1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thực trạng chẩn đoán và điều trị nhiễm Helicobacter pylori tại ba bệnh viện quận trong thành phố Hồ Chí Minh năm 2016

6 83 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 324,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện nhằm: (1) Xác định tỉ lệ nhiễm Helicobacter pylori (H.pylori); (2) Xác định tỉ lệ các phương pháp được dùng để chẩn đoán nhiễm H.pylori; (3) Xác định tỉ lệ tiệt trừ thành công H.pylori của các phác đồ tại ba bệnh viện quận của TP Hồ Chí Minh

Trang 1

THỰC TRẠNG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ

NHIỄM HELICOBACTER PYLORI TẠI BA BỆNH VIỆN QUẬN

TRONG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2016

Trần Văn Sỹ*, Trần Thị Khánh Tường**, Tăng Kim Hồng**

TÓM TẮT

Mục tiêu: Nghiên cứu được thực hiện nhằm: (1) Xác định tỉ lệ nhiễm Helicobacter pylori (H.pylori); (2) Xác

định tỉ lệ các phương pháp được dùng để chẩn đoán nhiễm H.pylori; (3) Xác định tỉ lệ tiệt trừ thành công H.pylori của các phác đồ tại ba bệnh viện quận của TP Hồ Chí Minh

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện tại bệnh viện quận 6, quận 2 và quận

Thủ Đức trong năm 2016 Số liệu được thu thập bằng cách hồi cứu hồ sơ điện tử của 750 bệnh nhân có triệu chứng tiêu hóa trên đến khám và được chỉ định xét nghiệm tìm H.pylori Các tỷ lệ nhiễm, sử dụng test và tiệt trừ thành công được so sánh giữa các bệnh viện Giá trị p<0,05 được chọn là mức ý nghĩa của phép kiểm thống kê

Kết quả: Tỉ lệ nhiễm H.pylori chung ở bệnh nhân có triệu chứng tiêu hóa trên tại ba bệnh viện quận là

68,3% Các phương pháp được dùng để chẩn đoán nhiễm H.pylori lần lượt là: Urease 95,5%, hơi thở 1,2%, huyết thanh 3,3% Tỉ lệ tiệt trừ H.pylori thành công chung là 54,5%

Kết luận: Tỉ lệ nhiễm H.pylori ở bệnh nhân có triệu chứng tiêu hóa trên còn cao Xét nghiệm Urease

nhanh là xét nghiệm chính để chẩn đoán nhiễm H.pylori Các bệnh viện quận vẫn chưa đạt mục tiêu tiệt trừ hiệu quả H pylori

Từ khóa: Helicobacter pylori, tỉ lệ nhiễm H.pylori, tiệt trừ H.pylori

ABSTRACT

THE DIAGNOSIS AND TREATMENT OF HELICOBACTER PYLORI INFECTION AT THREE

DISTRICT HOSPITALS IN HO CHI MINH CITY, IN 2016

Tran Van Sy, Tran Thi Khanh Tuong, Tang Kim Hong

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 3- 2019: 389-394

Objectives: To identify prevalence of H.pylori infection in three distric hospitals, percentage of tests used to

detect H pylori and the rate of successful H pylori eradication at three distric hospitals in Ho Chi Minh City

Methods: A cross-sectional study was conducted at District 6, District 2, Thu Duc District Hospital in

2016 Data were collected retrospectively basing on 750 electronic clinical records of patients, who had visited these three hospitals for dyspepsia and been indicated to have diagnostic tests to detect H Pylori Prevalence and percentage of tests used as well as rate of successful eradication were compared among three hospitals A p-value

at 0.05 was defined as significant

Results: The total prevalence of H pylori infection among patients with dyspepsia at these three hospitals

was 68.3% Percentages of tests used to detect H pylori infection were: Rapid Urease test 95.5%, Urea Breath

1.2% and Serology 3.3%, respectively The rate of H pylori eradication was 54.5% in general

