 tháng đầu tiên, các

BN với tổn thương đa tạng được chạy TNT ngoại trú tại khoa TNT, Bệnh Viện Chợ Rẫy song hành với điều trị nội khoa do BS Thận học của nhóm nghiên cứu đảm nhận

Trang 3

Điều trị nội khoa hội chứng urê máu cao

Để bảo tồn tính mạng của BN và tạo điều

kiện tối ưu để thận hồi phục, ngoài chạy TNT,

các BN được kết hợp các điều trị nội khoa của

hội chứng urê huyết tương tự các TH chạy TNT

ở BN AKI, như kiểm soát huyết áp (huyết áp đạt

mục tiêu 140/90mmHg vào ngày không chạy

TNT và tránh tối đa hạ huyết áp trong ngày chạy

TNT), kiểm soát đường huyết tối ưu và hạn chế

hạ đường huyết trong ngày chạy TNT, điều trị

suy tim sung huyết (đánh giá qua lâm sàng, siêu

âm tim, NT-BNP, X quang tim phổi) với

dobutamin truyền tĩnh mạch nội viện và digoxin

0,125mg dùng cách ngày và 3 ngày/tuần khi xuất

viện, điều chỉnh liều kháng sinh (dựa vào hướng

dẫn kháng sinh của Sanford) cập nhật thay đổi

theo chức năng thận của BN, điều trị thiếu máu

bằng erythropoietin-alpha hoặc beta tiêm dưới

da liều 80-100UI/kg/tuần, điều chỉnh rối loạn

điện giải và thăng bằng kiềm toan đi kèm

Sinh thiết thận dưới hướng dẫn siêu âm

Các BN được tiến hành sinh thiết thận (STT)

vào ngày BN không chạy TNT, sau khi ngưng

heparin trong 48h, ngưng các thuốc kháng đông

và chống kết tập tiểu cầu 1 tuần Lần chạy TNT

trước và sau ngày STT không dùng heparin

Sinh thiết thận được tiến hành tại khoa Siêu Âm,

Bệnh Viện Chợ Rẫy, bằng Bard gun dưới hướng

dẫn của siêu âm 2D do BSCK2 Lê Thanh Toàn

hướng dẫn Mọi BN suy thận đều do BS Trần

Thị Bích Hương tiến hành sinh thiết Sau vài lần

đầu tiên tiến hành an toàn với 1 lần đâm kim, tất

cả các TH sau đó, chúng tôi đều tiến hành 2 lần

đâm kim vào thận trái để được 2 mẫu thận đảm

bảo đủ các thành phần cho khảo sát vi thể Sau

STT, BN được theo dõi tại khoa thận Chỉ định

chạy TNT được xét sau 24-48h STT và heparin

được dùng lại, nếu BN không có biến chứng sau

48h STT Mẫu thận được BS Trần Hiệp Đức

Thắng đọc kết quả sau nhuộm cơ bản (HE, PAS,

Trichrome, bạc) khảo sát dưới kính hiển vi

quang học và nhuộm miễn dịch huỳnh quang

hoặc hóa mô miễn dịch (IgA, IgG, IgM, C3, C1q,

Fibrin, Kappa, Lambda)

Điều trị bệnh căn nguyên

BN được điều trị bệnh lý căn nguyên, như bằng ức chế miễn dịch với viêm thận lupus class III, IV (methylprednisolone uống hoặc tiêm mạch, truyền cyclophosphamide định kỳ hàng thang) Do nguy cơ nhiễm trùng và tử vong cao khi dùng thuốc ức chế miễn dịch ở BN suy thận

và chạy TNT, nên việc chọn lựa loại và liều dùng thuốc ức chế miễn dịch đều được chủ nhiệm đề tài quyết định:

BN viêm thận lupus class III, IV, nếu không

có nhiễm trùng cấp, BN được truyền cyclophosphamide (0,5g/m2)/đợt/1 tháng x 6 đợt Sau đó duy trì 4 đợt cách nhau mỗi 3 tháng Liều dùng cyclophosphamide mỗi đợt sẽ (1) giảm còn 0,5g nếu BN vừa có nhiễm trùng cấp trong vòng

