1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu tác dụng của cao chiết cồn từ vỏ quả Thanh long ruột trắng (Hylocereus undatus) trên mô hình chuột nhắt đái tháo đường

6 122 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 376,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu về tác dụng hạ đường huyết và bảo vệ gan, thận của cao chiết cồn 45% từ vỏ quả Thanh long trên bệnh cảnh đái tháo đường thực nghiệm.

Trang 1

NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG CỦA CAO CHIẾT CỒN

TỪ VỎ QUẢ THANH LONG RUỘT TRẮNG (HYLOCEREUS UNDATUS)

TRÊN MÔ HÌNH CHUỘT NHẮT ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Trịnh Minh Thiên*, Nguyễn Lĩnh Nhân * , Nguyễn Thị Thu Hương *

TÓM TẮT

Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu về tác dụng hạ đường huyết và bảo vệ gan, thận của cao chiết cồn 45%

từ vỏ quả Thanh long trên bệnh cảnh đái tháo đường thực nghiệm

Phương pháp nghiên cứu: Chuột được gây tăng glucose huyết bằng cách tiêm phúc mạc streptozotocin với

liều 170 mg/kg Đánh giá tác dụng hạ đường huyết bằng định lượng nồng độ glucose trong huyết tương lúc đói

và nghiệm pháp dung nạp glucose Về tác dụng bảo vệ gan, thận được khảo sát bằng định lượng malondialdehyde (MDA) trong dịch đồng thể gan-thận Các liều thử nghiệm được chọn là 0,875 g/kg và 1,75 g/kg (tương đương với 2,5 g và 5 g dược liệu khô tuyệt đối/kg thể trọng chuột)

Kết quả: Ở cả hai liều thử nghiệm, cao chiết cồn 45% từ vỏ quả Thanh long đều làm giảm nồng độ glucose

huyết ở chuột bị đái tháo đường trên cả hai thực nghiệm xác định glucose huyết đói và trong nghiệm pháp dung nạp glucose; tuy nhiên, tác dụng này yếu hơn so với thuốc đối chiếu glibenclamid liều 5 mg/kg và chưa đưa được

về trị số sinh lý Cao chiết cồn 45% từ vỏ quả Thanh long ở cả hai liều thử nghiệm đều làm giảm hàm lượng MDA trong gan và thận chuột thử nghiệm, tác dụng này tương đương với thuốc đối chiếu là glibenclamid liều 5 mg/kg

Kết luận: Cao chiết cồn 45% từ vỏ quả Thanh long ruột trắng thể hiện tác dụng hạ đường huyết và bảo vệ

gan, thận theo hướng kháng stress oxy hóa trên bệnh cảnh đái tháo đường thực nghiệm gây bởi streptozotocin

Từ khóa: Vỏ quả Thanh long, hạ đường huyết, tác dụng bảo vệ gan,thận, stress oxy hóa

ABSTRACT

STUDY ON THE EFFECTS OF THE ETHANOL EXTRACT FROM HYLOCEREUS UNDATUS FRUIT

PEEL ON DIABETIC MOUSE MODEL

Trinh Minh Thien, Nguyen Linh Nhan, Nguyen Thi Thu Huong

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 22 - No 5- 2018: 109 – 114

Objectives: The aim of this study is to investigate the hypoglycemic and hepatorenal protective effects of

45% ethanol extract from Hylocereus undatus fruit peel in diabetic mouse model

Methods: Swiss albino mice were caused hyperglycemia by streptozotocin (170 mg/kg, intraperitoneal

injection) The hypoglycemic effect was evaluated on measurement of fasting plasma glucose level and oral glucose tolerance test The hepatorenal protective effect was evaluated by malondialdehyde (MDA) in liver or kidney homogenates The extract doses were 0.875 g/kg and 1.75 g/kg (equivalent to 2.5 g and 5 g absolute dry weights of raw materials/ kg mouse body weight)

Results: The 45% ethanol extract from H undatus fruit peel at test doses reduced plasma glucose levels in

fasted diabetic mice and at 30 min or 120 min after glucose overload in oral glucose tolerance test However, this

effect was weaker than glibenclamide (at dose of 5 m /kg) and not restored to physiological values The 45%

ethanol extract from H undatus fruit peel as well as glibenclamide also reduced MDA contents in the liver and kidneys homogenates of diabetic mice

 Trung Tâm Sâm và Dược liệu TP Hồ Chí Minh - Viện Dược liệu

Trang 2

Conclusions: The 45% ethanol extract from H undatus fruit peel had the hypoglycemic and hepatorenal

protective effects in streptozotocin-induced diabetic mice

Keywords: Hylocereus undatus fruit peel, hypoglycemia, hepatorenal protective effect, oxidative stress

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thanh long (Hylocereus undatus, dragon fruit)

thuộc họ Cactaceae là một loại trái cây nhiệt đới

với nguồn vitamin C rất cần thiết cho cơ thể

trong việc giúp cải thiện hệ miễn dịch, giàu

phospho và canxi có vai trò thiết yếu trong quá

trình hình thành của xương, răng và phát triển

các tế bào, thành phần caroten có tác dụng duy

trì và cải thiện thị lực(8) Ngoài ra, Thanh long còn

có các tác dụng ổn định huyết áp, mang lại nhiều

lợi ích cho những người có nguy cơ bị nhồi máu

cơ tim hoặc đột quỵ(8) Hui Luo và cộng sự (2014)

đã tiến hành phân tích thành phần hóa thực vật

vỏ quả Thanh long ruột trắng cho thấy có chứa

β-amyrin (23,39%), γ-sitosterol (19,32 %),

octadecan (9,25%), heptacosan (5,52%),

campesterol (5,27%), nonacosan (5,02%),

hexadecyl ester (5,21%) ,… Cao chiết vỏ quả

Thanh long thể hiện hoạt tính gây độc tế bào và

hoạt tính đánh bắt gốc tự do(3) Kolla và cộng sự

(2010) cho thấy cao chiết nước từ quả Thanh long

liều 250 mg/kg và 500 mg/kg làm giảm nồng độ

đường huyết lúc đói trên mô hình đái tháo

đường gây bởi streptozotocin (liều 40 mg/kg) và

làm giảm hàm lượng malondialdehyde (MDA)(7)

Gần đây nghiên cứu trên lâm sàng đã chứng

minh tác dụng hạ đường huyết của quả Thanh

long trên bệnh nhân bị đái tháo đường tuýp 2(5)

Việt Nam là một quốc gia có diện tích và sản

lượng Thanh long lớn nhất châu Á và cũng là

một trong những nước hàng đầu trên thế giới về

xuất khẩu Thanh long (Theo:

vtv.vn/xuat-khau-thanh-long.html) Thanh long hiện đang được

trồng ở hầy hết các tỉnh thành, nhưng phát triển

mạnh thành các vùng chuyên canh quy mô lớn

tập trung ở các tỉnh như Bình Thuận, Tiền Giang

và Long An (Theo: https://vnexpress.net,

9/2/2018) Mặc dù đã và đang được sử dụng rộng

rãi như một nguồn trái cây có giá trị dinh dưỡng

cao; hiện nay, các nghiên cứu về tác dụng dược

lý vỏ quả Thanh long Việt Nam vẫn còn giới hạn, phần lớn các nghiên cứu chỉ quan tâm đến thịt quả Thanh long Vì vậy, nhóm nghiên cứu tiến hành khảo sát tác dụng của cao chiết từ vỏ quả Thanh long trên bệnh cảnh gây tăng đường huyết thực nghiệm bởi streptozotocin Từ đó, đề tài hướng đến mục tiêu sàng lọc thêm nguồn dược liệu mới góp phần cải thiện sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống con người

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Vỏ quả Thanh long thu từ quả tươi được trồng tại tỉnh Bình Thuận Vỏ quả Thanh long có màu tím hồng được thái mỏng từ 3 - 5 cm, phơi khô, xay thành bột có kích thước 2 - 4 mm với độ

ẩm đạt yêu cầu theo tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam IV (< 13%) Bột khô dược liệu vỏ quả Thanh long được chiết với cồn 45% bằng phương pháp chiết ngấm kiệt với tỷ lệ dược liệu: dung môi là 1:15, thu nhận cao chiết cồn 45% từ vỏ quả Thanh long có độ ẩm 13,23% đạt yêu cầu về chỉ tiêu mất khối lượng do làm khô theo tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam IV áp dụng cho cao đặc (< 20%) Hàm lượng polyphenol trong cao chiết cồn 45% từ vỏ quả Thanh long là 10,56% Các liều thử nghiệm được chọn tương đương với 2,5 và 5

g dược liệu khô và tương ứng với 1/40 Dmax và 1/20 Dmax (Dmax là liều tối đa có thể cho uống mà không gây chết chuột trong thử nghiệm khảo sát độc tính cấp đường uống)

Động vật nghiên cứu

Các thử nghiệm được thực hiện trên chuột

nhắt trắng đực chủng Swiss albino, 5 tuần tuổi,

trọng lượng trung bình 25 ± 2 g, được cung cấp bởi Viện Vắc xin và Sinh phẩm Y tế Nha Trang Chuột được nuôi bằng thực phẩm viên được cung cấp bởi Viện Vắc xin và Sinh phẩm Y tế Nha Trang, với nước uống đầy đủ Thể tích cho uống hoặc tiêm là 0,1 ml/10 g cân nặng

Trang 3

Hóa chất – thuốc thử nghiệm

Streptozotocin (Sigma-Aldrich Co., Ltd,

USA) và thuốc đối chiếu Glibenclamid (chứa

glibenclamid 5 mg/viên, Số lô 0030916, hạn

dùng 7/9/2019, Công ty xuất nhập khẩu y tế

Domesco, Việt Nam)

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế thực nghiệm, đo lường độc lập

Mô hình gây tăng đường huyết bằng

streptozotocin

Thiết kế nghiên cứu ngẫu nhiên, đánh giá

sự thay đổi nồng độ glucose huyết của chuột

thử nghiệm trước và sau khi gây mô hình tăng

đường huyết bằng streptozotocin và so sánh

thống kê tác dụng của cao chiết với lô chứng

(không điều trị) và với lô thuốc đối chiếu

(chọn thuốc có tác dụng điển hình trên lâm

sàng là glibenclamid)

Chuột được gây tăng glucose huyết bằng

cách tiêm phúc mạc (i.p) streptozotocin (pha

trong đệm natri citrat pH 4,5) với liều 170 mg/kg

thể trọng Sau 7 ngày tiêm, lấy máu tĩnh mạch

đuôi chuột định lượng glucose huyết, chọn

những con chuột có trị số glucose huyết đo lúc

đói (fasted blood glucose) ≥ 126 mg/dl (Theo:

American Diabetes Association: Standards of medical

care in diabetes, 2016) và phân chia ngẫu nhiên

vào các lô thử nghiệm của nhóm bệnh lý (Bảng

1) Đối với nhóm sinh lý, chuột thử nghiệm sẽ

được tiêm đệm natri citrat pH = 4,5 (i.p) và phân

lô thử nghiệm tương tự nhóm bệnh lý(4)

Bảng 1 Bố trí các lô thử nghiệm

Nhóm Lô chuột n=8 Thuốc thử nghiệm

Nhóm

sinh lý

Thử 1 Cao chiết cồn vỏ quả Thanh long

(Cao TL) liều 1 (0,875 g/kg) Thử 2 Cao chiết cồn vỏ quả Thanh long liều 2 (1,75 g/kg)

Đối chiếu Glibenclamid (5 mg/kg)

Nhóm

bệnh lý

Thử 1 Cao chiết cồn vỏ quả Thanh long liều 1 (0,875 g/kg)

Thử 2 Cao chiết cồn vỏ quả Thanh long liều 2 (1,75 g/kg)

Đối chiếu Glibenclamid (5 mg/kg)

Sau 7 ngày điều trị, chuột được cho nhịn đói qua đêm trước khi tiến hành định lượng glucose huyết đói Chuột được uống nước cất, cao thử nghiệm hoặc thuốc đối chiếu ở ngày cuối 1 giờ trước khi tiến hành lấy máu tĩnh mạch đuôi chuột Nồng độ glucose trong huyết tương được xác định theo Kit GOD-PAP Human Diagnostic Ltd Co (Germany)

Nghiệm pháp dung nạp glucose

Nghiệm pháp dung nạp glucose là một trong các tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường tin cậy trên lâm sàng, trong đó theo mô hình của WHO, sử dụng liều uống 75 g glucose và đo đường huyết sau 2 giờ với giá trị chẩn đoán ≥200 mg/dl (đái tháo đường) và trong khoảng 140 -

199 mg/dl (rối loạn dung nạp glucose) (Theo:

American Diabetes Association: Standards of medical care in diabetes, 2016) Trên động vật thử nghiệm

là chuột nhắt trắng, liều uống glucose là 2 g/kg thể trọng chuột và đo đường huyết sau 30 phút và 120 phút với giá trị chẩn đoán tương tự như ở người Cho chuột nhịn đói 12 giờ, tiến hành lấy máu tĩnh mạch đuôi chuột xác định nồng độ glucose huyết ban đầu Cho chuột uống các mẫu thử một giờ nhất định trong ngày và trong 7 ngày Sau một giờ của lần uống cuối cùng tiến hành nghiệm pháp dung nạp glucose (cho uống dung dịch glucose liều 2 g/kg), lấy máu tĩnh mạch đuôi

để xác định nồng độ glucose trong huyết tương sau khi gây dung nạp 30 phút và 120 phút(9)

Đồng thể gan (hoặc thận) chuột trong dung dịch KCl 1,15% theo tỷ lệ 1:9 trong vòng 1 phút Cho 1ml dịch đồng thể gan (hoặc 2 ml dịch đồng thể thận) vào ống ly tâm, bổ sung dung dịch đệm Tris-HCl (pH = 7,4) vừa đủ 3 ml Hỗn hợp phản ứng được ủ ở 37 oC trong vòng 60 phút, sau

đó dừng phản ứng bằng 1 ml acid tricloacetic 10% và ly tâm ở nhiệt độ 5 oC trong vòng 10 phút với tốc độ 10.000 vòng/phút Thu 2 ml dịch trong sau khi ly tâm cho phản ứng với 1 ml acid thiobarbituric 0,8% ở 100 oC trong 15 phút Đo độ

Trang 4

hấp thu ở bước sóng 532 nm và tính toán hàm

lượng MDA (nM/g protein) theo phương trình

hồi quy tuyến tính của chất chuẩn MDA

Đánh giá kết quả

Các số liệu được biểu thị bằng trung bình: M

± SEM (Standar Error of the Mean – sai số chuẩn

của trị số trung bình) và được xử lý thống kê dựa

vào phép kiểm One–Way ANOVA và Student

Newman Keuls test (phần mềm SigmaStat 3.5)

Kết quả thực nghiệm có ý nghĩa thống kê với độ

tin cậy 95% khi p < 0,05 so với lô chứng Cao

chiết được đánh giá là có tác dụng làm hạ đường

huyết khi mức độ giảm của nồng độ glucose

trong huyết tương đạt trong khoảng > 30% so với

lô chứng không điều trị

KẾT QUẢ

Kết quả khảo sát nồng độ glucose trong huyết tương

Kết quả Bảng 2 cho thấy cao chiết cồn từ vỏ

quả Thanh long liều 0,875 g/kg và liều 1,75 g/kg

sau 7 ngày uống không ảnh hưởng trên nồng độ

glucose trong huyết tương chuột bình thường Trong nhóm bệnh lý, nồng độ glucose trong huyết tương trước điều trị tăng đạt 52 - 55% so với chứng sinh lý Sau 7 ngày điều trị, nồng độ glucose trong huyết tương ở các lô uống cao chiết cồn từ vỏ quả Thanh long liều 0,875 g/kg và liều 1,75 g/kg giảm 52%, có sự khác biệt đạt ý nghĩa thống kê so với lô chứng bệnh lý Bên cạnh

đó, nồng độ glucose trong huyết tương ở lô uống cao chiết cồn từ vỏ quả Thanh long liều 0,875 g/kg và liều 1,75 g/kg không có sự khác biệt đạt ý nghĩa thống kê so với nhau; có sự khác biệt đạt ý nghĩa thống kê so với lô đối chiếu glibenclamid (giảm 60%) và vẫn còn có sự khác biệt đạt ý nghĩa thống kê so với lô chứng sinh lý Như vậy,

ở cả hai liều thử nghiệm, cao chiết cồn từ vỏ quả Thanh long có thể hiện tác dụng hạ đường huyết trên chuột bị gây đái tháo đường nhưng yếu hơn

so với glibenclamid liều 5 mg/kg và vẫn chưa đưa được trị số glucose huyết về mức sinh lý

Bảng 2 Kết quả khảo sát nồng độ glucose trong huyết tương chuột đo lúc đói ở các lô thử nghiệm

Nhóm Lô thử nghiệm

(n=8)

Nồng độ glucose trong huyết tương (mg/dL) Trước điều trị Sau điều trị 7 ngày

Sinh lý

Glibenclamid liều 5 mg/kg 89,11 ± 5,53 81,89 ± 3,91* (giảm 14%)

Bệnh lý

Chứng bệnh lý (tăng 54% so với chứng sinh lý) 212,56 ± 16,35* (tăng 62% so với chứng sinh lý) 250,67 ± 11,89*

Cao TL liều 0,875 g/kg 200,56 ± 12,54* 120,44 ± 1,86*#$ (giảm 52% so với chứng bệnh lý) Cao TL liều 1,75 g/kg 200,67 ± 12,21* 119,11 ± 4,32*#$ (giảm 52 % so với chứng bệnh lý) Glibenclamid liều 5 mg/kg 215,33 ± 12,76* 99,56 ± 4,67# (giảm 60% so với chứng bệnh lý)

Cao TL: cao Thanh long * p < 0,05 so với lô chứng sinh lý

# p < 0,05 so với lô chứng bệnh lý $ p < 0,05 so với lô đối chiếu thuộc nhóm bệnh lý

Kết quả ở bảng 3 cho thấy cao chiết cồn từ vỏ

quả Thanh long liều 0,875 g/kg và liều 1,75 g/kg

sau 7 ngày uống không ảnh hưởng trên nồng độ

glucose trong huyết tương chuột bình thường

trong nghiệm pháp dung nạp glucose Ở thời

điểm 30 phút sau khi dung nạp glucose, trong

nhóm bệnh lý, nồng độ glucose trong huyết

tương ở lô cho uống cao chiết cồn từ vỏ quả

Thanh long liều 0,875 g/kg và liều 1,75 g/kg giảm

39% và 43% (tương ứng) đạt ý nghĩa thống kê so

với lô chứng bệnh lý Ở thời điểm 120 phút sau khi dung nạp glucose, trong nhóm bệnh lý, nồng

độ glucose trong huyết tương của các lô thử uống cao chiết cồn từ vỏ quả Thanh long liều 0,875 g/kg và liều 1,75 g/kg giảm 50% và 56% (tương ứng) khác biệt đạt ý nghĩa thống kê so với lô chứng bệnh lý

Trong nghiệm pháp dung nạp glucose, nồng

độ glucose trong huyết tương ở các lô uống cao chiết cồn từ vỏ quả Thanh long liều 0,875 g/kg và

Trang 5

liều 1,75 g/kg không có sự khác biệt đạt ý nghĩa

thống kê so với nhau; có sự khác biệt đạt ý nghĩa

thống kê so với lô đối chiếu glibenclamid (giảm

47% và 61%) và vẫn còn có sự khác biệt đạt ý

nghĩa thống kê so với lô chứng sinh lý (Bảng 3)

Như vậy, cao chiết cồn từ vỏ quả Thanh long thể hiện tác dụng hạ đường huyết trên chuột bị gây đái tháo đường trong nghiệm pháp dung nạp glucose, nhưng yếu hơn so với thuốc đối chiếu

và vẫn chưa đưa được về mức sinh lý

Bảng 3 Kết quả khảo sát tác dụng của cao chiết cồn 45% từ vỏ quả Thanh long trên nồng độ glucose trong huyết

tương chuột theo nghiệm pháp dung nạp glucose

Nhóm Lô thử nghiệm

(n=8)

Nồng độ glucose huyết tương ( mg/dL) Sau 30 phút dung nạp glucose Sau 120 phút dung nạp glucose

Sinh lý

Cao TL liều 0,875 g/kg 127,44 ±4,15 102,44 ±3,06 Cao TL liều 1,75 g/kg 134,22 ±4,28 100,89 ± 2,79 Glibenclamid liều 5 mg/kg 114,44 ±2,98*

(giảm 17% so với chứng sinh lý)

91,44 ± 2,54*

(giảm 11% so với chứng sinh lý)

Bệnh lý

Chứng bệnh lý 304,22 ± 5,58*

(tăng 55% so với chứng sinh lý)

274,44 ± 6,00*

(tăng 63% so với chứng sinh lý) Cao TL liều 0,875 g/kg 186,67 ± 6,99

*#$

(giảm 39% so với chứng bệnh lý)

138,67 ± 2,96*#$

(giảm 50% so với chứng bệnh lý) Cao TL liều 1,75 g/kg 174,78 ± 7,14

*#$

(giảm 43% so với chứng bệnh lý)

120,44 ± 6,81*#$

(giảm 56% so với chứng bệnh lý) Glibenclamid liều 5 mg/kg 160,22 ± 10,27

#

( giảm 47% so với chứng bệnh lý)

106,89 ± 3,13# (giảm 61% so với chứng bệnh lý)

Cao TL: cao Thanh long * p < 0,05 so với chứng sinh lý ở cùng thời điểm

# p < 0,05 so với lô chứng bệnh lý ở cùng thời điểm $ p < 0,05 so với lô đối chiếu thuộc nhóm bệnh lý

Kết quả định lượng MDA trong gan và thận

Bảng 4 Hàm lượng MDA trong gan và thận ở các lô thí nghiệm

Nhóm Lô thử nghiệm (n = 8) Hàm lượng MDA trong gan

(nM/g protein)

Hàm lượng MDA thận (nM/g protein)

Sinh lý

Cao TL liều 0,875 g/kg 36,05 ± 3,85 159,87 ± 9,82 Cao TL liều 1,75 g/kg 35,77 ± 3,12 160,89 ± 13,07 Glibenclamid liều 5 mg/kg 35,39 ± 3,85 161,12 ± 11,17

Bệnh lý

Cao TL liều 0,875 g/kg 38,66 ± 5,41# 161,78 ± 11,24# Cao TL liều 1,75 g/kg 38,36 ± 5,46# 163,76 ± 15,07# Glibenclamid liều 5 mg/kg 36,79 ± 3,72# 163,04 ± 9,12#

Cao TL: cao Thanh long * p < 0,05so với lô chứng sinh lý # p <0,05 so với lô chứng bệnh lý

Kết quả bảng 4 cho thấy cao chiết cồn từ vỏ

quả Thanh long liều 0,875 g/kg và liều 1,75 g/kg

sau 7 ngày uống không ảnh hưởng trên hàm

lượng MDA trong gan hay trong thận của chuột

bình thường Trong nhóm bệnh lý hàm lượng

MDA (marker tiêu biểu của tổn thương peroxy

hóa gây bởi gốc tự do) trong gan ở lô chứng tăng

69,4% và hàm lượng MDA trong thận ở lô chứng

tăng 27,6%, đạt ý nghĩa thống kê so với lô chứng

sinh lý, chứng tỏ có sự tổn thương oxy hóa tế bào

gan/thận của chuột bị gây bệnh cảnh đái tháo đường Hàm lượng MDA trong gan hay trong thận ở các lô cho uống cao chiết cồn từ vỏ quả Thanh long liều 1,75 g/kg, liều 0,875 g/kg và lô đối chiếu uống glibenclamid liều 5 mg/kg đều giảm, có sự khác biệt đạt ý nghĩa thống kê so với

lô chứng bệnh lý; đồng thời, không có sự khác biệt đạt ý nghĩa thống kê so với lô chứng sinh lý, chứng tỏ cao chiết cồn từ vỏ quả Thanh long phục hồi hàm lượng MDA trong gan hay trong

Trang 6

thận về giá trị sinh lý bình thường Ở cả hai lô

thử nghiệm, hàm lượng MDA trong gan hay

trong thận đều không có sự khác biệt đạt ý nghĩa

thống kê so với lô đối chiếu, cho thấy cao chiết từ

vỏ quả Thanh long có tác dụng bảo vệ tế bào

gan/thận tương tự như glibenclamid Không có

sự khác biệt đạt ý nghĩa thống kê về tác dụng

giữa 2 liều thử trên hàm lượng MDA trong gan

hay trong thận chuột

BÀN LUẬN

Streptozotocin (STZ) gây độc trên các tế bào

beta của tuyến tụy, làm giảm chức năng tiết

insulin nên gây tăng mạnh nồng độ glucose

huyết trong nghiệm pháp dung nạp glucose Kết

quả thu được từ việc khảo sát nồng độ glucose

huyết đo lúc đói và trong nghiệm pháp dung

nạp glucose, cho thấy cao chiết cồn từ vỏ quả

Thanh long thể hiện tác dụng hạ đường huyết ở

chuột bị gây bệnh cảnh đái tháo đường ở cả hai

liều thử nghiệm là 0,875 g/kg và 1,75 g/kg Tuy

nhiên, tác dụng này yếu hơn so với thuốc đối

chiếu là glibenclamid liều 5 mg/kg

STZ không chỉ gây tổn thương tế bào β tụy

tạng mà còn gây tổn thương oxy hóa các tế bào

khác do gây sản sinh các gốc tự do oxy và gốc tự

do nitơ, gây rối loạn chức năng ty thể

(mitochondrial dysfunction) và gây peroxy hóa

lipid màng tế bào Điều này giải thích độc tính

tương đối trên lâm sàng của streptozotocin đến

tế bào gan-thận khi thuốc được chuyển hóa(7)

Malonyldialdehyd (MDA) là sản phẩm của quá

trình peroxy hóa lipid tế bào, một marker của

tổn thương oxy hóa tế bào Kết quả đề tài cho

thấy hàm lượng MDA trong gan và thận của lô

chứng bệnh lý đều tăng đạt ý nghĩa thống kê so

với lô chứng sinh lý, chứng tỏ STZ gây tổn

thương oxy hóa (stress oxy hóa) tế bào gan, thận

của chuột bị đái tháo đường Trong nhóm bệnh

lý, cao chiết từ vỏ quả Thanh long liều 0,875 g/kg

và 1,75 g/kg có tác dụng bảo vệ gan, thận trước

tổn thương oxy hóa gây bởi streptozotocin qua

việc làm giảm hàm lượng MDA trong cả

gan-thận, tương tự như glibenclamid Song và cộng

sự đã chứng minh các hợp chất betacyanin trong

vỏ quả Thanh long có tác dụng chống béo phì và cải thiện sự đề kháng insulin(6) Điều này mở ra triển vọng ứng dụng vỏ quả Thanh long như là nguồn nguyên liệu cho các chế phẩm hỗ trợ điều trị bệnh đái tháo đường

KẾT LUẬN

Cao chiết cồn 45 % từ vỏ Thanh long sau 7 ngày điều trị ở cả hai liều thử nghiệm 0,875 g/kg và 1,75 g/kg (tương đương với 2,5 g và 5

g dược liệu khô tuyệt đối) đều thể hiện tác dụng hạ glucose huyết đo lúc đói và sau nghiệm pháp dung nạp trên mô hình chuột bị gây đái tháo đường bằng streptozotocin Đồng thời, cao chiết này còn có tác dụng bảo vệ gan, thận trước tổn thương oxy hóa gây bởi bệnh cảnh đái tháo đường

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Cheseman KH (1985) “Studies on lipid peroxidation in normal

and tumor tissues” J Biol Chem.; 235: 507–514

2 Hissin PJ, Hilf R (1976) “A fluorometric method for determination of oxidized and reduced glutathione in tissues”

Anal Biochem.; 74: 214-226

3 Luo H et al (2014) “Chemical composition and in vitro

evaluation of the cytotoxic and antioxidant activities of supercritical carbon dioxide extracts of pitaya (dragon fruit)

peel” Chem Cent J; 8: 1

4 Nguyễn Thị Thu Hương, Nguyễn Hoàng Minh, Huỳnh Ngọc Trung Dung (2012) “Tác dụng hạ đường huyết của các cao chiết từ quả Ổi”

Tạp chí Dược liệu; 17(5): 268-275

5 Poolsup N, Suksomboon N, Paw NJ (2017) “Effect of dragon fruit on glycemic control in prediabetes and type 2 diabetes: A systematic

review and meta-analysis” PLoS One; 12(9): e0184577

6 Song H, Chu Q, Xu D, Xu Y, Zheng X (2016) “Purified Betacyanins

from Hylocereus undatus Peel Ameliorate Obesity and Insulin Resistance in High-Fat-Diet-Fed Mice” J Agric Food Chem.; 64(1):

236-244

7 Swarup KRLA et al (2010) “Effect of dragon fruit extract on oxidative stress and aortic stiffness in streptozotocin-induced diabetes in rats”

Pharmacognosy Res; 2(1): 31–35

8 Viện Dược liệu (2006) Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt

Nam - tập II Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội, tr

826-827

9 Viện Dược liệu (2006) Phương pháp nghiên cứu tác dụng dược

lý của thuốc từ Dược thảo Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, tr

199-201

Ngày nhận bài báo: 25/04/2018 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 20/06/2018 Ngày bài báo được đăng: 20/09/2018

Ngày đăng: 15/01/2020, 23:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w