Conclusion: Prevalence of H pylori infection in patients with dyspepsia remains high The rapid urease test

is still the main test for detecting H pylori These district hospitals have not yet achieved goals for successful H pylori eradication

*Bệnh viện 1A **Trường Đại học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch

Tác giả liên lạc: ThS.BS Trần Văn Sỹ ĐT: 0943778902 Email: tranvansy0243@gmail.com

*Bệnh viện Thống Nhất **Trường Đại học y khoa Phạm Ngọc Thạch

Trang 2

Keywords: Helicobacter pylori, prevalence of H pylori infection, H pylori eradication

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhiễm H.pylori là nguyên nhân quan trọng

gây ra một số bệnh ở dạ dày như loét dạ dày- tá

tràng, viêm dạ dày cấp hoặc mạn, ung thư dạ

dày… nguy cơ ung thư dạ dày ở những người

nhiễm H.pylori cao gấp 2-6 lần so với những

người không nhiễm(6,17) Ước tính có hơn một

nửa dân số thế giới đã bị nhiễm H.pylori, chủ yếu

tại các nước đang phát triển(17)

Tại Việt Nam tỉ lệ nhiễm H.pylori đã lên đến

70% vào năm 2015(8) Như vậy tiệt trừ H.pylori là

cần thiết để ngăn ngừa viêm loét dạ dày tái phát

và giảm nguy cơ ung thư dạ dày Mục tiêu điều

trị để tỉ lệ sạch vi khuẩn ít nhất 80% nhiều khi

không đạt được, gây khó khăn đáng kể trong

thực hành lâm sàng(14) Nghiên cứu trong nước

của tác giả Trần Thiện Trung vào năm 2009 với

phác đồ ba thuốc chuẩn thì hiệu quả Tiệt trừ chỉ

là 65,1%(16) Tiệt trừ vi khuẩn bằng các phác đồ

thuốc luôn là vấn đề gây nhiều tranh cãi từ

nhiều năm qua Nhiều phác đồ khác nhau được

đề nghị để sử dụng thay thế cho phác đồ chuẩn

Tại thành phố Hồ Chí Minh, các bệnh viện tuyến

quận là nơi tiếp cận và chỉ định phác đồ đầu tay

cho bệnh nhân, việc chẩn đoán đúng và tiệt trừ

hiệu quả ở các bệnh viện quận sẽ giúp giảm số

bệnh nhân phải điều trị nhiều đợt Song chưa có

nghiên cứu khảo sát thực trạng chẩn đoán và tiệt

trừ H.pylori tại các bệnh viện quận nên chúng tôi

tiến hành thực hiện nghiên cứu này nhằm

những mục tiêu sau: (1) Xác định tỉ lệ nhiễm

H.pylori ở các bệnh nhân rối loạn tiêu hóa trên;

(2) Xác định tỉ lệ các phương pháp được dùng để

chẩn đoán và xác định tiệt trừ H.pylori; (3) Đánh

giá một số vấn đề về điều trị nhiễm H.pylori

ĐỐI TƯỢNG- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Đây là nghiên cứu cắt ngang thực hiện với

số liệu thu thập dựa trên hồi cứu 750 hồ sơ

điện tử của 750 bệnh nhân có triệu chứng tiêu

hóa trên, xét nghiệm H.pylori tại ba BV quận 2,

quận 6 và quận Thủ Đức trong TP Hồ Chí

Minh trong năm 2016

Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân nghiên cứu

Bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên xét nghiệm

H.pylori

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang

Chúng tôi khảo sát các loại xét nghiệm được

dùng để chẩn đoán H.pylori ở 3 quận, cụ thể ở

quận 2 và quận 6 chỉ dùng xét nghiệm urease nhanh (các xét nghiệm khác không triển khai); quận Thủ Đức dùng xét nghiệm urease nhanh, hơi thở và huyết thanh chẩn đoán Tiếp theo, chúng tôi truy xuất danh sách các mã số bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên được chỉ định các xét nghiệm nêu trên trong thời gian từ ngày 01/01/2016 đến 31/12/2016; danh sách được sắp xếp theo thứ tự thời gian Dựa trên danh sách lập được, chúng tôi chọn liên tục các đối tượng được chỉ định từ ngày 01/01/2016 trở đi đến khi

đủ cỡ mẫu 250 đối tượng ở mỗi bệnh viện Dựa trên mã số bệnh nhân, các biến số cần nghiên cứu được ghi nhận bao gồm tuổi, giới, xét nghiệm chẩn đoán, phác đồ thuốc, kiểm tra sau tiệt trừ Dữ liệu được mã hóa, xử lý bằng phần mềm STATA 14.0, kiểm định Chi bình phương,

có ý nghĩa thống kê khi p<0,05

Định nghĩa các biến số chính

Tình trạng nhiễm: biến nhị giá (nhiễm/

không nhiễm), “nhiễm” khi xét nghiệm H.pylori

dương tính Chỉ định phác đồ: Biến nhị giá (đúng/chưa đúng), “đúng” khi phác đồ đúng thuốc, đúng liều, đúng thời gian theo Hội tiêu hóa Việt Nam năm 2013(4) Các trường hợp còn lại là

“chưa đúng”

Thời gian dùng phác đồ: Biến định lượng, tính bằng số ngày thuốc kháng sinh được cấp (hồi cứu trên phần mềm)

Kiểm tra sau đợt trị: Biến nhị giá (có/không),

“có” khi bệnh nhân có làm xét nghiệm H.pylori

trong vòng 30 ngày sau khi ngưng kháng sinh 4

Trang 3

tuần và thuốc ức chế bơm proton 2 tuần, thời

gian dựa trên ngày cuối của toa thuốc và ngày

làm xét nghiệm lại Các trường hợp không xét

nghiệm và xét nghiệm không đúng thời gian

như trên xem như “không”

Kết quả tiệt trừ: Biến nhị giá (thành

công/không thành công), “thành công” khi xét

nghiệm kiểm tra âm tính

Y Đức

Nghiên cứu này đã được xét duyệt và thông

qua hội đồng của Đại Học Y Khoa Phạm Ngọc

Thạch Các thông tin bệnh nhân được mã hóa chỉ

sử dụng cho mục đích nghiên cứu

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu thu thập dữ liệu của tổng cộng

750 bệnh nhân có triệu chứng tiêu hóa trên tại ba

bệnh viện quận 2, quận 6 và quận Thủ Đức

trong năm 2016 với số đối tượng chia đều cho

các quận Tỉ lệ nhiễm H.pylori chung là 68,3% Cụ

thể quận 2 là 82,8%, quận 6 là 45,2% và quận Thủ Đức là 76,8% Tỉ lệ nhiễm ở các bệnh viện khác nhau với p<0,001 Chúng tôi ghi nhận ba xét

nghiệm dùng để chẩn đoán nhiễm H.pylori là

Urease nhanh (95,5%), huyết thanh (3,3%), hơi thở (1,2%) Tại quận 2 và quận 6 chỉ dùng một xét nghiệm Urease nhanh để chẩn đoán Tại quận Thủ Đức, đa số bệnh nhân được chỉ định Urease nhanh (88%), có 17 trường hợp dùng xét nghiệm huyết thanh (8,9%), 6 trường hợp dùng xét nghiệm hơi thở (3,1%)

Chúng tôi ghi nhận có 6 phác đồ được chỉ

định cho 512 bệnh nhân nhiễm H.pylori: PAC

(38,3%); PAM (15,8%); PAMC (4,7%); Nối tiếp (10,2%); PAL (9,8%); Bộ Kit (21,3%) Trong đó

44% phác đồ được chỉ định đúng (P: Thuốc ức

Levofloxacin) (Biểu đồ 1)

Biểu đồ 1: Các phác đồ được chỉ định

Phác đồ đúng khi được chỉ định đúng liều

và đúng thời gian theo khuyến cáo hướng dẫn

điều trị H pylori tại Việt Nam năm 2013(2) Phác

đồ PAM, PAMC được chỉ định đúng 70%, PAC

chỉ định đúng chỉ đạt 26,5% Nhìn chung, các

phác đồ chưa đúng chiếm đa số (56%) (Bảng 1)

