1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát đặc điểm nghe kém một bên ở trẻ em lứa tuổi học đường tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương và Bệnh viện Tai Mũi Họng TP. Hồ Chí Minh từ 11/2014 - 6/2015

6 67 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 320,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khảo sát đặc điểm nghe kém một bên ở trẻ em lứa tuổi học đường. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả hàng loạt ca gồm 122 trẻ từ 6 đến dưới 16 tuổi có nghe kém một bên đến khám tại phòng khám TMH BV Nguyễn Tri Phương và BV Tai Mũi Họng TP. Hồ Chí Minh từ tháng 11/2014 đến tháng 6/2015.

Trang 1

KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM NGHE KÉM MỘT BÊN Ở TRẺ EM LỨA TUỔI HỌC

ĐƯỜNGTẠI BỆNH VIỆN NGUYỄN TRI PHƯƠNG

VÀ BỆNH VIỆN TAI MŨI HỌNG TP HCMTỪ 11/2014 - 6/2015

Hà Nguyễn Anh Thư*, Lâm Huyền Trân*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm nghe kém một bên ở trẻ em lứa tuổi học đường

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả hàng loạt ca gồm 122 trẻ từ 6 đến

dưới 16 tuổi có nghe kém một bên đến khám tại phòng khám TMH BV Nguyễn Tri Phương và BV Tai Mũi Họng TP Hồ Chí Minh từ tháng 11/2014 đến tháng 6/2015

Kết quả: tuổi trung bình 11,35 ± 2,895, tỷ lệ nam/ nữ = 1,26/1 Nguyên nhân gây nghe kém một bên ở

nhóm bệnh nhiễm trùng tai giữa: viêm tai giữa cấp 61,3%, viêm tai giữa mạn không có polyp 35,5%,viêm tai giữa mạn có polyp 3,2%; Đặc điểm thính học: tai phải nghe kém một bên 58%; chủ yếu là nghe kém dẫn truyền 61,3% và mức độ nhẹ 58%; TLĐ dạng phẳng 58%; Ở nhóm nguyên nhân không do bệnh nhiễm trùng tai giữa: loạn sản sợi xương thái dương 1,1%; hẹp ống tai ngoài bẩm sinh 1,1%; sau chấn thương đầu 3,3%; tiền sử nhiễm virus quai bị 4,4%; không rõ nguyên nhân 90,1%; Đặc điểm thính học: tai trái nghe kém một bên 51,6%; chủ yếu là nghe kém tiếp nhận 95,6% và mức độ sâu 67%; TLĐ dạng điếc sâu tỷ lệ cao 62,6%

Kết luận: Nghe kém một bên do nguyên nhân nhiễm trùng tai giữa thì viêm tai giữa cấp chiếm tỷ lệ cao

nhất, thường là nghe kém dẫn truyền ở mức độ nhẹ Nghe kém một bên khôngdo nhiễm trùng tai giữa thì nghe kém không rõ nguyên nhân chiếm tỷ lệ rất cao, thường là nghe kém tiếp nhận ở mức độ sâu

Từ khoá: nghe kém một bên, nghe kém, trẻ em

ABSTRACT

A SURVEY OF CHARACTERISTICS OF UNILATERAL HEARING LOSSIN SCHOOL – AGE CHILDREN AT NGUYEN TRI PHUONG HOSPITALAND EAR NOSE THROAT HOSPITAL HCMC

FOR A PERIOD 11/2014 – 6/2015

Ha Nguyen Anh Thu, Lam Huyen Tran

Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 20 - Supplement of No 1 - 2016: 34 - 39

Objectives: Survey of characteristics of unilateral hearing loss in school-age children

Material andMethods: Done in a prospective study by describing a series of cases including 122 children

aged 6 to under 16 having unilateral hearing loss admitted to Nguyen Tri Phuong Hospital and Ear Nose Throat Hospital HCMC for a period of November 2014 - June 2015.

Result: Mean age ± 2895 11:35, the ratio of male to female is 1,26: 1 Causes of unilateral hearing loss due

tomiddle-ear infections: 61.3 % for acute otitis media; 35.5% for chronic otitis without polyps; chronic otitis media with polyps 3.2% Audiological characteristics: higher unilateral hearing loss in right ear of 58%; mostly 61.3% conductive hearing loss in which 58% at the mild level; flat audiogram 58% In the group without middle-ear infections: 1.1% temporal bone dysplasia fiber; 1.1% congenital external middle-ear canal stenosis; 3.3 % upon having head injury; 4.4% having a history of mumps virus infection; 90.1% unknown Audiological characteristics: greater unilateral hearing loss in left ear of 51.6%; mostly 95.6% sensorineural hearing loss in

Khoa Y- ĐHQG TP HCM Bộ môn Tai Mũi Họng, Đại học Y Dược TP.HCM

Trang 2

which 67% at the profound level; profound audiogram 62.6%

Conclusion: For unilateral hearing loss caused by middle ear infections, acute otitis media accounts for the

highest percentage Thisusually leads to mild conductive hearing loss For hearing loss absolved for an internal infection of the middle ear, the hearing loss of unknown causes accounts very high percentage This is usually observed in profound sensorineural hearing loss

Keywords: unilateral hearing loss, hearing loss, children

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo một số nghiên cứu, ước tính có

khoảng từ 0,5% - 5% trẻ em trong độ tuổi đi

học bị nghe kém một bên và do nhiều nguyên

nhân khác nhau gây ra(8) Một số nghiên cứu

cho thấy có mối tương quan trực tiếp giữa

nghe kém một bênở trẻ trong độ tuổi đi học và

sự suy giảm khả năng học tập(5,6) Hơn nữa

hiện tượng này sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến

khả năng xác định hướng, khoảng cách và âm

thanh.Do đó, thính giác đóng vai trò hết sức

quan trọng giúp hình thành kiến thức, kỹ năng

cần thiết và những hành vi đúng để trở thành

người có ích cho xã hội

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

122 trẻ là công dân Việt Nam từ 6 tuổi đến

dưới 16 tuổi có nghe kém một bên đến khám tại

phòng khám TMHBV Nguyễn Tri Phương và

BV Tai Mũi Họng TP Hồ Chí Minh từ tháng

11/2014 đến tháng 6/2015

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tiến cứu, mô tả hàng loạt ca

Các bước tiến hành

- Bệnh nhân được hỏi bệnh, thăm khám lâm

sàng TMH

- Khảo sát đặc điểm thính lực đồ:

+ Tiêu chuẩn đánh giá mức độ nghe kém:

chúng tôi căn cứ vào kết quảthính lực đồ và

phân loại theo WHO

+ Phân loại hình dạng thính lực đồ : theo

nguồn tài liệu của tác giả Đặng Xuân Hùng và

Andrea L Pittman(2,7)

=> Sau khi hỏi bệnh sử, tiền sử, khám lâm

sàng, có kết quả thính lực đồ chẩn đoán nghe

kém một bên, chúng tôi chia đối tượng nghiên cứu thành 2 nhóm theo nguyên nhân: do bệnh nhiễm trùng tai giữa và không do bệnh nhiễm trùng tai giữa để khảo sát

Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu nhập liệu được phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS 16.0

Số liệu được tính ở dạng tần suất và tỉ lệ, trình bày dưới dạng bảng và biểu đồ

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Qua nghiên cứu chúng tôi ghi nhận

Giới tính

Tỷ lệ nam: 55,7 % (68/122) nhiều hơn tỷ lệ

nữ: 44,3 % (54/122)

Tuổi

Biểu đồ 1 Phân bố bệnh nhân theo tuổi

Nhận xét: Tuổi trung bình là 11.35 tuổi với

độ lệch chuẩn ± 2,895, cao nhất là 15 tuổi và thấp

nhất là 6 tuổi

Khảo sát một số nguyên nhân gây nghe kém một bên

Bảng 1 Nguyên nhân gây nghe kém một bên do bệnh

nhiễm trùng tai giữa

Bệnh nhiễm trùng tai giữa

Giới tính Tổng

Nam Nữ VTG cấp 10 (52,6%) 9 (75%) 19 (61,3%) VTG mạn không polyp 8 (42,1 %) 3 (25 %) 11 (35,5 %) VTG mạn có polyp 1 (5,3%) 0 (0%) 1 (3,2%) Tổng 19 (100%) 12 (100%) 31 (100%)

Trang 3

Nhận xét: Trong số những trẻ có bệnh lý

nhiễm trùng tai giữa, tỷ lệ viêm tai giữa cấp cao

nhất 19/31 trẻ (61.3%), đồng thờitỷ lệ nam (19/31)

nhiều hơn nữ(12/31)

