1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát tình trạng acid uric máu ở bệnh nhân bệnh thận đái tháo đường

6 73 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 344,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết tiến hành nghiên cứu nhằm mục tiêu nghiên cứu tình trạng acid uric máu ở bệnh nhân bệnh thận đái tháo đường tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn.

Trang 1

KHẢO SÁT TÌNH TRẠNG ACID URIC MÁU

Ở BỆNH NHÂN BỆNH THẬN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Vương Tuyết Mai * , Võ Đức Linh * , Nguyễn Thúy Hằng **

TÓM TẮT

Mục tiêu: Chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm mục tiêu nghiên cứu tình trạng acid uric máu ở bệnh nhân

bệnh thận đái tháo đường tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn

Phương pháp: Nghiên cứu được thực hiện ở bệnh nhân được chẩn đoán đái tháo đường type 2 theo tiêu

chuẩn hiệp hội đái tháo đường Mỹ (ADA) 2012 kèm theo bệnh nhân có được làm tổng phân tích nước tiểu có protein niệu dương tính ít nhất 2 lần trong 3 tháng, bệnh nhân có xét nghiệm acid uric máu Số liệu thu thập từ

tháng 1 năm 2014 đến tháng 7 năm 2015

Kết quả: Nghiên cứu bao gồm 111 bệnh nhân trong đó nam/nữ là 1/1 Tuổi trung bình của bệnh nhân nghiên

cứu là 69,7±10 tuổi, người có tuổi thấp nhất là 48 tuổi, cao nhất là 89 tuổi Nồng độ acid uric trung bình ở các đối tượng nghiên cứu là 409,2±135,7 µmol/L (134,1-838µmol/L) Nồng độ acid máu trung bình của nam có xu hướng cao hơn của nữ tuy nhiên sự khác biệt giữa nồng độ acid uric của nam và của nữ không có ý nghĩa thống

kê (p>0,05) Nồng độ acid uric cũng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở các nhóm tuổi và mức lọc cầu thận của bệnh nhân Nồng độ acid uric máu trung bình của HbA1C<7 là 380,2±99,7 µmol/l, thấp hơn nồng độ acid máu trung bình của nhóm HbA1C≥7 là 405±123,8µmol/l tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống

kê (p>0,05)

Kết luận: Nồng độ acid uric trung bình ở các đối tượng nghiên cứu là 409,2±135,7 µmol/L (134,1-838µmol/L) Nồng độ acid uric cũng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê các nhóm tuổi, giới, mức lọc cầu thận, HbA1C của bệnh nhân (p>0,05)

Từ khoá: acid uric máu, đái tháo đường

ABSTRACT

THE CLINICAL APPROACH TO SERUM URIC ACID LEVELS IN DIABETIC NEPHROPATHY

PATIENTS

Vuong Tuyet Mai, Vo Đuc Linh, Nguyen Thuy Hang

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 21 - No 3 - 2017: 67 - 72

Objectives: We conducted this study with the aim was to evaluate the uric acid levels in the diabetic patients

in Saint Paul Hospital, Hanoi, Vietnam

Methods: One retrospective study was performed on diabetic nephropathy patients who performed the

proteinuria test with at least 2 replications with positive results during 3 months, the patient also had the serum uric acid test The patient was treated at the outpatient Department, Saint Paul hospital Data is collected from January 2014 to July 2015

Results: The study included 111 patients in which male/female ratio was 1/1 The mean age of the study

population was 69.7 ± 10.0 years, the youngest patient was 48 years old, the oldest patient was 89 years old The mean uric acid concentration in the patients was 409.2±135.7µmol/L (134.1-838 µmol/L) The mean uric acid

* Bộ môn Nội tổng hợp, Đại học Y Hà Nội **Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn

Tác giả liên lạc: PGS.TS.BS Vương Tuyết Mai ĐT: 0915518775 Email: vuongtuyetmai@gmail.com

Trang 2

concentration of male patients tended to be higher than that of female patients, but that was not statistically significant (p> 0.05) Uric acid levels also did not differ significantly in age groups and eGFR levels of patients The mean serum uric acid concentration of patients with HbA1C <7 was 380.2±99.7µmol/L, lower than the serum uric acid concentration of patients with HbA1C≥7 was 405 ± 123.8 µmol / l but there is no statistical significance (p> 0.05)

Conclusions: Our results suggested that the mean serum uric acid concentration in the patients was

409.2±135.7µmol/L (134.1-838 µmol/L) The serum uric acid levels also did not differ significantly in the different age groups, gender, GFR levels, HbA1C levels of patients

Keywords: Serum Uric Acid, Diabetic Nephropathy

MỞ ĐẦU

Biến chứng thận do đái tháo đường còn gọi

là bệnh thận đái tháo đường gây gia tăng biến

chứng về tim mạch cũng như tăng tỉ lệ tử vong

cho bệnh nhân đái tháo đường Tiên lượng của

bệnh thận đái tháo đường rất nặng, thường tiến

triển tới bệnh thận giai đoạn cuối cần các biện

pháp điều trị thay thế thận đắt tiền như lọc máu,

lọc màng bụng hoặc ghép thận Tình trạng nặng

của bệnh làm ảnh hưởng nặng nề đến chất

lượng cuộc sống của người bệnh đồng thời là các

gánh nặng về kinh tế cho gia đình và xã hội,

chính vì vậy việc phát hiện và kiểm soát sớm các

biến cố ở bệnh nhân bệnh thận đái tháo đường

có vai trò rất quan trọng

Acid uric là một yếu tố đóng vai trò gây nên

tổn thương thận qua nhiều cơ chế khác nhau

Nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng acid uric có liên

quan chặt chẽ với huyết áp tâm thu và huyết áp

tâm trương ở BN ĐTĐ type 2, acid uric cũng là

yếu tố nguy cơ gây nên các bệnh lí thận Tăng

acid uric cũng liên quan một loạt các bệnh lí như

tăng huyết áp, bệnh mạch vành, bệnh mạch máu

não, bệnh về chuyển hóa Chính vì thế, việc kiểm

soát tốt acid uric máu sẽ làm giảm quá trình tiến

triển của bệnh thận đái tháo đường và hạn chế

nhiều biến chứng nguy hiểm khác, chúng tôi tiến

hành nghiên cứu được nhằm mục tiêu nghiên

cứu tình trạng acid uric ở bệnh nhân bệnh thận

đái tháo đường tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân được chẩn đoán đái tháo đường

type 2 theo tiêu chuẩn hiệp hội đái tháo đường

Mỹ (ADA) 2012(1) kèm theo bệnh nhân có được làm tổng phân tích nước tiểu có protein niệu dương tính ít nhất 2 lần trong trong 3 tháng, bệnh nhân có xét nghiệm acid uric máu

Tiêu chuẩn loại trừ

Loại trừ khi tình trạng sinh lý hay bệnh lý có thể ảnh hưởng đến tình trạng acid uric máu như bệnh nhân các bệnh lí kèm theo: ung thư, nhiễm trùng cấp, chấn thương, phẫu thuật

Xử lý số liệu

Test Pearson Chi-square và/hoặc test Fisher’s Exact được sử dụng cho so sánh tỷ lệ phần trăm tùy thuộc là so sánh hai hay nhiều tỷ lệ với nhau Mann-Whitney hoặc Kruskal-Wallis tests được

sử dụng khi so sánh các mức độ khác nhau Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê sử dụng theo p<0,05 hoặc tính theo khoảng tin cậy 95% (95% CI) Các phân tích được thực hiện bằng SPSS statistics 17.0 software

KẾT QUẢ

Nghiên cứu bao gồm 111 bệnh nhân trong

đó nam/nữ là 1/1 Tuổi trung bình của bệnh nhân nghiên cứu là 69,7±10 tuổi, người có tuổi thấp nhất là 48 tuổi, cao nhất là 89 tuổi

Nồng độ acid uric máu

Nồng độ acid máu trung bình của nam có

xu hướng cao hơn của nữ tuy nhiên sự khác biệt giữa nồng độ acid uric của nam và của nữ không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Tỉ lệ tăng acid uric máu ở nhóm BN khá cao Tỉ lệ tăng acid uricmáu chung của cả 2 giới là 46,9%, của nhóm BN nữ là 53,6% và của nhóm BN nam là

Trang 3

40%.Tỉ lệ tăng acid uric máu của nhóm BN nữ

cao hơn nhóm BN nam, tuy nhiên không có sự

khác biệt về tỉ lệ tăng acid uric máu giữa nam

và nữ (p>0,05) (Bảng 1)

Bảng 1: Nồng độ acid uric máu theo giới

Nồng độ acid uric (µmol/L)

±SD

(min-max)

409,2±135,7

(134,1-838)

424,6±129,5 (223-838)

394±141,1 (134,1-705) >0,05

0,152

Bảng 2: Nồng độ acid uric máu theo nhóm tuổi và

giới

Nhóm

tuổi

p

±SD

(min-max)

±SD (min-max)

±SD (min-max)

(137-690)

420,2±90,1 (306-556)

390±220,1 (137-690) >0,05

(223-608)

417±126,1 (223-838)

387,5±74,7 (284-492,2) >0,05

(134,1-838)

432,4±142,3 (280-838)

391,1±143,7 (134,1-705) >0,05

(257-702)

397±113,6 (325-528)

403,5±128 (257-702) >0,05

Nồng độ acid uric đơn vị:(µmol/l)

Nhận xét: Nồng độ acid uric có xu hướng

tăng ở nhóm tuổi <55, 55-64, 65-79 rồi giảm ở

nhóm ≥80 tuổi Tuy nhiên sự khác biệt của nồng

độ acid uric máu theo 4 nhóm tuổi trên không có

ý nghĩa thống kê Nồng độ acid uric máu ở nam

nhìn chung có xu hướng cao hơn ở nữ ở các

nhóm tuổi, ở nhóm tuổi >80 thì nồng độ acid uric

máu ở nữ lại lớn hơn ở nam,trong từng nhóm

tuổi sự khác nhau về nồng độ acid uric máu giữa

nam và nữ không có ý nghĩa thống kê

Tỉ lệ tăng acid uric máu ở các nhóm tuổi đều

khoảng 50%, giữa các nhóm tuổi chung, nam và

nữ Không có sự khác biệt về tỉ lệ tăng acid

uricmáutheo nhóm tuổi (Bảng 3)

Bảng 3: Rối loạn acid uric máu theo nhóm tuổi và

giới

Nhóm tuổi

Tăng Không

tăng Tăng

Không tăng Tăng

Không tăng

45,4%

6 54,6%

2 40%

3 60%

3 50%

3 50%

54,6%

10 45,4%

8 47,1%

9 52,9%

4 80%

1 20%

41,7%

35 58,3%

11 36,7%

19 63,3%

14 46,7%

16 53,3%

55,6%

8 44,4%

1 33,3%

2 66,7%

9 60%

6 40%

Bảng 4: Nồng độ acid uric máu theo mức lọc cầu

thận

M MLCT

Chung(μmol/l)

±SD (min-max)

Tăng

n (%)

Không tăng

n (%)

(137-556)

12 (30,8)

27 (69,2)

(134,1-838)

40 (55,6)

32 (44,4)

Nhận xét: Nồng độ acid uric máu có xu

hướng gia tăng khi mức lọc cầu thận giảm,và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê Tỉ lệ tăng acid uric máu tăng lên khi mức lọc cầu thận giảm, sự khác biệt giữa hai nhóm này có ý nghĩa thống kê

Bảng 5: Nồng độ acid uric máu theo HbA1C

HbA1c

Chung(μmol/l) Nam(μmol/l) Nữ(μmol/l)

p

±SD (min-max)

±SD (min-max)

±SD (min-max)

(223-608)

394,1±112,3 (223-608)

366,2±87,6 (253-509) >0,05

(187,5-718,8)

425,7±116,6 (251-718,8)

383,2±130,2 (187,5-705) >0,05

Nhận xét: Nồng độ acid uric máu trung bình

của HbA1C<7là 380,2±99,7 μmol/l, thấphơn nồng

độ acid máu trung bình của nhóm HbA1C≥7 là 405±123,8μmol/l tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê Nồng độ acid máu trung bình trong nhóm HbA1C không khác nhau giữa nam và nữ

Trang 4

Bảng 6: Rối loạn nồng độ acid uric máu theo HbA1C

Không tăng uric

0,826

Nhận xét: Không có sự khác biệt giữa tỉ lệ

tăng acid uric máu ở người hai nhóm HbA1C

nói trên

BÀN LUẬN

Nghiên cứu của chúng tôi có 111 bệnh nhân,

nam chiếm tỉ lệ 49,6% (n=55) và nữ chiếm tỉ lệ

50,4% (n=56), độ tuổi trung bình của các bệnh

nhan là 69,65±9,97 tuổi, lớn nhất là 89 tuổi và nhỏ

nhất là 48 tuổi BN ở độ tuổi từ 65-79 có 60 người

chiểm tỉ lệ cao nhất (54,05%) BN cao tuổi chiếm

tỉ lệ cao do càng lớn tuổi các chức năng của cơ

thể suy giảm và thời gian mắc bệnh của BN càng

dài cho nên các biến chứng của bệnh ĐTĐ càng

dễ xảy ra Độ tuổi trung bình của nhóm BN

chúng tôi cao hơn trong nghiên cứu của tác giả

Nguyễn Đức Ngọ, Lê Thị Diệu Hồng 61,1±9,25(6)

Tỉ lệ BN nam và nữ của chúng tôi tương đương

nhau có sự khác biệt với một số nghiên cứu khác

đều có tỉ lệ nữ nhiều hơn nam như nghiên cứu

của Lê Thị Phương tỉ lệ nữ là 55,4% trong 316 BN

ĐTĐ typ 2(4) Tuy nhiên chúng tôi nhận thấy rằng

tỉ lệ BN nam và nữ theo nhóm tuổi lại khác nhau

Tỉ lệ BN nam cao gấp 3 nữ ở nhóm tuổi 55-64

trong khi đó tỉ lệ BN nữ cao gấp 3 lần nam ở

nhóm tuổi ≥ 80 cho thấy tuổi càng cao thì tỉ lệ nữ

càng nhiều hơn nam

Nồng độ acid uric máu theo tuổi: có nhiều

nghiên cứu đưa ra kết quả khác nhau về sự phân

bố nồng độ acid uric máu theo tuổi Trong

nghiên cứu của Kuzuya M nghiên cứu trên

50157 nam và 30349 nữ cho thấynồng độ acid

uric ở độ tuổi từ 20-70 tuổi máu giảm nhẹ với

nam, còn với nữ thì giảm nhẹ ở độ tuổi 25-40

tuổi sau đó tăng lên cho tới 70 tuổi Sau khi so

sánh với các nghiên cứu khác với các chủng tộc

khác nhau và với người Nhật ở các vùng địa lý

khác nhau Kuzuya M đã đưa ra giả thiết sự thay

đổi nồng độ acid uric theo tuổi chịu ảnh hưởng

của di truyền, đặc điểm sinh học và sự tác động mạnh mẽ của yếu tố môi trường(2)

Li Y nghiên cứu trên 3520 người với 1620 nam và 1900 nữ ở lứa tuổi từ 40-58 cho thấy nồng độ acid uric ở nữ giới tăng dần theo tuổi còn ở nam giới thì không Mặt khác nồng độ acid uric ở nam giới nông thôn thấp hơn nồng

độ acid uric ở nam giới thành thị Tỉ lệ tăng acid uric ở vùng thành thị cũng cao hơn ở vùng nông thôn(5)

Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi BN có tuổi từ 48 trở lên, không có sự khác biệt về nồng

độ acid uric theo tuổi ở cả nam và nữ Nồng độ acid uric theo giới: nhiều nghiên cứu cho thấy rằng nồng độ acid uric máu ở nam cao hơn ở nữ

Sự chênh lệch này là do nồng độ estrogen ở nữ cao hơn ở nam làm gia tăng sự đào thải của acid uric qua nước tiểu Mặt khác chế độ ăn uống và lối sống khác nhau giữa nam và nữ cũng có thể gây nên điều này Rượu làm tăng acid uric máu

do vừa làm tăng sản xuất acid vừa làm giảm đào thải acid uric

Li Y nghiên cứu trên 3520 người với 1620 nam và 1900 nữ ở lứa tuổi từ 40-58 thấy nồng độ acid uric trung bình ở nam cao hơn ở nữ Trong nhóm nghiên cứu này có 14% tăng acid uric ở nam và 9,7% nữ có tăng acid uric(5)

Nghiên cứu của chúng tôi trên 111 BN có nồng độ acid uric trung bình ở nam và nữ lần lượt là 424,6±129,5 μmol/l và 394±141,1 μmol/l, nồng độ acid uric ở nam có xu hướng cao hơn nồng độ acid uric ở nữ tuy nhiên sự chênh lệch này không có ý nghĩa Nguyên nhân của điều này có thể do cỡ mẫu trong nghiên cứu của chúng tôi còn nhỏ nên chưa thấy sự khác biệt giữa nam và nữ Chúng tôi cũng chưa tìm hiểu được chế độ ăn uống, lối sống của các đối tượng

để đưa vào nghiên cứu

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ tăng acid uric ở nam và nữ tương ứng là 46,9%, 40%

và cũng không thấy sự khác biệt về tỉ lệ tăng acid uric giữa nam và nữ Rối loạn nồng độ acid uric máu theo mức lọc cầu thận: Acid uric được thải

Trang 5

trừ phần lớn qua thận cho nên sự thay đổi chức

năng của thận sẽ dẫn tới sự thay đổi nồng độ

acid uric trong máu Sự gia tăng nồng độ acid

uric cũng gây ảnh hưởng nhiều tới chức năng

thận thông qua nhiều cơ chế khác nhau

Xu Y nghiên cứu trên 2584 người tình

nguyện trong 5 năm thấy rằng có mối tương

quan nghịch giữa sự thay đổi nồng độ acid uric

và sự thay đổi của mức lọc cầu thận(r=-0,37,

p<0,01) và ở nhóm tăng acid uric trong 5 năm thì

mức lọc cầu thận giảm trung bình là 5,26

ml/phút/1,73m² còn ở nhóm giảm acid uric trong

5 năm thì mức lọc cầu thận tăng

3,23ml/phút/1,73m² sự khác biệt này có ý nghĩa

thống kê (p<0,01)(9) Toyama T nghiên cứu trên

41632 người thấy rằng nồng độ acid uric tăng thì

mức lọc cầu thận giảm có ý nghĩa thống kê

(p<0,01) Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nồng độ

acid uric cao hơn 360 μmol/l là yếu tố nguy cơ

cho suy thận và giảm nhanh mức lọc cầu thận(8)

Obermayr R.P nghiên cứu trên 22441 người với

các mức nồng độ acid uric là <420, 420-540, >540

μmol/l thì mức lọc cầu thận lần lượt là 100, 93, 90

ml/phút/1,73m², sự khác biệt này có ý nghĩa

thống kê (p<0,01)(7)

Trong nghiên cứu của chúng tôi khi mức lọc

cầu thận được chia làm hai nhóm là ≥60 và <60

ml/phút/1,73m² thì nồng độ acid uric là

361,9±96,5 và 434,8±147,2 μmol/l sự khác biệt này

có ý nghĩa thống kê (p<0,05) Tỉ lệ BN tăng acid

uric ở hai nhóm BN này là 30,6% và 55,6% có sự

khác biệt ở hai nhóm BN này(p<0,05) Rối loạn

acid uric máutheo đường máu: Gill A(3) so sánh

trên 2 nhóm BN ĐTĐ typ2 và nhóm BN chứng

thấy nồng độ acid uric của hai nhóm BN tương

ứng là 396 và 272,4μmol/l (p<0,01) và có sự

tương quan thuận giữa nồng độ acid uric máu

với HbA1C(10)

Yan D nghiên cứu trên 3212 BN ĐTĐ typ2

cho thấy HbA1C tỉ lệ nghịch với nồng độ acid

uric máu (p<0,0001), và ở người có tăng acid uric

máu thì HbA1C là 8,1% thấp hơn so với người

không tăng acid uric máu là 9,1% (p<0,0001) và ở

cả nhóm nam với nhóm nữ cũng tìm thấy sự khác biệt này Nguyên nhân được cho là do các chất vận chuyển glucose và acid uric ở trong thận như GLUT9 vận chuyển cả glucose và acid uric ở ống thận, khi nồng độ glucose cao thì sự tái hấp thu acid uric giảm dẫn tới nồng độ acid uric máu giảm và ngược lại(10) Chúng tôi nghiên cứu cho kết quả nồng độ acid uric ở nhóm HbA1C≥7% có xu hướng cao hơn nồng độ acid uric ở nhóm HbA1C<7% tuy nhiên không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm này

Và tỉ lệ tăng acid uric máu cũng không có sự khác biệt giữa hai nhóm

KẾT LUẬN

Nghiên cứu bao gồm 111 bệnh nhân trong

đó nam/nữ là 1/1 Tuổi trung bình của bệnh nhân nghiên cứu là 69,7±10 tuổi, người có tuổi thấp nhất là 48 tuổi, cao nhất là 89 tuổi Nồng

độ acid uric trung bình ở các đối tượng nghiên cứu là 409,2±135,7 μmol/L (134,1-838μmol/L) Nồng độ acid uric cũng không có sự khác biệt có

ý nghĩa thống kê các nhóm tuổi, giới, mức lọc cầu thận, HbA1C của bệnh nhân (p>0,05) Nồng

độ acid uric máu trung bình của HbA1C<7 là 380,2±99,7 μmol/l, thấp hơn nồng độ acid máu trung bình của nhóm HbA1C≥7 là 405±123,8μmol/l tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)

Lời cảm ơn: Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc

Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn, các bác sỹ và điều dưỡng Khoa Sinh hóa, Khoa Khám bệnh, Đơn nguyên Thận nhân tạo, Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn đã tạo điều kiện cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 American Diabetes Asociation (2012) Diagnosis and

Classification of Diabetes Mellitus Diabetes Care, 3, pp.64-70

2 Kuzuya M., Ando F., Iguchi A et al (2002) Effect of aging on serum uric acid levels: longitudinal changes in a large Japanese

population group J Gerontol A Biol Sci Med Sci, 57(10), pp

660-664

3 Gill A., Kukreja S., Malhotra N et al (2013) Correlation of the serum insulin and the serum uric Acid levels with the glycated

haemoglobin levels in the patients of type 2 diabetes mellitus J

Clin Diagn Res, 7(7), pp 1295-1297

4 Lê Thị Phương (2011) Nghiên cứu biến chứng cầu thận ở BN

ĐTĐ typ 2 tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình Luận văn thạc sĩ

Trang 6

y học, Trường đại học Y Hà Nội

5 Li Y, Stamler J, Xiao Z et al (1997) Serum uric acid and its

correlates in Chinese adult populations, urban and rural, of

Beijing The PRC-USA Collaborative Study in Cardiovascular

and Cardiopulmonary Epidemiology Int J Epidemiol, 26(2), pp

288-296

6 Nguyễn Đức Ngọ, Lê Thị Diệu Hồng (2009) Microalbumin

niệu ở BN đái tháo đường typ 2, mối liên quan với các thành

phần của hội chứng chuyển hóa Tạp chí y học thực hành, số

2/2009, pp 1-4

7 Obermayr RP, Temml C, Gutjahr G et al (2008) Elevated uric

acid increases the risk for kidney disease J Am Soc Nephrol,

19(12), pp 2407-2413

8 Toyama T, Furuichi K, Shimizu M et al (2015) Relationship

between Serum Uric Acid Levels and Chronic Kidney Disease

in a Japanese Cohort with Normal or Mildly Reduced Kidney

Function PLoS One, 10(9), e0137449

9 Xu Y, Liu X, Sun X et al (2016) The impact of serum uric acid

on the natural history of glomerular filtration rate: a

retrospective study in the general population PeerJ, 4, e1859

10 Yan D, Tu Y, Jiang F et al (2015) Uric Acid is independently associated with diabetic kidney disease: a cross-sectional study

in a Chinese population PLoS One, 10(6), e0129797

Ngày nhận bài báo: 29/11/2016 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 26/11/2016 Ngày bài báo được đăng: 15/05/2017

Ngày đăng: 15/01/2020, 23:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w