Các phác đồ PAC, Nối tiếp, PAL, Bộ Kit

được chỉ định quá 14 ngày cho đợt tiệt trừ chiếm

87,8%; các phác đồ chứa Metronidazole như

PAM, PAMC không mắc phải lỗi này, tuy nhiên

liều Metronidazole thấp hơn khuyến cáo

(1000mg/ngày) chiếm 10,8% Ngoài ra có 4

trường hợp PAMC chỉ định chưa đủ 10 ngày

Trong số 512 bệnh nhân nhiễm H.pylori được

chỉ định phác đồ chúng tôi ghi nhận được chỉ có

132 (25,8%) bệnh nhân có làm xét nghiệm kiểm

tra sau đợt tiệt trừ (Biểu đồ 2)

Biểu đồ 2: Tỉ lệ bệnh nhân kiểm tra sau đợt tiệt trừ

Trang 4

Chúng tôi đánh giá hiệu quả tiệt trừ thành

công dựa trên kết quả của 132 bệnh nhân có

kiểm tra sau đợt tiệt trừ Số bệnh nhân tiệt trừ

thành công là 72 (54,5%) trong đó nhóm đúng

phác đồ là 46 (63,9%)

Các phác đồ đúng có tỉ lệ thành công cao là PAM (30,4%), PAC(26,1%) Bộ Kit và PAMC có tỉ

lệ thành công thấp 0% và 6,5% (Bảng 2)

Bảng 1 Các phác đồ chưa đúng

Phác đồ tiệt trừ chưa đúng - Tần số (tỉ lệ %)

Bảng 2 Tiệt trừ thành công theo phác đồ

Tiệt trừ thành công - Tần số (tỉ lệ %)

BÀN LUẬN

Trong nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận tỷ

lệ nhiễm H.pylori chung cho ba bệnh viện quận

là 68,3% So sánh với các nghiên cứu tương tự tại

Việt Nam như Nguyễn Sào Trung (2005) thực

hiện nội soi sinh thiết ở bệnh nhân viêm hoặc

loét dạ dày ghi nhận tỉ lệ nhiễm H.pylori là

tỉ lệ nhiễm H.pylori trên bệnh nhân viêm dạ dày

mạn là 72,5%(2), các tỉ lệ này khá gần với tỉ lệ

trong nghiên cứu của chúng tôi Những nghiên

cứu lớn thực hiện với nội soi dạ dày ghi nhận tỉ

lệ nhiễm H.pylori của Hàn Quốc, Việt Nam và

Thổ Nhĩ Kỳ dao động từ 50-70% trong dân

số(9,11,12) Một báo cáo năm 2010 cho thấy tỉ lệ

nhiễm tại Việt Nam là 74,6%(4) Nghiên cứu của

Nguyen TL (2010) cho tỉ lệ nhiễm ở thành phố

Hồ Chí Minh là 64,7%(11) Như vậy nhiều nghiên

cứu trong và ngoài nước cho thấy Việt Nam nằm

trong khu vực có tỉ lệ nhiễm H.pylori trong cộng

đồng nói chung và tỉ lệ nhiễm ở bệnh nhân có

triệu chứng tiêu hóa trên nói riêng đều cao hơn

50% Nghiên cứu của chúng tôi có sự khác biệt

về tỉ lệ nhiễm giữa các bệnh viện, cụ thể quận 6

thấp hơn hai quận còn lại (45,2% so với 82,8% và

76,8%), điều này có thể là do bệnh nhân nhiễm

H.pylori lựa chọn đến các bệnh viện lân cận

nhiều hơn bệnh viện quận 6

Phương pháp được sử dụng nhiều nhất để

chẩn đoán nhiễm H.pylori là Ureases nhanh

(95,5%), các phương pháp còn lại chiếm tỉ lệ nhỏ với lần lượt là huyết thanh chẩn đoán

(3,3%) và hơi thở (1,2%) Theo khuyến cáo

chẩn đoán và điều trị H.pylori tại Việt Nam

2013: Xét nghiệm Urease nhanh có chi phí thấp, cho kết quả nhanh chóng, có độ nhạy và

độ đặc hiệu cao do đó nên được áp dụng rộng rãi Đối với các bệnh nhân có chỉ định làm xét

nghiệm chẩn đoán nhiễm H.pylori không kèm

triệu chứng báo động, ưu tiên chọn lựa xét nghiệm hơi thở do xét nghiệm này có độ nhạy

và độ đặc hiệu cao tương đương với xét nghiệm Urease; Huyết thanh chẩn đoán

H.pylori là xét nghiệm kém chính xác, không

nên ưu tiên chọn lựa nếu có các phương pháp chẩn đoán khác(5) Như vậy, 17 trường hợp

chẩn đoán nhiễm H.pylori bằng huyết thanh

chẩn đoán tại bệnh viện quận Thủ Đức là chưa phù hợp với khuyến cáo, tuy nhiên có thể những bệnh nhân này đã dùng kháng sinh hoặc thuốc ức chế bơm proton (PPI) trong vòng 2-4 tuần nên không được chỉ định xét nghiệm Urease và hơi thở Do chúng tôi nghiên cứu hồi cứu nên không ghi nhận được

Trang 5

tiền sử dùng thuốc của bệnh nhân đặc biệt là

PPI và kháng sinh PPI là thuốc mua không

cần đơn với giá tương đối rẻ, được sử dụng rất

rộng rãi tại Việt Nam để điều trị triệu chứng

đau thượng vị, bỏng rát sau xương ức Hầu hết

các nghiên cứu cho thấy kết quả xét nghiệm

âm tính giả liên quan đến dùng PPIs có thể lên

đến 40%(7) Vấn đề lạm dụng kháng sinh tại

Việt Nam cũng cần được quan tâm, gần 80%

kháng sinh có thề mua được dễ dàng tại các

hiệu thuốc mà không cần kê đơn trong đó

Amoxicillin là thuốc phổ biến nhất(3) Các xét

nghiệm chẩn đoán đòi hỏi phải ngưng PPI ít

nhất 2 tuần, ngưng kháng sinh ít nhất 4 tuần

trước khi thực hiện Âm tính giả do thuốc có

thề làm kết quả tỉ lệ nhiễm H.pylori của chúng

tôi thấp hơn thực tế Hiện nay các bệnh viện

tuyến quận đều trang bị xét nghiệm urease

qua nội soi để chẩn đoán nhiễm H.pylori

(95,5%), điều này là phù hợp theo các khuyến

cáo hiện tại(5,6) Xét nghiệm hơi thở cũng có giá

trị cao theo các khuyến cáo nhưng nhược điểm

là giá thành còn cao nên chưa được dùng rộng

rãi ở các phòng khám tuyến quận, cụ thể là chỉ

trang bị ở bệnh viện quận Thủ Đức và dùng

cho một vài trường hợp

Trong 6 phác đồ được sử dụng tại ba bệnh

viện quận trong năm 2016 có 2 phác đồ được chỉ

định nhiều nhất là phác đồ chứa ba thuốc PPI,

Amoxicillin, Clarithromycin, (PAC) và bộ Kit

(gồm các thuốc Lansoprazol 30mg, Tinidazole

500mg, Clarithromycin 250mg được đóng gói cố

định) Dựa vào số liệu chúng tôi thu được, mặc

dù miền Nam Việt Nam thuộc vùng dịch tể có tỉ

lệ kháng Clarithromycin rất cao và Bộ y tế đã

khuyến cáo nên sử dụng phác đồ 4 thuốc đầu

tiên(5), nhưng phác đồ PAC và bộ Kit vẫn được

bác sĩ tại bệnh viện quận lựa chọn nhiều nhất

(38,3% và 21,3%) trong điều trị H.pylori Theo

Maastrict IV (2012), ở khu vực có tỉ lệ kháng

Clarithromycin cao như Việt Nam thì phác đồ

đầu tay nên là phác đồ bốn thuốc, nếu thất bại

thì tiếp tục điều trị đợt hai với phác đồ ba thuốc

có Levofloxacin(7) Phác đồ bốn thuốc (PAMC)