Bảng 2 Nguyên nhân nghe kém một bên không do

nhiễm trùng tai giữa

Loạn sản sợi XTD 0 (0%) 1 (2,4%) 1 (1,1%)

Hẹp OTNBS 1 (2%) 0 (0%) 1 (1,1%)

Sau chấn thương đầu 2 (4%) 1 (2,4%) 3 (3,3%)

TS nhiễm vius quai bị 2 (4%) 2 (4,7%) 4 (4,4%)

Không rõ NN 44 (89,8%) 38 (90,5%) 82 (90,1%)

Tổng 49 (100%) 42 (100%) 91 (100%)

Nhận xét: Ở nhóm không có bệnh lý nhiễm

trùng tai giữa, số trẻ bị nghe kém một bên không rõ

nguyên nhân nhiều nhất với 82 trẻ chiếm tỷ lệ 90,1%

Đặc điểm thính học trẻ nghe kém một

bên

Nhóm trẻ có bệnh nhiễm trùng tai giữa

Bảng 3 Vị trí tai nghe kém

Bệnh nhiễm

trùng tai giữa

Vị trí tai nghe kém Tổng

Tai trái Tai phải VTG cấp 8 (61,5%) 11 (61,1%) 19 (63,3%)

VTG mạn

không polyp

4 (30,8%) 7 (38,9%) 11 (35,5%)

VTG mạn có

polyp

1 (7,7%) 0 (0%) 1 (3,2%)

Tổng 13 (100%) 18 (100%) 31 (100%)

Nhận xét: Ở nhóm trẻ mắc bệnh nhiễm

trùng tai giữa, số tai phải nghe kém một bên

nhiều hơn tai trái

Bảng 4 Mức độ nghe kém một bên theo bệnh nhiễm

trùng tai giữa

Mức độ

nghe kém

VTG cấp VTG mạn

không polyp

VTG mạn

có polyp

Tổng

Nhẹ 14

(73,7%)

4 (36,4%) 0 (0%) 18 (58%)

Trung bình 5 (26,3%) 3 (27,2%) 1 (100%) 9 (29%)

Nặng 0 (0%) 4 (36,4%) 0 (0%) 4 (13%)

Sâu 0 (0%) 0 (0%) 0 (0%) 0 (0%)

Tổng 19 (100%) 11 (100%) 1 (100%) 31 (100%)

F= 11,939; p = 0,005< 0,05

Nhận xét: Trong các bệnh nhiễm trùng tai

giữa, nghe kém một bên mức độ nhẹ chiếm tỷ lệ

cao nhất 58% Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

Bảng 5 Phân loại nghe kém theo bệnh lý nhiễm

trùng tai giữa

Phân loại nghe kém

VTG cấp VTG mạn

không polyp

VTG mạn

có polyp

Tổng

Dẫn truyền 19

(100%)

0 (0%) 0 (0%) 19 (61,3%)

Tiếp nhận 0 (0%) 0 (0%) 0 (0%) 0 (0%) Hỗn hợp 0 (0%) 11 (100%) 1 (100%) 12 (38,7%) Tổng 19

(100%)

11 (100%) 1 (100%) 31 (100%)

F = 14,326; p = 0,001 < 0,05

Nhận xét: Trong các bệnh nhiễm trùng tai

giữa, nghe kém một bên dạng dẫn truyền chiếm

tỷ lệ cao nhất (61,3%), tiếp theo là dạng hỗn hợp (38,7%), không có trường hợp nào là dạng tiếp nhận Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

Bảng 6 Phân bố số trường hợp nghe kémtheo dạng thính lực đồ

Dạng thính lực đồ

VTGcấp VTGmạn

không polyp

VTGmạn

có polyp

Tổng

Phẳng 13

(68,4%)

5 (45,5%) 0 (0%) 18 (58%)

Giảm dần 0 (0%) 2 (18,2%) 1 (100%) 3 (9,7%) Dốc xuống 0 (0%) 1 (9,1%) 0 (0%) 1 (3,2%) Hình chữ U 2 (10,5%) 0 (0%) 0 (0%) 2 (6,5%) Hình lều 2 (10,5%) 2 (18,2%) 0 (0%) 4 (12,9%) Điếc sâu 1 (5,3%) 1 (9,1%) 0 (0%) 2 (6,5%) Khác 1 (5,3%) 0 (0%) 0 (0%) 1 (3,2%) Tổng 19 (100%) 11 (100%) 1 (100%) 31 (100%)

Nhận xét: Ở nhóm trẻ mắc bệnh nhiễm

trùng tai giữa, TLĐ dạng phẳng tỷ lệ cao nhất (58%), tiếp theo là dạng hình lều (12,9%) Các

dạng còn lại chiếm tỷ lệ thấp

Nhóm trẻ không có bệnh nhiễm trùng tai giữa

Bảng 7 Vị trí tai nghe kém

Nguyên nhân Vị trí tai nghe kém Tổng

Trái Phải Loạn sản sợi XTD 1 (2,1%) 0 (0%) 1 (1,1%) Hẹp OTNBS 1 (2,1%) 0 (0%) 1 (1,1%) Sau CT đầu 1 (2,1%) 2 (4,5%) 3 (3,3%)

TS nhiễm virus quai bị 2 (4,2%) 2 (4,5%) 4 (4,4%) Không rõ NN 42(89,4%) 40 (91%) 82 (90,1%) Tổng 47 (100%) 44 (100%) 91 (100%)

Nhận xét: Ở nhóm nghe kém một bên không

do nhiễm trùng tai giữa, trẻ nghe kém một bên

Trang 4

tai trái là 47/91 trẻ (51,6%) cao hơn tai phải 44/91 trẻ (48,4%)

Bảng 8 Mức độ nghe kém một bên của trẻ

Mức độ nghe kém Loạn sản sợi XTD Hẹp OTNBS Sau CT đầu TS VR quai bị Không rõ NN Tổng

Nhẹ 0 (0%) 0 (0%) 1 (33,3%) 0 (0%) 4 (4,9%) 5 (5,5%)

TB 1 (100%) 0 (0%) 2 (66,7%) 0 (0%) 8 (9,8%) 11 (12,1%) Nặng 0 (0%) 1 (100%) 0 (0%) 0 (0%) 13 (15,9%) 14 (15,4%) Sâu 0 (0%) 0 (0%) 0 (0%) 4 (100%) 57 (69,5%) 61 (67%) Tổng 1 (100%) 1 (100%) 3 (100%) 4 (100%) 82 (100%) 91 (100%)

Nhận xét: Ở nhóm nghe kém một bên không

do nhiễm trùng tai giữa, nghe kém một bên mức

độ sâu cao nhất 67%, tiếp đến là mức độ nặng

15,4%, tiếp đến là mức độ trung bình 12,1% Mức

độ nhẹ chiếm tỷ lệ thấp nhất 5,5%

Bảng 9 Phân loại nghe kém một bên của trẻ

Phân loại nghe kém Loạn sản sợi XTD Hẹp OTNBS Sau CT đầu TSNVR quai bị Không rõ NN Tổng

Dẫn truyền 1 (100%) 1 (100%) 2 (66,7%) 0 (0%) 0 (0%) 4 (4,4%) Tiếp nhận 0 (0%) 0 (0%) 1 (33,3%) 4 (100%) 82 (100%) 87 (95,6%) Hốn hợp 0 (0%) 0 (0%) 0 (0%) 0 (0%) 0 (0%) 0 (0%) Tổng 1 (100%) 1 (100%) 3 (100%) 4 (100%) 82 (100%) 91 (100%)

Nhận xét: Ở nhóm nghe kém một bên không

do nhiễm trùng tai giữa, đa số là dạng tiếp nhận

chiếm 95,6% Có 4,4% dạng dẫn truyền Không

có dạng hỗn hợp

Bảng 10.Phân bố số trường hợp nghe kémtheo dạng thính lực đồ

Dạng thính lực đồ Loạn sản sợi XTD Hẹp OTN BS Sau CT đầu TS NVR quai bị Không rõ NN Tổng

Phẳng 1 (100%) 1 (100%) 3 (100%) 0 (0%) 7 (8,5%) 12 (13,2%) Giảm dần 0 (0%) 0 (0%) 0 (0%) 0 (0%) 7 (8,5%) 7 (7,7%) Dốc xuống 0 (0%) 0 (0%) 0 (0%) 0 (0%) 9 (11%) 9 (9,9%) Hình chữ U 0 (0%) 0 (0%) 0 (0%) 0 (0%) 3 (36,6%) 3 (3,3%) Hình lều 0 (0%) 0 (0%) 0 (0%) 0 (0%) 2 (2,4%) 2 (2,2%) Điếc sâu 0 (0%) 0 (0%) 0 (0%) 4 (100%) 53 (64,6%) 57 (62,6%) Khác 0 (0%) 0 (0%) 0 (0%) 0 (0%) 1 (1,2%) 1 (1,1%) Tổng 1 (100%) 1 (100%) 3 (100%) 4 (100%) 82 (100%) 91 (100%)

Nhận xét: Ở nhóm nghe kém một bên không do

nhiễm trùng tai giữa, TLĐ dạng điếc sâu cao nhất

62,6%, kế đến là dạng phẳng 13,2% Còn các dạng

khác chiếm tỷ lệ thấp hơn

BÀN LUẬN

Giới tính

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ nghe

kém một bên ở nam cao hơn nữ, (tỷ lệ nam/nữ

=1,26/1) Kết quả này cũng phù hợp với nghiên

cứu của Kris English và Timothy Haffey với tỷ

lệ nam/nữ lần lượt là 1,12/1 và 1,17/1 Trong

khi đó, tỷ lệ nam/nữ trong nghiên cứu của

Patrick E là 1,65/1

Tuổi

Nghiên cứu của chúng tôi có sự khác biệt

về độ tuổi nghiên cứu so với các nghiên cứu

khác.Sự khác biệt này là do tiêu chuẩn chọn

mẫu khác nhau giữa nghiên cứu của chúng tôi

và nghiên cứu của Kris English, Patrick E, Timothy Hafey Đồng thời sự khác biệt này còn do sự không thống nhất về quy định độ tuổi của trẻ em giữa các quốc gia Tại Việt

Nam, theo Luật BVCS & GD TE thì trẻ em là

công dân Việt Nam dưới 16 tuổi

Khảo sát một số nguyên nhân gây nghe kém một bên

Nghe kém một bên do bệnh lý nhiễm trùng tai giữa: Trong số những trẻ có bệnh lý nhiễm trùng tai giữa, tỷ lệ nam mắc bệnh nhiều hơn

nữ Có thể lý giải do nhiễm khuẩn đường hô hấp trên là một nguyên nhân gây nên bệnh nhiễm trùng tai giữa Một số nghiên cứu ở nước ta cho thấy trẻ nam thường dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp trên hơn so

Trang 5

với các trẻ nữ Nghiên cứu của Nguyễn Hoàng

Sơn (1996) tại Hà Nội cho thấy tỷ lệ nhiễm

khuẩn đường hô hấp trên ở trẻ nam và nữ lần

lượt là 72,6% và 68,4%

Nghe kém một bên không do bệnh lýnhiễm

trùng tai giữa: Chúng tôi ghi nhận số trẻ nghe

kém một bên không rõ nguyên nhân chiếm tỷ lệ

khá cao là 90,1% Theo nghiên cứu của Patrick E

và cộng sự, tỷ lệ nghe kém một bên ở trẻ em

không rõ nguyên nhân là 65,2 % (1991)(1) Theo

báo cáo từ năm 1990 - 1999 của Kris English và

Gerald Church, có 60% trẻ em nghe kém một

bên không xác định được nguyên nhân(3)

Đặc điểm thính học ở trẻ nghe kém một

bên

Tai nghe kém

Nhóm trẻ mắc bệnh nhiễm trùng tai giữa: Có

thể do trong thời gian thu thập số liệu của chúng

tôi, số trẻ nghe kém một bên ở tai phải nhiều hơn

số trẻ nghe kém một bên ở tai trái

Nhóm trẻ không mắc bệnh nhiễm trùng tai

giữa: số trẻ nghe kém một bên tai trái (51,6%) cao

hơn tai phải (48,4%) Như vậy nghiên cứu của

chúng tôi tương đồng vớiEverberg (1960)(4)

Phân loại nghe kém

Ở nhóm trẻ không mắc bệnh nhiễm trùng tai

giữa thì hình thức nghe kém chủ yếu là nghe

kém tiếp nhận do tổn thương tai trong và không

rõ nguyên nhân chiếm tỷ lệ cao Trong khi đó,

nhóm nghe kém một bên do nhiễm trùng tai

giữa thì đa số là nghe kém dẫn truyền

Mức độ nghe kém một bên của trẻ

Nhóm trẻ nghe kém do các bệnh nhiễm

trùng tai giữa có mức độ nghe kém một bên nhẹ

hơn so với nhóm trẻ không có bệnh nhiễm trùng

tai giữa

Dạng thính lực đồ

Nhóm trẻ mắc bệnh nhiễm trùng tai giữa:

TLĐ dạng phẳng chiếm tỷ lệ cao nhất (58%).Như

vậy, ở các trường hợp viêm tai giữa thì đa số

thính lực đồ có ngưỡng nghe tương đương nhau

ở mọi tần số

Nhóm trẻ không mắc bệnh nhiễm trùng tai giữa: TLĐdạng điếc sâu chiếm tỷ lệ cao nhất 62,6% Kết quả này là phù hợp vì ở nhóm trẻ này, đa số là nghe kém tiếp nhận một bên mức

độ sâu.TLĐ dạng điếc sâu là một yếu tố tiên lượng xấu trong điều trị Các nguyên nhân có thể gây ra dạng thính lực đồ này thường do virus mà đặc biệt là điếc do quai bị, cúm hoặc do tắc nghẽn hoàn toàn mạch máu nuôi tai trong

KẾT LUẬN Đặc điểm chung

Về tuổi: trung bình là 11,35 tuổi với SD = ± 2,895, cao nhất là 15 tuổi và thấp nhất là 6 tuổi

Về giới tính: tỷ lệ nam/ nữ = 1,26/1

Khảo sát một số nguyên nhân gây nghe kém một bên

Nhóm bệnh nhiễm trùng tai giữa: viêm tai giữa cấp 61,3%; viêm tai giữa mạn không có polyp 35,5%;viêm tai giữa mạn có polyp 3,2% Nhóm không có bệnh nhiễm trùng tai giữa: loạn sản sợi xương thái dương 1,1%; hẹp ống tai ngoài bẩm sinh 1,1%; sau chấn thương đầu 3,3%; tiền sử nhiễm virus quai bị 4,4%; không rõ nguyên nhân 90,1%

Đặc điểm thính học ở trẻ nghe kém một bên

Nhóm do bệnh nhiễm trùng tai giữa: tai phải nghe kém một bên nhiều hơn 58%; chủ yếu là nghe kém dẫn truyền 61,3% và mức độ nhẹ 58%; TLĐ dạng phẳng tỷ lệ cao 58%

Nhóm không dobệnh nhiễm trùng tai giữa: tai trái nghe kém một bên nhiều hơn 51,6%; chủ yếu là nghe kém tiếp nhận 95,6% và mức độ sâu 67%; TLĐ dạng điếc sâu tỷ lệ cao 62,6%

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Brookhouser PE, Worthington DW and Kelly WJ (1991),

“Unilateral hearing loss in children”, The Laryngoscope, Vol.101 (12), pp 1264–1272

2 Đặng Xuân Hùng (2010), Thính học lâm sàng chẩn đoán, Nhà xuất bản Y học, Thành phố Hồ Chí Minh

3 English K, Church G (1999), “Unilateral Hearing Loss in Children: An Update for the1990s”, Language, Speech, and Hearing Services in Schools, Vol 30, pp 26 – 31

4 Everberg G (1960), “Etiology of Unilateral Total Deafness”, Ann OtolRhinol Laryngol, Vol.69, pp 711 – 730

Trang 6

5 Ngô Đức Xương (1997), Nghiên cứu tình hình suy giảm thính

lực ở học sinh tiểu học Hải Phòng, Luận văn chuyên khoa II,

Đại học Y Hải Phòng, Hải Phòng

6 Nguyễn Tuyết Xương (2014), Một số đặc điểm và yếu tố nguy

cơ của nghe kém ở trẻ em từ 2 đến 5 tuổi tại các trường mẫu

giáo nội thành Hà Nội, Luận án tiến sỹ dịch tễ học, Viện Vệ

sinh dịch tễ Trung ương, Hà Nội

7 Pittman AL, Stelmachowicz PG (2003), “Hearing loss in

children and adults: Audiometric characteristics, asymmetry

and progression”, Ear and Hearing, Vol.3, pp.198-205

8 Song JJ, Choi HG, Oh SH, Chang SO, Kim CS, Lee JH (2009),

“Unilateral sensorineural hearing loss in children: Theimportance of temporal bone computed tomography and audiometric follow-up”, Otol Neurotol, Vol 30, pp 604–608

Ngày đăng: 15/01/2020, 23:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w