1 tháng trước đó, hoặc (2) không truyền nếu BN đang có biến chứng nhiễm trùng cấp hoặc biến chứng giảm bạch cầu

BN bệnh thận IgA chẩn đoán dựa vào sinh thiết thận Điều trị theo hướng dẫn của Hội Thận học Nhật Bản, tuy chưa chứng cứ mạnh(7), chúng tôi vẫn áp dụng phác đồ pulse steroid và truyền cyclophosphamide như BN viêm thận lupus Qua theo dõi 3 tháng, nếu

BN không đáp ứng, chúng tôi ngưng dùng ức chế miễn dịch ở BN này

BN có biến chứng bệnh vi mạch huyết khối (thrombotic microangiopathy, TMA) được chẩn đoán dựa vào lâm sàng với (1) Thiếu máu tán huyết với Test de Coombs âm tính, (2) Giảm tiểu cầu < 100G/L), (3) Tăng LDH >600 UI/L, (4) Tăng D-Dimer > 600 ng/mL, (5) Mảnh vỡ hồng cầu trên phết máu ngoại biên, kèm hoặc không kèm tổn thương bệnh học minh chứng sau đó Điều trị bao gồm (1) điều trị bệnh căn nguyên, (2) điều trị nhiễm trùng đi kèm, kết hợp với (3) thay huyết tương từ 5-7 lần, và/ hoặc truyền huyết tương, (4) dùng kháng đông (enoxaparin nội viện theo chức năng thận và chuyển sang antivitamin K ngoại viện)

Đánh giá kết quả chức năng thận

Hồi phục chức năng thận ở BN RPRF đang

chạy TNT khi eGFR (CKD-EPI)

Trang 4

>15ml/ph/1,73m2, BN ngưng được chạy TNT

trong thời gian ít nhất 2 tháng, không tăng cân

và thể tích nước tiểu về bình thường

(≥1ml/kg/h/24h)

Không hồi phục chức năng thận khi BN

RPRF cần chạy TNT không ngưng được TNT

trong 3 tháng theo dõi và thể tích nước tiểu vẫn

<0,3ml/kg/h/24h Những BN này được chúng tôi

chuyển về bệnh viện địa phương để tiếp tục

chạy TNT định kỳ và ngưng toàn bộ chương

trình điều trị ức chế miễn dịch bệnh căn nguyên

BN tử vong hoặc mất dấu được phân loại

dựa vào tình trạng cuối cùng trước khi mất dấu

Phân tích thống kê

Các biến số liên tục được kiểm chuẩn và

trình bày dưới dạng trung vị và tứ phân vị (25%,

75%) nếu không có phân phối chuẩn Phép kiểm

Chi bình phương dùng trong so sánh 2 biến

phân tầng, phép kiểm Wilcoxon/Kruskall-Wallis

dùng cho biến số phi tham số, p được gọi là có ý nghĩa thống kê khi <0,05

KẾT QUẢ

Từ tháng 1/2014 đến 3/2018, chúng tôi có

64 BN RPRF đồng ý tham gia nghiên cứu Qua phép kiểm Kolmogoro-Smirnov, các biến số đều không có tính chuẩn, nên số liệu được trình bày dưới dạng trung vị (25%;75%) Trong

64 BN chạy TNT, có 11 BN được chỉ định trước nhập viện và 53 BN lúc nhập viện (NV) tại Bệnh Viện Chợ Rẫy Đặc điểm của nhóm

nghiên cứu được trình bày trong Bảng 1 Sau

thời gian theo dõi trung vị 10 tháng (6;11 tháng), chúng tôi có 4 BN tử vong, 5 BN mất dấu, tỷ lệ BN ngưng chạy TNT và hồi phục chức năng thận qua ngưng chạy TNT là 38/64 (59,4%) BN Nếu loại trừ BN tử vong hoặc mất dấu, chúng tôi có tỷ lệ hồi phục chức năng thận là 36/55 (65,5%) BN

Bảng 1: Đặc điểm nhóm nghiên cứu thời điểm nhập viện bắt đầu nghiên cứu

Đặc điểm Chung (n=64) Nhóm hồi phục (n=38) Nhóm không hồi phục (n=26) p

Bệnh thận căn nguyên

(a) VCT không lupus bao gồm 3 TH Bệnh thận IgA, 1 TH bệnh kháng thể kháng màng đáy cầu thận, và 1 TH viêm cầu thận tăng sinh màng; (b) Tăng huyết áp nếu huyết áp ≥ 140/90mmHg, hoặc tiền căn tăng huyết áp hoặc đang dùng thuốc

hạ huyết áp; (c) Tiểu máu khi HC>50/uL trên dipstick hoặc HC> 5000/ph (cặn Addis) bao gồm 35 BN viêm thận lupus, 4

BN nonlupus chẩn đoán hội chứng thận hư; (d) NS: Không ý nghĩa thống kê; (*) Có ý nghĩa thống kê

Bảng 2: Đặc điểm chức năng thận và các yếu tố liên quan

(n=64)

Nhóm hồi phục (n=38)

Nhóm không hồi phục (n=26)

p

Thể tích nước tiểu lúc NV (ml/24h) 500 (300;1000) 800 (450;1235) 550 (230;1075) NS

Trang 5

Đặc điểm Chung

(n=64)

Nhóm hồi phục (n=38)

Nhóm không hồi phục (n=26)

p

(a) giá trị cao nhất của 53 BN chưa chạy TNT lúc NV; (b) Cả 5 BN VCT không lupus kèm TMA đều không hồi phục (c) NS: Không ý nghĩa thống kê, (*) Có ý nghĩa thống kê

Bảng 3: So sánh về kết quả mô bệnh học

(N=61)

Nhóm hồi phục (N=36)

Nhóm không hồi phục (N=25)

p

(a) Cầu thận còn sống (Viable glomeruli) là những cầu thận vẫn còn cấu trúc lọc cầu thận về mặt hình thái,

(b) khi số cầu thận liềm ≥50% trên tổng số cầu thận trên mẫu sinh thiết;

(c) TMA (bệnh vi mạch huyết khối) dựa trên các tổn thương hẹp và bít tắc lòng mạch và thành lập huyết khối ở động mạch gian tiểu thùy, tiểu động mạch và mao mạch cầu thận, thường kèm theo mảnh vỡ hồng cầu và ảnh hưởng của huyết khối lên

mô thận gây thiếu máu cục bộ,

(d) NS: Không ý nghĩa thống kê (*) Có ý nghĩa thống kê

Bảng 4: Điều trị BN suy thận tiến triển nhanh

(N=64)

Nhóm hồi phục (N=38)

Nhóm không hồi phục (N=26)

p

(a) Pulse steroid 3 liều với 22 TH dùng 0,5g/ngày, 6 TH 1g/ngày, 1 TH 125mg/ngày; (b) trong 12 tháng (c) NS: Không ý nghĩa thống kê

Ngoại trừ 3 BN không sinh thiết thận (trong

đó có 1 BN mang thai, 1 BN tử vong trước STT

và 1 BN mất dấu sau lần xuất viện về chạy TNT

tại địa phương), chúng tôi có 61 kết quả STT

(Bảng 3) Số cầu thận liềm ảnh hưởng lên hồi

phục chức năng thận Tuy nhiên, chúng tôi không thấy khác biệt khi phân tích dưới nhóm của liềm là liềm tế bào, liềm xơ-tế bào hoặc liềm

xơ Khi phân tầng % cầu thận liềm, chúng tôi ghi

Trang 6

nhận điểm cắt % cầu thận liềm ≥9%, sự khác biệt

bắt đầu có ý nghĩa thống kê

Từ 5 biến số khác biệt có ý nghĩa thống kê

khi phân tích đơn biến bao gồm (1) Thời gian

chạy TNT dưới 3 tháng, (2) Bệnh căn nguyên

viêm thận lupus, (3) Chẩn đoán TMA lâm sàng;

(4) Tỷ lệ cầu thận còn sống ≥90%, (5) Tỷ lệ liềm

≥9%, chúng tôi dùng hồi quy logistic đa biến để

tìm biến số tác động quan trọng nhất Kết quả

chỉ 2 biến số viêm thận lupus (p=0,0009) và thời

gian chạy TNT dưới 3 tháng (p=0,0009) vẫn còn

khác biệt giữa 2 nhóm và là 2 yếu tố tiên lượng

hồi phục ở BN RPRF đã chạy TNT

BÀN LUẬN

Bàn về định nghĩa "hồi phục chức năng thận" ở

BN chạy TNT

Suy thận tiến triển nhanh được Kimberly R

cụ thể hóa nhóm này là suy thận diễn tiến nhanh

đến chạy TNT (rapid progression to dialysis)(8)

Cho đến nay, vẫn chưa có 1 định nghĩa nào

thống nhất và các định nghĩa vẫn còn mang tính

chủ quan về hồi phục chức năng thận ở BN đang

điều trị thay thế thận Năm 2017, ADQI lần thứ

16 đề nghị gọi "hồi phục" chức năng thận ở BN

tổn thương thận cấp (AKI) đang điều trị thay thế

thận cấp cứu là khi BN ngưng điều trị thay thế

thận trong thời gian tối thiểu 14 ngày(2) Mục tiêu

điều trị hồi phục chức năng thận là giúp BN hồi

phục lại tình trạng chức năng thận trên các giới

hạn nguy hiểm đến tính mạng của BN Đánh giá

chức năng thận ở những BN đang chạy TNT

nhằm mục tiêu hồi phục chức năng thận cần lưu

ý đến tình trạng mất khối lượng cơ khiến

creatinine HT giảm giả tạo và làm chúng ta dễ

chẩn đoán lầm là thận đã hồi phục ở BN đang

chạy TNT Do RPRF có thời gian diễn tiến chậm

hơn, chúng tôi chọn mốc 2 tháng không cần chạy

TNT và thể tích nước tiểu đạt > 1ml/kg/h đạt hồi

phục, và các BN hồi phục đều có thời gian theo

dõi ít nhất 6 tháng

Bàn về tỷ lệ hồi phục chức năng thận ở BN RPRF đã chạy TNT

Chúng tôi đạt khoảng 60% hồi phục chức năng thận Theo Fehrman-Ekholm I và CS(5), dựa vào hệ thống số liệu của Thụy Điển ở 17590 BN

đã chạy TNT kéo dài trên 1 năm, tác giả ghi nhận có 39 BN (0,2%) hồi phục chức năng thận Theo y văn, tỷ lệ hồi phục chức năng thận ở BN chẩn đoán suy thận mạn giai đoạn cuối đang chạy TNT dao động từ 0,5-2,8%(2,4,10,11,12) Theo Agraharkar M và CS(1), ghi nhận có 8 TH VCT sau chạy TNT từ 2 tháng đến 30 tháng, hồi phục được chức năng thận và ngưng chạy TNT sau theo dõi 11 tháng và thời gian ngưng chạy TNT

từ 1 đến 51 tháng Chẩn đoán lúc khởi đầu chạy TNT đều là suy thận mạn giai đoạn cuối, không ghi nhận kích thước 2 thận, tuy nhiên, 6/8 TH này đều được sinh thiết thận và 5/6 TH có kết quả là xơ chai cầu thận khu trú từng vùng Sekkarie và CS báo cáo kết quả từ dữ liệu theo dõi 10 năm Michigan Kidney Registry trên 7404

BN, tỉ lệ hồi phục chức năng thận là 2,8%; trong

đó 55 TH (26%) hồi phục trong vòng 3 tháng chạy TNT, 102 TH (48%) trong vòng 6 tháng chạy TNT, 156 TH (75%) trong vòng 1 năm chạy TNT và 50% BN tiếp tục ngưng chạy TNT trên 3 tháng trong 1 năm tiếp theo(12) Một nghiên cứu khác tại một trung tâm ở Mỹ, qua theo dõi 39 BN RPRF từ 1970-1979, tác giả Kimberly và CS ghi nhận tử vong 15/39 (38,5%), ngưng chạy TNT 10/39BN (25,6%), 3/39 BN (7,7%) ngưng chạy TNT tạm thời nhưng sau đó quay lại chạy TNT trong vòng 1 năm Thời gian hồi phục chức năng thận từ 5 tháng đến 29 tháng kể từ lần khám sau cùng Đặc điểm chính của nhóm BN hồi phục chức năng thận là kèm tăng huyết áp nặng, ác tính, viêm mạch máu Cũng tại trung tâm này với số liệu nghiên cứu trên 44 BN trong 12 năm (1970 -1982), Kimberly và CS(8) cũng ghi nhận 15/38 BN (39%) hồi phục chức năng thận (9/15

BN (60%) trong vòng 1 tháng, 11/15 BN (73,3%) trong vòng 2 tháng), và 9 BN còn sống sau khi hồi phục chức năng thận với thời gian theo dõi

từ 14 tháng đến 4,3 năm(9)

Trang 7

Bàn về các yếu tố liên quan đến việc ngưng

chạy TNT

Chúng tôi ghi nhận 2 yếu tố có ý nghĩa từ

nhóm nhỏ 64 BN RPRF là thời gian chạy TNT

dưới 3 tháng, và bệnh căn nguyên viêm thận

lupus Kimberly ghi nhận việc hồi phục chức

năng thận tùy thuộc vào thời gian chạy TNT

dưới 3 tháng và bệnh căn nguyên như bệnh vi

mạch huyết khối, thuyên tắc do cholesterol, bệnh

mạch máu do tăng huyết áp, hoại tử vỏ thận

Ngoài ra, thời gian từ lúc creatinine HT tăng từ

dưới 1,2mg/dL đến mức cần chạy TNT, nếu

dưới 3 tháng, sẽ có khả năng hồi phục hơn là

nhóm creatinine HT tăng chậm(9) Theo Sekkarie

và CS(12), trong nhóm BN hồi phục chức năng

thận, viêm cầu thận tiến triển nhanh nguyên

phát (9,2%), viêm thận lupus, viêm cầu thận thứ

phát sau bệnh lý mạch máu nhỏ (8,3%) có khả

năng hồi phục khoảng 3 lần nhiều hơn nhóm

bệnh thận đái tháo đường (1%) và nang thận

(0,3%) Coplon và CS nghiên cứu ở 28 BN viêm

thận lupus chạy TNT mặc dù dùng steroid liều

cao, nhưng creatinine HT vẫn tăng>4mg/dL và

BN cần chạy TNT Theo đó, khả năng hồi phục

chức năng thận ở BN viêm thận lupus liên quan

đến kiểm soát được nhiễm trùng, tăng huyết áp,

suy tim sung huyết, rối loạn điện giải Không có

sự khác biệt về tổn thương bệnh học của 2 nhóm

hồi phục và không hồi phục chức năng thận Tử

vong ghi nhận ở 6/28 (21,4%) Tử vong gặp ở BN

dùng steroid liều cao hơn 35mg prednisone và

nguyên nhân tử vong chủ yếu do nhiễm trùng

8/28 (28,6%) BN ngưng được chạy TNT, sau thời

gian 4,2 tháng(3)

Bàn về bệnh sinh của sự hồi phục chức năng

thận

Chúng tôi đồng thuận với quan điểm của

Kimberly R trong về giải thích này Theo

Kimberly R, dựa trên cơ sở không khác biệt về

tổn thương bệnh học giữa 2 nhóm có và không

hồi phục, với số cầu thận xơ hóa ít, số cầu thận

còn sống cao, ít liềm, chứng tỏ ngoài tổn thương

về mặt giải phẫu, chức năng thận suy còn do bất

thường về sinh lý như hiện tượng co mạch mạnh

thứ phát sau quá trình viêm tiến triển Trong nhóm chúng tôi còn phát hiện nguyên nhân do bệnh vi mạch huyết khối Một khi BN được điều trị thỏa đáng và kịp thời, trước khi cầu thận diễn tiến đến hoại tử và xơ hóa sau đó, thì BN vẫn có

cơ hội để hồi phục chức năng thận Do vậy, theo Kimberly R, chạy TNT không là bằng chứng của không hồi phục chức năng thận và việc tiếp tục điều trị bệnh căn nguyên, phối hợp với kiểm soát các bệnh lý đi kèm sẽ giúp chức năng thận hồi phục(9) Theo Sekkarie, các BS Thận học cần thận trọng khi chẩn đoán BN suy thận mạn giai đoạn cuối ở BN chạy TNT để hạn chế việc bỏ sót những bệnh thận có thể hồi phục được(12)