trong nghiên cứu của chúng tôi được chỉ định không nhiều (4,7%) Có thể đây chính là những

nguyên nhân khiến cho hiệu quả điều trị H.pylori

tại các quận không cao

Một vấn đề đáng quan tâm là tỉ lệ phác đồ chưa đúng chiếm 56% Các nghiên cứu cho thấy:

để vượt qua ngưỡng kháng Metronidazole là tăng liều từ 500mg/ ngày lên 1000mg/ngày và kéo dài thời gian dùng thuốc cho đủ 14 ngày(7) Chúng tôi ghi nhận được 10,8% trường hợp dùng Metronidazole liều 500mg/ ngày và 4 trường hợp chỉ dùng Metronidazole 7 ngày Các khuyến cáo đến năm 2016 đều không hướng dẫn dùng phác đồ quá 14 ngày nhưng thực trạng có tới 87,8% trường hợp sai do chỉ định hơn 14 ngày Tuy nhiên các phác đồ PAM, PAMC thì không mắc phải lỗi này có lẽ vì bác sĩ chỉ định lo ngại về tác dụng phụ của Metronidazole

Hiện nay việc kiểm tra sau đợt tiệt trừ đã được khuyến cáo là rất cần thiết và được hướng dẫn rõ ràng trong các khuyến cáo điều trị

H.pylori(5,6) Tuy nhiên kết quả nghiên cứu của

chúng tôi ghi nhận tỉ lệ bệnh nhân được kiểm tra sau tiệt trừ rất thấp chỉ đạt 25,8% Thực trạng này đến từ hai phía: Bác sĩ điều trị chưa hướng dẫn cho bệnh nhân trở lại kiểm tra, bệnh nhân chưa nhận thức được sự quan trọng của kiểm tra sau đợt tiệt trừ

Xét về tổng số bệnh nhân trong nghiên cứu thì tỷ lệ tiệt trừ thành công chiếm tỷ lệ 54,5%, nhóm đúng phác đồ là 63,9% Những nghiên cứu trong nước đa số có tỉ lệ tiệt trừ thành công cao hơn nghiên cứu của chúng tôi như Bùi Hữu Hoàng (2011) là 86,1%(1), Vĩnh Khánh (2011) là 88,71%(18), Trần Thiện Trung (2009) là 65,1%(15) Khác biệt này là do những nghiên cứu trên thực hiện tại một bệnh viện và tập trung vào đánh giá một hoặc hai phác đồ cụ thể còn nghiên cứu của chúng tôi khảo sát tất cả các phác đồ tại ba bệnh viện quận trong thành phố Hồ Chí Minh Như

vậy, mục tiêu tiệt trừ H.pylori của ba bệnh viện

quận đều không đạt tới 80% cho thấy các phác

đồ đang dùng đã giảm hiệu quả đáng kể và việc chọn lựa phác đồ để chỉ định từ phía bác sĩ cũng

Trang 6

cần được xem xét

KẾT LUẬN

Tỷ lệ nhiễm H.pylori ở bệnh nhân có triệu

chứng tiêu hóa trên vẫn còn cao Các bệnh viện

quận chẩn đoán nhiễm H.pylori chủ yếu bằng xét

nghiệm Urease nhanh Trong điều trị tiệt trừ còn

tồn tại một số vấn đề như: chọn lựa phác đồ hiệu

quả kém, chỉ định liều và thời gian chưa đúng,

không kiểm tra sau đợt tiệt trừ, tỉ lệ tiệt trừ thành

công chưa đạt mục tiêu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bùi Hữu Hoàng (2011) Hiệu quả của phác đồ nối tiếp trong

điều trị tiệt trừ Helicobacter pylori ở bệnh nhân viêm loét dạ dày-

tá tràng Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, 15 (1):pp.303-307

2 Đặng Ngọc Quý Huệ (2016) Nghiên cứu tỷ lệ kháng

Clarithromycin, Levofloxacin của Helicobacter pylori bằng

Epsilometer và hiệu ủa của phác đồ EBMT ở bệnh nhân viêm

dạ dày mạn Luận án tiến sĩ, Trường Đại học y dược Huế, tr.13

3 Do TT Nga et al (2014) Antibiotic sales in rural and urban

pharmacies in northern Vietnam: an observational study BMC

Pharmacol Toxicol, 15:p.6

4 Fock KM, Ang TL (2010) Epidemiology of Helicobacter pylori

infection and gastric cancer in Asia J Gastroenterol Hepatol,

25(3):pp.479-486

5 Hội Khoa học tiêu hóa Việt Nam (2013) Khuyến cáo chẩn đoán

và điều trị Helicobacter pylori tại Việt Nam Nhà xuất bản Y học TP

Hồ Chí Minh, tr.1-38

6 Malfertheiner P et al (2007) Current concepts in the

management of Helicobacter pylori infection: the Maastricht III

Consensus Report Gut, 56(6):pp.772-781

7 Malfertheiner P et al (2012) Management of Helicobacter pylori

infection the Maastricht IV/ Florence Consensus Report Gut,

61(5):pp 646-664

8 Miftahussurur M, Yamaoka Y (2015) Appropriate First-Line

Regimens to Combat Helicobacter pylori Antibiotic Resistance:

An Asian Perspective Molecules, 20 (4):pp.6068

9 Nam SY et al (2010) Effect of Helicobacter pylori infection and its eradication on reflux esophagitis and reflux symptoms Am J

Gastroenterol, 105(10):pp.2153-2162

10 Nguyễn Sào Trung (2005) Viêm loét dạ dày tá tràng và tình

trạng nhiễm Helicobacter pylori Y học Thành phố Hồ Chí Minh,

9(2):tr.74-79

11 Nguyen TL et al (2010) Helicobacter pylori infection and

gastroduodenal diseases in Vietnam: a cross-sectional,

hospital-based study BMC Gastroenterol, 10:pp.114

12 Ozdil K et al (2010) Current prevalence of intestinal metaplasia

and Helicobacter pylori infection in dyspeptic adult patients from Turkey Hepatogastroenterology, 57(104):pp.1563-1566

13 Parsonnet J (1993) Helicobacter pylori and gastric cancer

Gastroenterol Clin North Am, 22(1):pp.89-104

14 Thung I et al (2016) Review article: the global emergence of

Helicobacter pylori antibiotic resistance Aliment Pharmacol Ther,

43(4):pp.514-533

15 Trần Thiện Trung (2008) Bệnh dạ dày - tá tràng và nhiễm

Helicobater pylori Nhà xuất bản y học thành phố Hồ Chí Minh

16 Trần Thiện Trung, Phạm Văn Tấn, Quách Trọng Đức, Lý Kim Hương (2009) Hiệu quả của phác đồ EAL và EBMT trong tiệt

trừ Helicobacter pylori sau điều trị thất bại lần đầu Y học thành

phố Hồ Chí Minh, 13(1):tr.11-22

17 Vilaichone RK et al (2006) Helicobacter pylori diagnosis and management Gastroenterol Clin North Am, 35(2):pp.229-47

18 Vĩnh Khánh, Phạm Ngọc Doanh, Trần Văn Huy (2012) Nghiên cứu hiệu quả điều trị của phác đồ Rabeprazole-Amoxicillin- Clarithromycin Metronidazole ở bệnh nhân loét dạ dày có

Helicobacter pylori Y học thực hành, 1:pp.53-59

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 04/03/2019 Ngày bài báo được đăng: 20/04/2019

Ngày đăng: 15/01/2020, 22:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm