1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát hình ảnh hở ống động mạch cảnh vào tai giữa

5 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 261,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Động mạch cảnh trong trong xương đá là một cấu trúc giải phẫu quan trọng trong vùng xương thái dương. Bình thường, động mạch nằm trong ống động mạch cảnh có vách xương toàn vẹn. Khi có biến thể hở ống động mạch cảnh, vách xương này bị khuyết, khiến cho động mạch bộc lộ trực tiếp vào hòm nhĩ, đôi khi lồi vào trong hòm nhĩ, có thể bị chẩn đoán nhầm với tổn thương khác như u cuộn mạch, hoặc có thể bị tổn thương trong khi phẫu thuật tai, hoặc cũng có thể gây ra một số triệu chứng khác như ù tai kéo dài.

Trang 1

KHẢO SÁT HÌNH ẢNH HỞ ỐNG ĐỘNG MẠCH CẢNH VÀO TAI GIỮA

Đỗ Hải Thanh Anh*, Phạm Ngọc Hoa**, Ngô Trí Hùng***

TÓM TẮT

Mở đầu: Động mạch cảnh trong trong xương đá là một cấu trúc giải phẫu quan trọng trong vùng xương

thái dương Bình thường, động mạch nằm trong ống động mạch cảnh có vách xương toàn vẹn Khi có biến thể hở ống động mạch cảnh, vách xương này bị khuyết, khiến cho động mạch bộc lộ trực tiếp vào hòm nhĩ, đôi khi lồi vào trong hòm nhĩ, có thể bị chẩn đoán nhầm với tổn thương khác như u cuộn mạch, hoặc có thể bị tổn thương trong khi phẫu thuật tai, hoặc cũng có thể gây ra một số triệu chứng khác như ù tai kéo dài

Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỉ lệ, đặc điểm dịch tễ của biến thể hở ống động mạch cảnh

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thiết kế mô tả cắt ngang, phương pháp lấy mẫu hồi cứu Thu

thập hình ảnh chụp cắt lớp vi tính của 862 xương thái dương (431 bệnh nhân, 245 nữ, 186 nam), máy chụp cắt lớp vi tính 64 lát cắt và 128 lát cắt, chụp xoắn ốc, độ dày lát cắt tái tạo 0,6-0,625mm, dựng hình đa mặt phẳng

Kết quả: Hở ống động mạch cảnh vào tai giữa: tỉ lệ chung 27,8%, hở ống động mạch cảnh hai bên 21,3%,

hở bên phải 26,2%, hở bên trái 29,5% Hở bên phải: nữ 25,3%, nam 27,4% (p=0,6589), hở bên trái: nữ 31,8%, nam 26,3% (p=0,2411) Tuổi của nhóm có hở ống động mạch cảnh trung bình 52 đến 54 tuổi, cao hơn nhóm không hở, có ý nghĩa thống kê

Kết luận: Hở ống động mạch cảnh là một biến thể quan trọng của động mạch cảnh trong đoạn trong xương

đá, với tỉ lệ ghi nhận trong y văn dao động khá rộng, tuy nhiên trong nghiên cứu này ghi nhận tỉ lệ khá cao 27,8% Không có sự khác biệt về bên và về giới Tuổi của nhóm có hở ống động mạch cảnh trung bình 52 đến 54 tuổi, cao hơn nhóm không hở, có ý nghĩa thống kê

Từ khóa: động mạch cảnh trong đoạn trong xương đá, ống động mạch cảnh, hở ống động mạch cảnh, chụp

cắt lớp vi tính

ABSTRACT

IMAGING OF CAROTID CANAL DEHISCENCE IN THE MIDDLE EAR

Do Hai Thanh Anh, Pham Ngoc Hoa, Ngo Tri Hung

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 23 - No 1- 2019: 60-64

Background: Petrous internal carotid artery is an important anatomical structure in the temporal bone

Normally, the artery runs through the temporal bone in an intact carotid canal When there is the variant of carotid canal dehiscence, the bony wall of the carotid canal is defective, causing the artery to expose directly into the tympanic cavity, sometimes protrude into it This may lead to misdiagnose with other lesions such as glomus tumors , or the artery could be damaged during ear surgery, or may also cause some other symptoms such as prolonged tinnitus

Purpose: Define the rate and some epidemiological characteristics of carotid canal dehiscence

Materials and methods: Cross-sectional design, retrospective sampling Collecting computed tomography

images of 862 temporal bones (431 patients, 245 women, 186 men), using 64-slice and 128-slice CT scanners, spiral acquisition, reconstructive thickness 0.6-0.625mm, multiplanar reconstruction

Results: Carotid canal dehiscence in the middle ear: general rate 27.8%, bilateral 21.3%, dehiscence on the

*Bộ môn Chẩn Đoán Hình Ảnh, Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh,

** Hội Chẩn Đoán Hình Ảnh TP Hồ Chí Minh

Trang 2

right 26.2%, on the left 29.5% Right-side dehiscence group: 25.3% women, 27.4% men (p = 0.6589) Left-side dehiscence group: 31.8% women, 26.3% men (p = 0.2411) The average age of the dehiscence is 52 to 54 years old, higher than that of the other group, statistically significant

Conclusion: Carotid canal dehiscence is an important variant of the petrous internal carotid artery, with a

fairly wide range of rates in the literature However, this study recorded a relatively high rate at 27.8% There is

no difference in terms of affected side and gender The average age of the dehiscence is 52 to 54 years old, higher than that of the other group, statistically significant

Keywords: petrous internal carotid artery, carotid canal, carotid canal dehiscence, computed tomography

ĐẶT VẤN ĐỀ

Động mạch cảnh trong là một cấu trúc giải

phẫu quan trọng trong vùng xương thái

dương Trong xương đá, động mạch cảnh

trong chạy trong một ống xương gọi là ống

động mạch cảnh – đây là một thành phần của

thành trước hòm nhĩ Bình thường, ống động

mạch cảnh có vách xương toàn vẹn, ngăn cách

đoạn gối động mạch cảnh trong trong xương

đá với hòm nhĩ(7) Khi có biến thể hở ống động

mạch cảnh, vách xương này bị khuyết ở đoạn

tiếp giáp với hòm nhĩ, khiến cho gối động

mạch cảnh trong đoạn trong xương đá bộc lộ

trực tiếp vào hòm nhĩ, đôi khi lồi vào trong

hòm nhĩ, có thể bị chẩn đoán nhầm với tổn

thương khác như u cuộn mạch, hoặc có thể bị

tổn thương trong khi phẫu thuật tai, hoặc cũng

có thể gây ra một số triệu chứng khác như ù tai

kéo dài(2,8,10) Biến thể này tuy ít gặp nhưng lại

có ý nghĩa quan trọng Trên thế giới cũng đã

có các nghiên cứu trên tử thi và hình ảnh học

về vấn đề này, tuy nhiên chúng tôi chưa tìm

thấy nghiên cứu này ở trong nước Do đó,

chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu

“Khảo sát hình ảnh hở ống động mạch cảnh vào tai

giữa” với mục tiêu:

Xác định tỉ lệ có biến thể hở ống động mạch

cảnh vào tai giữa trên phim chụp cắt lớp vi tính

xương thái dương và một số đặc điểm liên quan

của biến thể này

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Mô tả cắt ngang

Đối tượng nghiên cứu

Những bệnh nhân được chụp cắt lớp vi tính vùng đầu cổ ở Bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh cơ sở I và Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 10/2013 đến tháng 4/2017, có hình ảnh được lưu trữ hoặc có thể tái tạo với lát cắt mỏng hơn hoặc bằng 0,625 mm và dựng hình đa mặt phẳng Loại trừ những bệnh nhân có tổn thương hoặc

đã từng can thiệp ở vùng xương thái dương, tai giữa hoặc hố sau

Phương tiện nghiên cứu

Khảo sát bằng máy chụp cắt lớp vi tính 64 lát cắt và 128 lát cắt, trên các lát cắt mỏng hơn hoặc bằng 0,625 mm, dựng hình đa mặt phẳng, mặt phẳng ngang trục song song với đường cắt qua hốc mắt-lỗ tai, khảo sát chính trên cửa sổ xương Thu thập dữ liệu hình ảnh chụp cắt lớp vi tính từ máy chụp, trạm làm việc, hệ thống PACS, xử lí dựng hình và đo đạc trên các trạm làm việc với phần mềm chuyên dụng

Số liệu được thu thập bằng bảng thu thập số liệu, nhập và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS

20 Xác định mối liên quan bằng phép kiểm Chi

bình phương, phép kiểm chính xác Fisher Mối liên quan có ý nghĩa thống kê nếu p < 0,05

KẾT QUẢ

Trong khoảng thời gian tiến hành nghiên cứu thu được 862 mẫu chụp cắt lớp vi tính xương thái dương trên 431 bệnh nhân, gồm 245

nữ (56,8%) và 186 nam (43,2%), tuổi từ 14 đến 94 tuổi, tuổi trung bình 46,13 ± 16,7

Tỉ lệ hở ống động mạch cảnh

Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hở bên phải và hở bên trái

Trang 3

Bảng 1 Tỉ lệ hở ống động mạch cảnh về phía tai giữa

mỗi bên và hai bên

Chung (N=862)

Bên phải (N=431)

Bên trái (N=431)

Hở ống ĐMC về phía tai giữa

Bảng 2 Phân bố bên phải và trái của nhóm hở ống

động mạch cảnh về phía tai giữa một bên

Bên phải (N=339)

Bên trái (N=339)

Giá trị

p

Hở ống ĐMC về phía

tai giữa

0,0689

Hở ống động mạch cảnh và giới

Dân số mẫu gồm 235 nữ và 186 nam

Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

về giới của đặc tính hở ống động mạch cảnh ở

mỗi bên (Bảng 3)

Có 92 trường hợp hở ống động mạch cảnh

về phía tai giữa hai bên, trong đó 54 trường hợp

là nữ, chiếm 22% dân số nữ trong mẫu nghiên cứu Ở nam là 38 trường hợp, chiếm 20,4% dân

số nam trong mẫu nghiên cứu Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về giới trong nhóm này (giá trị p=0,7228)

Hở ống động mạch cảnh và tuổi

Tuổi của nhóm có hở ống động mạch cảnh cao hơn nhóm không hở, có ý nghĩa thống kê

(Bảng 4)

Độ dài đoạn hở ống động mạch cảnh vào tai

giữa (Bảng 5)

Bảng 3 Phân bố theo giới của hở ống động mạch cảnh ở mỗi bên

n Nữ (N=245) n Nam (N=186) Giá trị p

Bảng 4 Tuổi trung bình của các nhóm hở ống động

mạch cảnh mỗi bên và hở ống động mạch cảnh hai bên

Tuổi (năm) TB (ĐLC) Giá trị p

Bảng 5 Độ dài đoạn hở ống động mạch cảnh vào

tai giữa

Chung (N=240)

Bên phải (N=113)

Bên trái (N=127)

Độ dài đoạn hở ĐMCT về phía tai giữa (mm)

Trung bình (độ lệch

chuẩn)

BÀN LUẬN

Tỉ lệ hở ống động mạch cảnh

Tỉ lệ hở ống động mạch cảnh phát hiện được trong nghiên cứu là 240 trường hợp trên 862 mẫu chụp cắt lớp vi tính xương thái dương của

431 bệnh nhân, chiếm tỉ lệ 27,8% Tỉ lệ có hở ở cả hai bên là 92/431 bệnh nhân (21,3%)

Hở ống động mạch cảnh vào tai giữa là tình trạng khuyết vách xương thành ống động mạch cảnh phần tiếp giáp với hòm nhĩ, khiến cho động mạch cảnh trong đoạn trong xương đá, thường là phần gối động mạch giữa đoạn đứng

và đoạn ngang, bộc lộ trực tiếp vào trong hòm nhĩ, đôi khi lồi hẳn vào trong hòm nhĩ Điều này không chỉ gây ra vấn đề về mặt chẩn đoán bệnh,

mà quan trọng không kém là khiến cho động mạch cảnh trong đoạn này không được vách xương bảo vệ, trở nên dễ bị tổn thương khi bệnh

Trang 4

nhân được phẫu thuật tai(3) Biến thể ít gặp nên

chẩn đoán này không được quen thuộc trên lâm

sàng và có thể bị bỏ qua hoặc nhầm lẫn với một

tổn thương u giàu mạch máu(8)

Đã có các bài nghiên cứu về hở ống động

mạch cảnh thực hiện trên cả trên mẫu tử thi và

mẫu chụp cắt lớp vi tính xương thái dương Tuy

nhiên, tỉ lệ xuất hiện biến thể này dao động khá

rộng giữa các tác giả nghiên cứu, từ hiếm gặp

đến khá phổ biến

Với nhóm tác giả nghiên cứu trên hình chụp

cắt lớp vi tính: nghiên cứu của chúng tôi cho tỉ lệ

cao hơn rất nhiều so với các tác giả có tỉ lệ này

rất thấp như: Atilla 1,4%(1), Koesling 2%(4), Wang

6,9%(11) Tuy nhiên cũng có nhóm tác giả cho tỉ lệ

này cao hơn nghiên cứu của chúng tôi như:

Mehmet 30,9%(9) và Dew 33%(2) Về sự khác biệt

này, có thể do các vấn đề như kĩ thuật chụp cắt

lớp vi tính – nghiên cứu chúng tôi sử dụng máy

64 và 128 lát cắt với các thế hệ máy mới, độ dày

lát cắt 0,6-0,625 mm, các nghiên cứu trước đó có

thể do thế hệ máy cũ hơn và lát cắt dày hơn làm

hạn chế phần nào khả năng phát hiện biến thể;

ngoài ra số lượng mẫu nghiên cứu cũng dao

động lớn giữa các nhóm nghiên cứu, cũng như

đặc điểm của dân số đưa vào mẫu khác nhau,

cách loại trừ bệnh nhân đưa vào mẫu khác nhau

cũng có thể ảnh hưởng đến tỉ lệ phát hiện biến

thể này

Với nhóm tác giả nghiên cứu trên xác, tỉ lệ

này cũng dao động rộng: một số tác giả cho tỉ lệ

thấp như Hasebe 4,9%(3), Moreano 7,7%(5); trong

khi một số tác giả lại cho tỉ lệ cao hơn hẳn như

Penido 35,2%(6), và Leonetti lên đến 40%

Như vậy, bên cạnh những nghiên cứu cho tỉ

lệ biến thể này rất thấp cũng đã có những nghiên

cứu cho tỉ lệ cao lên đến 30-40% Điều này nhắc

nhở các bác sĩ hình ảnh học cần lưu ý hơn khi

tường trình kết quả các phim chụp xương thái

dương, cũng như các nhà lâm sàng cần phối hợp

chụp cắt lớp vi tính trước mổ để đánh giá toàn

diện vùng xương thái dương trước phẫu thuật,

tránh gây tổn thương động mạch có thể dẫn đến

chảy máu trong mổ nghiêm trọng do các biến thể mạch máu vùng này

Nguồn gốc của hở ống động mạch chưa được khẳng định rõ Có thể có một số giải thích cho tình trạng này như: cốt hóa không đầy đủ, bất thường bẩm sinh, hay do quá trình hấp thụ xương theo tuổi(6)

Trong nghiên cứu của chúng tôi không có sự khác biệt về tỉ lệ giữa hở ống động mạch cảnh bên phải và bên trái Kết quả này tương đồng với tác giả Sivrice ME (9)

Độ dài đoạn hở ống động mạch trong nghiên cứu chúng tôi trung bình là 4,6 ± 1,9mm, với khoảng thay đổi từ 1mm đến 12,9mm Tác giả Hasebe(3) nghiên cứu trên 142 mẫu tử thi ghi nhận chiều dài đoạn hở từ 0,7mm đến 4,4mm

Đặc điểm về tuổi và giới của hở ống động mạch cảnh

Trong nghiên cứu của chúng tôi, không có

sự khác biệt giữa nam và nữ về biến thể này, tương đồng với các tác giả Penido(6) và Sivrice

ME(9) Tuổi của nhóm có hở ống động mạch cảnh trung bình 52 đến 54 tuổi, cao hơn nhóm không

hở, có ý nghĩa thống kê; trong khi tác giả Sivrice

ME(9) lại thấy không khác biệt về tuổi, còn tác giả Moreano lại thấy tỉ lệ hở ống động mạch cảnh giảm theo tuổi(5) Có thể do sự khác biệt về loại mẫu nghiên cứu (chúng tôi và Mehmet nghiên cứu trên chụp cắt lớp vi tính, Moreano nghiên cứu trên xác), đặc điểm về dân số lấy mẫu khác nhau, số lượng mẫu khác nhau, phương tiện thực hiện nghiên cứu khác nhau, có thể dẫn đến

sự khác biệt kết quả này

KẾT LUẬN

Hở ống động mạch cảnh là một biến thể quan trọng của động mạch cảnh trong đoạn trong xương đá, với tỉ lệ ghi nhận trong y văn dao động khá rộng, tuy nhiên trong nghiên cứu này ghi nhận tỉ lệ khá cao 27,8% Không có sự khác biệt về bên và về giới Tuổi của nhóm có hở ống động mạch cảnh trung bình 52 đến 54 tuổi, cao hơn nhóm không hở, có ý nghĩa thống kê

Trang 5

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Atilla S, Akpek S, Uslu S et al (1995) Computed tomographic

evaluation of surgically significant vascular variations related

with the temporal bone European Journal of Radiology, 20(1):52-56

2 Dew LA, Shelton C, Harnsberger HR et al (1997) Surgical

Exposure of the Petrous Internal Carotid Artery: Practical

Application for Skull Base Surgery The Laryngoscope, 107(7):967-976

3 Hasebe S, Sando I, Orita Y (2003) Proximity of Carotid Canal

Wall to Tympanic Membrane: A Human Temporal Bone Study

Laryngoscope, 113: 802-7

4 Koesling S, Kunkel P, Schul T (2005) Vascular anomalies,

sutures and small canals of the temporal bone on axial CT

European Journal of Radiology, 54(3): 335-343

5 Moreano EH, Paparella MM, Zelterman D et al (1994)

Prevalence of carotid canal dehiscence in the human middle ear:

A report of 1000 temporal bones The Laryngoscope, 104(5):612-618

6 Penido NO, Borin A, Fukuda Y (2005) Microscopic anatomy of

the carotid canal and its relations with cochlea and middle ear

Brazilian Journal of Otorhinolaryngology, 71(4): 410-414

7 Savic D, Djeric D (1985) Anatomical variations and relations in

the medial wall of the bony portion of the eustachian tube Acta

Otolaryngol, 99(5-6): 551-6

8 Schmalfuss IM, Camp M (2008) Skull base: pseudolesion or true

lesion? Eur Radiol, 18(6): 1232-43

9 Sivrice ME, Yasan H, Coban I (2017) Prevalence of carotid canal dehiscence facing with middle ear and its relationship with

tinnitus Journal of Clinical and Analytical Medicine, 8(3): 195-197

10 Van Damme JP, Heylen G, Gilain C et al (2017) Pulsatile tinnitus associated with dehiscent internal carotid artery: An

irremediable condition? Auris Nasus Larynx, 44(5): 612-615

11 Wang CH, Shi ZP, Liu DW et al (2011) High Computed Tomographic Correlations between Carotid Canal Dehiscence

and High Jugular Bulb in the Middle Ear Audiology and

Neurotology, 16(2): 106-112

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 10/12/2018 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2019

Ngày đăng: 15/01/2020, 23:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w