KẾT LUẬN

Chúng tôi đạt hồi phục chức năng thận ở khoảng 60% BN RPRF Bệnh vi mạch huyết khối

là một chẩn đoán mới, khá phổ biến và cần can thiệp chuyên biệt ở nhóm BN RPRF Yếu tố tiên đoán khả năng hồi phục chức năng thận là chạy TNT dưới 3 tháng và viêm thận lupus Ngoài chạy TNT, việc nhanh chóng chẩn đoán bệnh thận căn nguyên, bệnh đồng mắc, các biến chứng của suy thận nặng trên cơ sở thận trọng điều trị ức chế miễn dịch phù hợp giúp đạt phục chức năng thận trên cơ sở bảo vệ tính mạng BN

Lời cảm ơn: Chân thành cảm ơn Sở Khoa Học Công Nghệ

TPHCM đã tài trợ cho đề tài "Chẩn đoán nguyên nhân và điều trị hồi phục chức năng thận ở BN suy thận tiến triển nhanh" Xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc BV Chợ Rẫy, Khoa Thận, Khoa Thận nhân tạo, Khoa Huyết học, Khoa Sinh hóa, Khoa Siêu âm BVCR và các khoa liên quan Chân thành cảm ơn các thành viên tham gia đề tài (BS Lê Thanh Toàn, BS Trần Hiệp Đức Thắng, BS Bùi Thị Ngọc Yến, BS Nguyễn Sơn Lâm, BS Dư Quốc Minh Quân)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Agraharkar M, Nair V, et al (2003) Recovery of renal function in

dialysis patients BMC Nephrol, 16:4-9

2 Chawla LS, et al (2017) Acute kidney disease and renal recovery: consensus report of the Acute Disease Quality

Initiative (ADQI) 16 Workgroup Nat Rev Nephrol, 13(4):241-257

3 Coplon NS, et al (1983) The long-term clinical course of

systemic lupus erythematosus in end-stage renal disease N Eng

J Med, 308(4):186-90

4 Craven AM, et al (2007) Predictors of renal recovery in Australian and New Zealand end-stage renal failure patients

treated with peritoneal dialysis Peritoneal Dialysis International,

27(2):184-191

5 Fehrman-Ekholm I, et al (2010) Recovery of Renal Function after One-Year of Dialysis Treatment: Case Report and Registry

Trang 8

Data International Journal of Nephrology, doi:

10.4061/2010/817836

6 Fujii T, et al (2014) Subacute kidney injury in hospitalized

patients Clin J Am Soc Nephrol, 9(3):457-461

7 Japanese society of Nephrology (2015) Evidence-Based Clinical

Glomerulonephritis

8 Kimberly RP, et al (1981) “End-Stage” Lupus Nephritis, Clinical

course and outcome on dialysis Medicine, 60(4):277-287

9 Kimberly RP, et al (1983) Reversible "end-stage" lupus

nephritis Analysis of patients able to discontinue dialysis Am J

Med, 74(3):361-8

10 MacDonald JA, et al (2009) Recovery of renal function in

end-stage renal failure—comparison between peritoneal dialysis and

haemodialysis Nephrol Dial Transplant, 24(9):2825-2831

11 Schmitt R, et al (2008) Recovery of kidney function after acute

kidney injury in the elderly: a systematic review and

meta-analysis Am J Kidney Dis, 52(2):262-271

12 Sekkarie MA, et al (1990) Recovery From End-Stage Renal

Disease Am J Kidney Dis, 15(1):61-5

13 Trần Thị Bích Hương, et al (2015) Đặc điểm lâm sàng và mô bệnh học thận của suy thận tiến triển nhanh ở người trưởng

thành tại Bệnh Viện Chợ Rẫy Y Học Thành Phố Hồ Chí Minh,

Chuyên đề Thận-Niệu, 19(4):474-482

14 Trần Thị Bích Hương, et al (2016) Nghiên cứu hiệu quả và tính

an toàn của pulse methylprednisolone và cyclophosphamide

truyền tĩnh mạch ở bệnh nhân suy thận tiến triển nhanh Y Học

Thành Phố Hồ Chí Minh, Chuyên đề Thận-Niệu, 20(4):179-187

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 05/05/2019

Ngày đăng: 15/01/2020, 23:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm