Bài viết trình bày việc xác định tỉ lệ biểu hiện Ki67 ở bướu nguyên bào men, phân tích liên quan với các đặc điểm lâm sàng, X quang, giải phẫu bệnh.
Trang 1BIỂU HIỆN KI67 Ở BƯỚU NGUYÊN BÀO MEN- LIÊN QUAN LÂM SÀNG,
X QUANG VÀ GIẢI PHẪU BỆNH
Võ Đắc Tuyến*, Lê Đức Lánh*, Nguyễn Thị Hồng*
TÓM TẮT
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ biểu hiện Ki67 ở bướu nguyên bào men, phân tích liên quan với các đặc điểm lâm
sàng, X quang, giải phẫu bệnh
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả, gồm 70 BNBM điều trị tại bệnh viện Răng Hàm Mặt
Trung Ương Tp.HCM từ năm 2011 đến năm 2013 Qui trình nhuộm hóa mô miễn dịch Ki67 được thực hiện tại
Bộ môn Giải Phẫu Bệnh - ĐHYD Tp HCM
Kết quả: Tất cả 70 ca BNBM đều dương tính Ki67 Tỉ lệ biểu hiện Ki67 trung bình là 10,5 ± 7,6% Biểu
hiện Ki67 không có sự khác biệt giữa bướu dạng đặc (10,9 ± 8,5%) và bướu dạng nang (9,7 ± 5,6%) (p>0,05) Giữa biểu hiện Ki67 với giới tính và tuổi không có liên quan có ý nghĩa (p>0,05) Bướu nhiều hốc biểu hiện Ki67 (11,3 ± 7,9%) cao hơn có ý nghĩa so với bướu một hốc (7,0 ±4,7%) (p<0,05); Bướu có đường viền không rõ có biểu hiện Ki67 (12,6 ± 8,2%) cao hơn có ý nghĩa so với bướu có đường viền rõ tụ cốt (6,3 ± 3,1%) và rõ không tụ cốt (6,1 ± 3,3%) (p<0,05); Bướu có thủng lớp vỏ xương có biểu hiện Ki67 (12,8 ± 8,6%) cao hơn có ý nghĩa so với bướu không thủng vỏ xương (7,7 ± 4,1%) (p<0,05) Có liên quan có ý nghĩa giữa biểu hiện Ki67 và các dạng mô bệnh học của bướu dạng nang, dạng trong vách của BNBM dạng nang biểu hiện Ki67 cao nhất (13,3 ± 5,4%) (p<0,05) Tuy nhiên, ở BNBM dạng đặc không có sự khác biệt giữa biểu hiện Ki67 và các dạng hình thái mô học của bướu (p>0,05) Hoạt động tăng sinh tế bào Ki67 có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa bướu tái phát và bướu nguyên phát BNBM tái phát có tỉ lệ tăng sinh tế bào Ki67 (13,5 ± 6,0%) cao hơn so với BNBM nguyên phát (9,7 ± 7,8 %) (p<0,05)
Kết luận: Ki67 có thể là một dấu ấn sinh học giúp dự đoán hoạt động tăng sinh tế bào, xâm lấn và khả năng
tái phát tại chỗ của bướu nguyên bào men
Từ khóa: Ki67; Hóa mô miễn dịch; Bướu nguyên bào men; Tái phát
Từ viết tắt: PCNA (Proliferating cell nuclear antigen); AgNOR (Silver-staining Technique for Nucleolar
Organizer Regions)
ABSTRACT
Ki-67 EXPRESSION IN AMELOBLASTOMAS: CORRELATION WITH CLINICAL, RADIOGRAPHIC
AND HISTOPATHOLOGICAL PARAMETERS
Vo Dac Tuyen, Le Duc Lanh, Nguyen Thi Hong
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 2 - 2016: 155 - 164
Objectives: The aim of this study was to determine the immunohistochemical expression of Ki67 in
ameloblastomas and to analyze correlate their expression with the clinical, radiographic and histopathologic characteristics
Materials and methods: A cross - sectional study was conducted on 70 patients of ameloblastoma who were
treated at the National Hospital of Odonto-Stomatology at HCM city from 2011 to 2013 The clinical, radiographic, histopathological data of the patients were evaluated Immunohistochemistry was performed with
* Khoa Răng Hàm Mặt, Đại Học Y Dược Tp.HCM
Trang 2anti - Ki67 monoclonal antibody
Results: The Ki67 expression ranged between 1% and 40% with a mean of 10.5 ± 7.6% Cellular
proliferation activity assessed by Ki67 showed no differences between solid ameloblastoma (10.9 ± 8.5%) and unicystic ameloblastoma (9.7 ± 5.6%) (p>0.05) There was no significant correlation between Ki67 expression and clinical features, such as age, gender (p>0.05) Ki67 expression in multilocular ameloblastoma (11.3 ± 7.9%) was significantly higher in unilocular ameloblastoma (7.0 ±4.7%) (p<0.05); Ki67 expression in ameloblastoma with ill
- defined edge (12,6 ± 8,2%) was significantly higher in ameloblastoma with well - defined edge (with and without slerosis) (6.3 ± 3.1% và 6.1 ± 3.3%) (p<0.05); Ki67 expression in ameloblastoma with cortical perforation (12.8 ± 8.6%) was significantly higher in ameloblastoma without cortical perforation (7.7 ± 4.1%) (p<0.05) Proliferative potential between different areas of unicystic ameloblastoma was different The expression of Ki67 was lower in the luminal and intraluminal patterns and progressively increased in the mural pattern (13.3 ± 5.4%); the difference
in incidence at these locations was statistically significant (p<0.05) However, proliferative potential assessed by Ki67 showed no significant differences among the different histological subtypes of the solid ameloblastoma The cellular proliferation activity evaluated by ki67 in recurrent ameloblastoma (13.5 ± 6.0%) was significantly higher
in primary ameloblastoma (9.7 ± 7.8 %) (p<0.05)
Conclusions: Ki67 could be used as one of biomarker in evaluating proliferative, invasive and local recurrent
ability of ameloblastoma
Key words: Ki67; Immunohistochemistry; Ameloblastoma; Recurrence
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bướu nguyên bào men (BNBM) là một trong
những bướu do răng thường gặp nhất ở xương
hàm Bướu đa dạng về lâm sàng, hình ảnh X
quang, mô bệnh học và đặc biệt là diễn tiến sinh
học Mặc dù được xem là tân sinh lành tính
nhưng bướu có tính phá hủy, xâm lấn tại chỗ và
tỉ lệ tái phát cao Một số trường hợp, có thể di
căn và biến đổi ác tính Cơ chế phân tử điều hòa
sự tăng sinh tế bào và xâm lấn tại chỗ cho đến
nay vẫn chưa được biết rõ Những nghiên cứu
gần đây trên thế giới cho thấy tiềm năng xâm lấn
tại chỗ của BNBM liên quan đến các phân tử
hoạt động sinh học phá hủy chất nền ngoại bào,
phóng thích và hoạt hóa các yếu tố tăng trưởng,
các yếu tố phân bào gây tăng sinh tế bào và xâm
lấn của tế bào bướu(7,10,13)
Diễn tiến lâm sàng ở bệnh nhân BNBM rất
khó tiên lượng bởi vì rất ít các dữ liệu giúp đánh
giá được biểu hiện sinh học của bướu Những
nghiên cứu gần đây cho thấy nhận diện hoạt
động tăng sinh của tế bào bướu có thể giúp dự
đoán biểu hiện sinh học của bướu Ki67 thường
được sử dụng đánh giá tỉ lệ tăng sinh tế bào ở
nhiều loại bướu, trong đó có bướu nguyên bào
men và nhiều loại bướu do răng khác Ki67, là một protein nhân không histon biểu hiện trong gần như tất cả các pha của chu kỳ tế bào (G1, S, G2 và M), đánh giá hoạt động tăng sinh tế bào Ki67 được xem là yếu tố tiên lượng mới dự đoán xâm lấn tại chỗ và khả năng tái phát của bướu nguyên bào men(3,5)
Mục tiêu của nghiên cứu: Xác định tỉ lệ biểu
hiện protein Ki67 bằng kỹ thuật hóa mô miễn dịch ở bướu nguyên bào men và khảo sát liên quan giữa biểu hiện của Ki67 với các đặc điểm lâm sàng, X quang, giải phẫu bệnh
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu cắt ngang, mô tả, gồm 70 bệnh nhân BNBM điều trị tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung Ương Tp HCM đáp ứng đủ tiêu chuẩn chọn mẫu, thuộc mẫu được chọn trong thời gian nghiên cứu từ năm 2011 đến năm
2013 Tiêu chuẩn chọn mẫu: bệnh nhân đồng ý
tham gia nghiên cứu, có đầy đủ hồ sơ bệnh án
và kết quả giải phẫu bệnh sau mổ là bướu nguyên bào men
Dữ liệu về lâm sàng, X quang và giải phẫu bệnh thu thập ở 70 ca BNBM bao gồm: 37 nam
Trang 3(52,9 %) và 33 nữ (47,1%); Tuổi từ 0-19 (9 ca,
12,9%), từ 20-39 tuổi (39 ca, 55,7%), từ 40-59 tuổi
(15 ca, 21,4%), lớn hơn 60 tuổi (7 ca, 10%); BNBM
dạng nang có 25 ca (35,7%) và BNBN dạng đặc
có 45 ca (64,3%); BNBM nguyên phát có 55 ca
(78,6%) và BNBM tái phát có 15 ca (21,4%); Bướu
thấu quang một hốc có 13 ca (18,6%) và bướu
nhiều hốc có 57 ca (81,4%); Bướu có đường viền
rõ tụ cốt có 6 ca (8,6%), bướu có đường viền rõ
không tụ cốt có 17 ca (24,3%) và bướu có đường
viền không rõ có 47 ca (67,1%); BNBM gây thủng
vỏ xương có 41 ca (58,6%) và bướu không gây
thủng vỏ xương có 29 ca (41,4%); Có 61 ca có
chân răng nằm trong bướu, trong đó, có tiêu
chân răng (47 ca, 77,1%) và không tiêu chân răng
(14 ca, 22,9%); Tiêu chân dạng dao cắt (28 ca,
59,6%), dạng gọt viết chì (11 ca, 23,4%), dạng
nhiều mặt cắt (5 ca, 10,6%), dạng kết hợp dao cắt
- gọt viết chì (3 ca, 6,4%); Có 17 ca có răng ngầm,
24,3% và 53 ca không có răng ngầm, 75,7% Về
đặc điểm vi thể của BNBM dạng nang: dạng ống
(7 ca, 28%), dạng trong ống (3 ca, 12%), dạng
trong vách (12 ca, 48%), dạng kết hợp trong vách
- trong ống (3 ca, 12%) Về đặc điểm vi thể của
BNBM dạng đặc: dạng túi tuyến (12 ca, 26,7%),
dạng đám rối (13 ca, 28,9%), dạng gai (6 ca,
13,3%), dạng tế bào hạt (3 ca, 6,7%), dạng kết hợp
túi tuyến - đám rối (11 ca, 24,4%)
Qui trình nhuộm hóa mô miễn dịch đánh giá
biểu hiện Ki67 được thực hiện tại Bộ môn Giải
Phẫu Bệnh – ĐHYD Tp.HCM Kỹ thuật nhuộm
tự động bằng máy Benchmark XT của hãng
Ventana được thực hiện qua các bước sau: Cắt
mỏng mẫu mô 3μm, đặt vào lam có mang điện
tích dương; Khởi động máy vi tính, máy nhuộm
hoá mô tự động, máy in mã vạch; Chạy chương
trình điều khiển được cài đặt sẵn cho máy; Chọn
kháng thể nhuộm (kháng thể MIB-1, Ki67); Máy
sẽ khử parafin bằng dung dịch Ezpred (dung
dịch chuyên dụng cho máy Benchmart XT); Máy
tiếp tục giai đoạn bộc lộ kháng nguyên bằng
dung dịch CC1 ở 95 0 C trong thời gian 30 phút;
Cho kháng thể vào từng lam với loại kháng thể
thích hợp (độ pha loãng 1:50 và thời gian ủ 33
phút); Máy tự động nhuộm bằng DAB Kit; Sau khi máy chạy xong, lấy tiêu bản ra và rửa bằng
xà phòng để loại bỏ lớp dầu LCS phủ trên tiêu bản Sau đó nhuộm qua Hematoxylin Dán lamen; Giữa các bước đều có quá trình rửa bằng dung dịch đệm với thời gian 5 phút
Đánh giá kết quả nhuộm Ki67 được thực hiện ở những vùng chọn lọc nhiều tế bào biểu
mô ở bướu dạng đặc và dọc theo biểu mô lót hoặc vùng bướu xâm lấn vào trong lòng nang hoặc và vách mô liên kết ở bướu dạng nang Tỉ lệ phần trăm tế bào bướu dương tính Ki67 trên tổng số tế bào bướu được tính bằng cách sử dụng camera kỹ thuật số Optikam Pro HDMI và phần mềm Optika Vision Lite chụp ảnh vi thể 5 vùng chọn lọc có nhiều tế bào bướu (vật kính 10x) Sau đó, hình ảnh trên màn hình vi tính được chuyển vào lưới kẻ ô để dễ đếm số tế bào dương tính (tế bào được xem là nhuộm dương tính Ki67 khi nhân tế bào bắt màu vàng nâu)
Hình 1: Ảnh chụp Vi thể trên Phần mềm Optika
Vision Lite
Xử lý số liệu
Nhập dữ liệu và phân tích bằng phần mềm STATA12
KẾT QUẢ
Tỉ lệ biểu hiện Ki67 ở tế bào bướu nguyên bào men
Tất cả 70 ca bướu nguyên bào men đều có biểu hiện dương tính Ki67, Ki67 nhuộm dương
Trang 4tính chủ yếu ở các tế bào ngoại vi của các đảo
biểu mô bướu và dọc theo biểu mô lót thành
nang Các tế bào bướu trung tâm biểu hiện
dương tính Ki67 ít hơn so với tế bào ngoại vi
Tỉ lệ biểu hiện của Ki67 thay đổi từ 1% đến
40% Tỉ lệ biểu hiện protein Ki67 trung bình
trung bình là 10,5 ± 7,6 %, trung vị 8% và khoảng
tứ vị 5 - 15%
Biểu hiện Ki67 theo tuổi và giới tính
Bảng 1 Liên quan giữa biểu hiện Ki67 với tuổi và
giới tính
Biểu hiện Ki67 ở tế bào bướu
Giá trị p
TB ± ĐLC Trung vị Khoảng tứ vị
Nam 10,5 ± 7,4 8,0 5,0 – 15,0
Nữ 10,5 ± 7,9 8,0 5,0 – 12,0
Biểu hiện Ki67 ở tế bào bướu
Giá trị p
TB ± ĐLC Trung vị Khoảng tứ vị
0 – 19 9,8 ± 7,4 7,0 9,8 ± 7,4
20 – 39 11,5 ± 9,0 10,0 11,5 ± 9,0
40 – 59 10,1 ± 4,5 8,0 10,1 ± 4,5 60+ 6,6 ± 1,8 7,0 6,6 ± 1,8
a : Phép kiểm phi tham số Mann-Whitney
b : Phép kiểm phi tham số Kruskal-Wallis
Biểu hiện Ki67 và thể bệnh của bướu nguyên bào men
Bảng 2 Liên quan giữa biểu hiện Ki67 với thể bệnh
của bướu nguyên bào men
Biểu hiện Ki67 ở tế bào bướu
Giá trị p
TB ± ĐLC Trung vị Khoảng tứ vị
Dạng nang 9,7 ± 5,6 8,0 5,0 - 12,0
0,92 a Dạng đặc 10,9 ± 8,5 8,0 5,0 -15,0
a : Phép kiểm phi tham số Mann-Whitney
Biểu hiện Ki67 và các yếu tố tiên lượng trong bướu nguyên bào men
Bảng 3 Liên quan giữa biểu hiện Ki67 và các yếu tố tiên lượng của bướu nguyên bào men
Biểu hiện Ki67 ở tế bào bướu
Giá trị p
TB ± ĐLC Trung vị Khoảng tứ vị
Nhiều hốc 11,3 ± 7,9 10,0 6,0 – 15,0 Đường viền
bướu
<0,001b
Rõ không tụ cốt 6,1 ± 3,3 5,0 4,0 – 8,0 Không rõ 12,6 ± 8,2 10,0 7,0 – 16,0 Thủng vỏ
xương
<0,001a
Kiểu tiêu
chân răng
Dao cắt 12,6 ± 10,1 10,0 6,0 – 15,0
0,23b Gọt viết chì 10,6 ± 5,2 10,0 8,0 – 15,0
Nhiều mặt cắt 6,2 ± 1,8 6,0 5,0 – 8,0 Dao cắt + gọt viết chì 14,7 ± 6,8 17,0 7,0 – 20,0
a : Phép kiểm phi tham số Mann-Whitney
b : Phép kiểm phi tham số Kruskal-Wallis
Biểu hiện Ki67 và giải phẫu bệnh của bướu nguyên bào men
Bảng 4 Liên quan giữa biểu hiện Ki67 và giải phẫu bệnh của bướu nguyên bào men
Biểu hiện Ki67 ở tế bào bướu
Giá trị p
TB ± ĐLC Trung vị Khoảng tứ vị
BNBM dạng
nang
0,001b Dạng trong ống 6,0 ± 1,7 7,0 4,0 – 7,0
Dạng trong vách 13,3 ± 5,4 11,0 9,0 – 17,5 Trong vách + trong ống 11,0 ± 3,6 10,0 8,0 – 15,0
Trang 5Biểu hiện Ki67 ở tế bào bướu
Giá trị p
TB ± ĐLC Trung vị Khoảng tứ vị
BNBM dạng
đặc
Dạng túi tuyến 7,5 ± 5,1 5,0 5,0 – 11,0
0,17b
Dạng đám rối 11,7 ± 9,7 10,0 6,0 – 15,0 Dạng gai 14,0 ± 13,3 9,0 8,0 – 15,0 Dạng tế bào hạt 6,3 ± 1,2 7,0 5,0 – 7,0 Dạng túi tuyến + đám rối 13,4 ± 7,5 12,0 7,0 – 17,0
b : Phép kiểm phi tham số Kruskal-Wallis
Biểu hiện protein Ki67 và bướu nguyên bào
men nguyên phát/tái phát
Bảng 5 Liên quan giữa biểu hiện Ki67 với bướu
nguyên bào men nguyên phát / tái phát
Biểu hiện Ki67 ở tế bào bướu
Giá trị p
TB ± ĐLC Trung vị Khoảng tứ vị
Nguyên phát 9,7 ± 7,8 8,0 5, 0 – 12,0
0,006 a Tái phát 13,5 ± 6,0 12,0 8,0 – 18,0
a : Phép kiểm phi tham số Mann-Whitney
BÀN LUẬN
Đánh giá hoạt động tăng sinh tế bào trong
bướu, hiện nay được xem là một sự bổ sung
quan trọng cùng với khảo sát về mặt vi thể có
thể giúp dự đoán biểu hiện sinh học ở nhiều loại
bướu(3) Có nhiều phương pháp xác định mức độ
hoạt động tăng sinh tế bào ở nhiều loại bướu
khác nhau như phân tích chỉ số phân bào; đo
dòng chảy tế bào; nhuộm bạc (AgNOR) và kỹ
thuật hóa mô miễn dịch Trong đó kỹ thuật hóa
mô miễn dịch được sử dụng nhiều nhất trong
nghiên cứu về bướu nguyên bào men(4) Đánh
giá sự tăng sinh tế bào bằng hóa mô miễn dịch
có nhiều ưu điểm hơn các kỹ thuật khác bởi vì
cấu trúc mô còn nguyên vẹn và sự tăng sinh tế
bào có thể được quan sát và đánh giá đồng thời
với các đặc điểm mô bệnh học khác của
bướu(8,16) Nguyên tắc cơ bản của kỹ thuật hóa
mô miễn dịch là dùng kháng thể để xác định sự
hiện diện của kháng nguyên trong mô hoặc tế
bào (bào tương, màng tế bào, nhân) dựa trên
phản ứng miễn dịch kháng nguyên - kháng thể
Kỹ thuật hóa mô miễn dịch được sử dụng rộng
rãi trong các nghiên cứu cơ bản để xác định vị trí
và sự phân bố của các protein, các dấu ấn sinh
học phân tử trong các phần khác nhau của mẫu
sinh học(4)
Bướu nguyên bào men được quan tâm nhiều nhất, do bởi đây là loại bướu do răng thường gặp nhất và do biểu hiện sinh học đặc biệt của bướu, dù là tân sinh lành tính, nhưng bướu có đặc điểm phá hủy, xâm lấn tại chỗ và tỉ lệ tái phát rất cao, thậm chí ngay cả khi điều trị cắt đoạn xương hàm Cơ chế phân tử điều hòa tăng trưởng tế bào và xâm lấn hiện nay chưa được biết rõ Nhận biết hoạt động tăng sinh tế bào trong bướu có ý nghĩa rất quan trọng giúp đánh giá biểu hiện sinh học của bướu như xâm lấn tại chỗ, tái phát và di căn xa MIB-1 là kháng thể có thể phát hiện được kháng nguyên Ki67 ở mô đúc khối paraffin, thường được sử dụng để xác định
tỉ lệ tăng sinh tế bào ở nhiều loại bướu, bao gồm bướu nguyên bào men và các bướu do răng khác Ki67, là một protein nhân không histon biểu hiện trong gần như tất cả các pha của chu trình tế bào (G1, S, G2 và M) trừ pha G0 và giai đoạn sớm của pha G1(4) Mức độ biểu hiện tăng khi tế bào tiến hành tăng sinh, đặc biệt trong pha
S và đạt đỉnh ở pha G2 và M Protein này phân hủy rất nhanh sau giai đoạn phân bào Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng kỹ thuật hóa
mô miễn dịch xác định tỉ lệ biểu hiện Ki67 ở mô bướu nguyên bào men và phân tích mối liên quan với các đặc điểm lâm sàng, X quang, giải phẫu bệnh
70 ca bướu nguyên bào men trong nghiên cứu này tất cả đều có biểu hiện dương tính Ki67, Ki67 chủ yếu biểu hiện ở các tế bào ngoại vị giống như một số nghiên cứu trước đây(5, 23,26) Tỉ lệ biểu hiện Ki67 trung bình là 10,5 ± 7,6% Kết quả này tương tự như nghiên cứu của Ahlem và cs tỉ lệ tăng sinh Ki67 trong khoảng từ 2 đến 22%, trung bình 10,5%(3); nghiên cứu của Hirayama và cs cũng cho thấy
Trang 6tỉ lệ Ki67 trong khoảng từ 1,6 – 19,8%, trung
bình 8,2 ± 5,3%(9), nghiên cứu của Kiresur và cs
cũng ghi nhận tỉ lệ Ki67 10,83 ± 1,76%(11)
Biểu hiện Ki67 và tuổi - giới tính
Nghiên cứu của Bologna - Molina và cs
không thấy có sự liên quan có ý nghĩa giữa biểu
hiện Ki67 với tuổi và giới tính(5) Nghiên cứu của
Sandra và cs cho thấy tỉ lệ tăng sinh Ki67 ở bệnh
nhân trẻ tuổi (≤20 tuổi) là thấp nhất, tiếp theo là
ở tuổi trung niên (21-40 tuổi), và biểu hiện Ki67
cao nhất ở lứa tuổi lớn hơn hơn (>40 tuổi)(23)
Ngược lại với Sandra và cs , trong nghiên cứu
của Koizumi và cs, ở nhóm bệnh nhân ≤15 tuổi,
biểu hiện Ki67 trung bình 13,8% (thường gặp là
dạng đám rối) Trong khi ở nhóm ≥60tuổi, biểu
hiện Ki67 trung bình là 8,5% (thường gặp là
dạng túi tuyến), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
(p<0,05)(12) Trong nghiên cứu này chúng tôi cũng
ghi nhận biểu hiện Ki67 ở lứa tuổi < 19 tuổi (9,8 ±
7,4%) cao hơn lứa tuổi >60 tuổi (6,6 ± 1,8%) và
cao nhất ở lứa tuổi từ 20-59 tuổi, tuy nhiên, sự
khác biệt là không có ý nghĩa thống kê (p> 0,05)
Biểu hiện Ki67 và đặc điểm X quang
Nghiên cứu của Bologna-Molina cho thấy
không có sự liên quan giữa biểu hiện Ki67 và đặc
điểm X quang của bướu nguyên bào men.Trong
nghiên cứu này, chúng tôi ghi nhận bướu
nguyên bào men có hình ảnh thấu quang nhiều
hốc có biểu hiện Ki67 trung bình 11,3 ± 7,9% cao
hơn nhiều so với bướu thấu quang một hốc
(trung bình 7,0 ± 4,7%), sự khác biệt này có ý
nghĩa thống kê (p<0,05) Nghiên cứu của Ueno
và cs trước đây cũng ghi nhận biểu hiện sinh học
của BNBM có liên quan đến đặc điểm X quang
của bướu, BNBM nhiều hốc thường có tiên
lượng xấu hơn(25)
Đường viền bướu trên phim X quang cũng là
một thông số có giá trị đánh giá tỉ lệ tăng trưởng
của bướu Kramer cho rằng bướu nguyên bào
men có thể xâm lấn vào các khoang giữa các bè
xương ở xương xốp nhưng không xâm lấn vi thể
vào lớp xương đặc, dù bướu có thể ăn mòn lớp
xương này Nghiên cứu của Carlson và cs cho
thấy tế bào bướu thâm nhiễm trong xương xốp khoảng cách từ 2 - 8mm, trung bình 4,5mm(6) Bướu nguyên bào men có đường viền rõ tụ cốt được xem là tiến triển chậm, trong trường hợp này xương lành xung quanh có một phản ứng mạnh tạo thành một đường viền xương xơ hóa
tụ cốt, có vai trò như lớp xương đặc hạn chế sự xâm lấn của tế bào bướu và rõ ràng tiên lượng tốt hơn.Trong khi đó, bướu có đường viền rõ nhưng không xơ hóa tụ cốt chứng tỏ vẫn ít nhiều
có sự xâm lấn của bướu và tiên lượng cũng sẽ không tốt Bướu có đường viền không rõ được xem là có khả năng xâm lấn nhiều hơn các loại khác và nên được điều trị triệt để hơn vì khả năng tái phát rất cao Li Y và cs cho rằng, ở bệnh nhân BNBM, ngoài các thông số như kích thước bướu, vị trí, tuổi, lâm sàng, mô bệnh học và một
số thông số khác thì đường viền bướu trên phim
X quang có thể sử dụng như một thông số tham khảo để chọn lựa kế hoạch điều trị tránh điều trị quá mức gây ảnh hưởng nặng nề đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân(15) Trong nghiên cứu này, tỉ lệ biểu hiện Ki67 ở nhóm bướu có đường viền rõ tụ cốt là 6,3 ± 3,1%, rõ không tụ cốt là 6,1
± 3,3% và không rõ là 12,6 ± 8,2% Có sự liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tỉ lệ tăng sinh tế bào Ki67 và đặc điểm đường viền bướu, nhóm bướu có đường viền không rõ có biểu hiện tăng sinh tế bào Ki67 cao hơn các nhóm còn lại (p<0,05) Kết quả này tương tự như nghiên cứu của Li Y và cs ghi nhận biểu hiện Ki67 ở BNBM
có đường viền không rõ là cao nhất so với bướu
có đường viền rõ, tụ cốt hoặc không tụ cốt Điều này có thể cho rằng BNBM có đường viền không
rõ biểu hiện kiểu tăng trưởng xâm lấn thâm nhiễm vào trong xương xốp và có nhiều tế bào với khả năng tăng sinh cao hơn(15)
Thủng vỏ xương là một trong những biểu hiện xâm lấn tại chỗ của bướu nguyên bào men, tuy nhiên còn ít các nghiên cứu trong nước cũng như trên thế giới báo cáo về tỉ lệ thủng vỏ xương ở BNBM cũng như liên quan giữa tình trạng này với biểu hiện Ki67 Có thể
là do đa số các nghiên cứu phân tích các đặc
Trang 7điểm X quang trên phim toàn cảnh nên không
đánh giá được chính xác tình trạng phồng và
thủng lớp vỏ xương như trên phim CT Trong
nghiên cứu này chúng tôi đánh giá tình trạng
thủng lớp vỏ xương ở 70 ca BNBM trên phim
CT và phân tích sự khác biệt về biểu hiện Ki67
ở nhóm bướu gây thủng vỏ xương và nhóm
không thủng vỏ xương Kết quả nghiên cứu
cho thấy ở BNBM có thủng xương, biểu hiện
Ki67 là 12,8 ± 8,6% cao hơn so với ở BNBM
không thủng vỏ xương 7,2 ± 4,2% và sự khác
biệt là có ý nghĩa về mặt thống kê (p<0,05)
Nghiên cứu này cũng ghi nhận không có sự
khác biệt có ý nghĩa giữa biểu hiện Ki67 với
tình trạng tiêu chân răng và răng ngầm trong
bướu p>0,05)
Biểu hiện Ki67 và thể bệnh của bướu
nguyên bào men
Hai thể bệnh học lâm sàng chính của BNBM
ở xương hàm là BNBM dạng đặc và BNBM dạng
nang Đa số các nhà khoa học đều cho rằng
BNBM dạng nang có biểu hiện sinh học hoàn
toàn khác so với BNBM dạng đặc với tỉ lệ tái
phát thấp hơn Tỉ lệ tái phát của BNBM dạng
nang trong khoảng từ 6,7 % đến 35,7%, trong khi
đó tỉ lệ tái phát của BNBM dạng đặc từ 17,7%
đến 27,3% khi điểu trị triệt để và từ 20% đến 90%
khi điều trị bảo tồn(16) Tuy nhiên, khi so sánh
hoạt động tăng sinh tế bào qua biểu hiện Ki67
giữa BNBM dạng đặc và BNBM dạng nang thì
có những kết quả trái ngược nhau Một vài tác
giả nhận thấy rằng tỉ lệ dương tính Ki67 cao hơn
ở bướu dạng đặc, tuy nhiên, một số khác lại có
kết quả BNBM dạng nang có tỉ lệ Ki67 dương
tính cao hơn(4) Nghiên cứu của Meer và cs cho
thấy hoạt động tăng sinh tế bào được đánh giá
qua biểu hiện PCNA và ki67 có sự khác nhau
giữa các thể lâm sàng bệnh học của BNBM
BNBM dạng nang cho thấy chỉ số PCNA và Ki67
cao hơn BNBM dạng đặc một cách có ý nghĩa(16)
Ngược lại, nghiên cứu của Sandra và cs trên 32
ca BNBM ghi nhận bướu dạng đặc có biểu hiện
PCNA và Ki67 cao hơn so với bướu dạng nang
(p< 0,05)(23), nghiên cứu của Li và cs cũng ghi
nhận bướu dạng đặc biểu hiện Ki67 cao hơn có ý nghĩa so với bướu dạng nang(14) Trong nghiên cứu này, tỉ lệ biểu hiện Ki67 ở bướu dạng nang trung bình là 9,7 ± 5,6%, trong khi ở bướu dạng đặc là 10,9 ± 8,5%, BNBM dạng đặc có tỉ lệ tăng sinh tế bào Ki67 cao hơn BNBM dạng nang, tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống
kê (p>0,05) Kết quả này tương tự nghiên cứu của Bologna - Molina, hoạt động tăng sinh tế bào được đánh giá bởi Ki67 không có sự khác biệt có
ý nghĩa giữa bướu dạng nang (15,1%) và bướu dạng đặc (12,8%)(5) Lý do có sự khác biệt giữa các nghiên cứu về biểu hiện Ki67 ở BNBM dạng nang và dạng đặc thì chưa rõ ràng, tuy nhiên, có thể là do sự khác nhau về phương pháp, đặc biệt
là về cách đếm tế bào Một lý do nữa cũng cần chú ý, đó là sự khác biệt về hình thái bướu, tỉ lệ
tế bào biểu mô giữa BNBM dạng nang và BNBM dạng đặc hoàn toàn khác nhau Ở bướu dạng nang, các tế bào trung tâm giống mạng lưới hình sao ít hơn so với bướu dạng đặc, vì vậy đa số các
tế bào được đếm tương ứng với các tế bào ở lớp đáy và lớp cận đáy, đây là những tế bào có khuynh hướng dương tính Ki67
Biểu hiện Ki67 và giải phẫu bệnh của BNBM dạng nang
Năm 1988, qua nghiên cứu 57 ca BNBM dạng nang, Ackermann và c.s đã phân loại BNBM dạng nang thành ba dạng hình thái mô bệnh học khác nhau: dạng ống, dạng trong ống
và dạng trong vách(1) Nghiên cứu của Bologna-Molina và cs, ghi nhận tỉ lệ tăng sinh Ki67 cao nhất ở dạng ống, kế đến mới là dạng trong ống
và trong vách(5) Ngược lại, nghiên cứu của Li và
cs cho thấy, ở vị trí các đảo bướu xâm lấn vào vách mô liên kết có biểu hiện Ki67 cao hơn so với
ở vị trí biểu mô nhô vào trong lòng nang và ở lớp biểu mô lót thành nang(14); nghiên cứu của Sah và
cs cũng ghi nhận giá trị trung bình Ki67 ở dạng trong ống và dạng trong vách cao hơn so với dạng ống(22) Một nghiên cứu khác của Merr và cs cũng có kết quả tương tự, biểu hiện Ki67 ở dạng trong ống và dạng trong vách cao hơn so với
Trang 8dạng ống(16) Sự khác biệt này có thể là do dạng
ống ít các tế bào biểu mô giống mạng lưới hình
sao hơn so với các dạng mô học khác của BNBM
dạng nang Trong nghiên cứu này, chúng tôi
nhận thấy có sự liên quan có ý nghĩa giữa tỉ lệ
tăng sinh Ki67 và các dạng mô bệnh học của
bướu dạng nang, tỉ lệ biểu hiện Ki67 ở dạng ống
(4,6 ± 1,8%) và trong ống (6,0 ± 1,7%) thấp hơn có
ý nghĩa so với dạng trong vách 13,3 ± 5,4
(p<0,05) Nghiên cứu của Piattelli và cs đánh giá
biểu hiện Ki67 ở 3 dạng mô học của BNBM dạng
nang cũng có kết quả giống như nghiên cứu của
chúng tôi, trong đó dạng ống có biểu hiện Ki67
(5,32 ± 0,86%) thấp hơn so với dạng trong ống
(14,18 ± 1,06%) và dạng trong vách (16,5 ± 0,71%),
sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05)(19)
Những phát hiện này cho thấy khả năng tăng
sinh của biểu mô lót nguyên bào men là khác
nhau ở mỗi dạng mô học của BNBM dạng nang
và đánh giá biểu hiện Ki67 ở BNBM dạng nang
có thể làm sáng tỏ biểu hiện sinh học khác nhau
của chúng Tỉ lệ biểu hiện Ki67 ở dạng trong
vách cao hơn so với các dạng khác của BNBM
dạng nang khẳng định tiềm năng tăng sinh cao
hơn của dạng mô bệnh học này Trong nghiên
cứu này chúng tôi cũng nhận thấy biểu hiện
Ki67 ở dạng trong vách cũng tương tự như ở
BNBM dạng đặc, kết quả này cũng phù hợp với
nghiên cứu của Younis và cs(26) Những nghiên
cứu gần đây, có những bằng chứng cho thấy bản
chất xâm lấn của BNBM dạng nang và nhiều tác
giả cũng nhấn mạnh có sự giống nhau về biểu
hiện sinh học giữa dạng trong vách của BNBM
dạng nang và BNBM dạng đặc(2,6) Dạng trong
vách của BNBM dạng nang là dạng xâm lấn
nhiều nhất, có tỉ lệ tái phát rất cao 35,7%(2,24)
Nghiên cứu của Rastogi và cs đánh giá mức độ
thâm nhiễm của mô bướu vào xương lành xung
quanh cho thấy BNBM dạng ống và dạng trong
ống không có sự thâm nhiễm vào xương xung
quanh, ngược lại, BNBM dạng trong vách có sự
thâm nhiễm của tế bào bướu vào xương lành
xung quanh khoảng 2,5 mm(20)
Biểu hiện Ki67 và giải phẫu bệnh của BNBM dạng đặc
Về đặc điểm hình thái vi thể, BNBM dạng đặc có hai dạng hình thái mô học chính là dạng túi tuyến và dạng đám rối(21) Một số trường hợp, các tế bào trung tâm giống mạng lưới hình sao có thể được thay thế bởi tế bào gai, tế bào hạt hoặc
tế bào đáy tạo nên các biến thể mô bệnh học khác như dạng gai, tế bào hạt và tế bào đáy Sự khác nhau về sinh học của tế bào tân sinh giữa dạng túi tuyến và dạng đám rối vẫn chưa được sáng tỏ Đã có nhiều nghiên cứu về biểu hiện của dấu ấn tăng sinh tế bào như PCNA và Ki67 nhằm dự đoán biểu hiện sinh học của tế bào bướu ở nhiều dạng mô bệnh học khác nhau của bướu nguyên bào men dạng đặc(9) Trong nghiên cứu này chúng tôi nhận thấy dạng gai, dạng kết hợp túi tuyến - đám rối và dạng đám rối có biểu hiện Ki67 cao hơn các dạng khác, tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Kết quả nghiên cứu này tương tự như nghiên cứu của Migaldi và cs, không có sự khác biệt có ý nghĩa về hoạt động tăng sinh tế bào giữa các thể mô bệnh học của BNBM dạng đặc(17) Tuy nhiên, nghiên cứu của Ong’uti và cs cho thấy dạng túi tuyến có biểu hiện Ki67 cao hơn có
ý nghĩa so với dạng đám rối(18) Một nghiên cứu khác của Sandra và cs cũng ghi nhận dạng túi tuyến có biểu hiện Ki67 cao hơn dạng đám rối, nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống
kê(23) Ngược lại nghiên cứu của Hirayama và cs lại ghi nhận biểu hiện Ki67 cao hơn có ý nghĩa ở dạng đám rối so với dạng túi tuyến(9)
Biểu hiện Ki67 và bướu nguyên phát - tái phát
Trong nghiên cứu này, tỉ lệ biểu hiện Ki67
ở bướu nguyên phát là 9,7 ± 7,8 %, tỉ lệ biểu hiện Ki67 ở bướu tái phát là 13,5 ± 6,0% Kết quả ghi nhận có sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê giữa biểu hiện Ki67 với bướu nguyên phát hoặc tái phát BNBM tái phát có tỉ lệ tăng sinh
tế bào cao hơn BNBM nguyên phát (p<0,05) Kết quả này tương tự như các nghiên cứu gần
Trang 9đây trên thế giới: nghiên cứu của Aziz và cs
cũng ghi nhận có sự liên quan có ý nghĩa giữa
tỉ lệ tăng sinh Ki67 với bướu nguyên phát hoặc
tái phát BNBM tái phát có tỉ lệ tăng sinh tế
bào cao hơn BNBM nguyên phát (p<0,05)
Nghiên cứu của Migaldi và cs cũng ghi nhận tỉ
lệ tăng sinh Ki67 có sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê giữa bướu nguyên phát và bướu tái
phát(17) Phân tích biểu hiện Ki67 giữa ca tái
phát và ca không tái phát cho thấy giá trị
trung bình của Ki67 ở nhóm tái phát cao hơn
có ý nghĩa so với nhóm không tái phát(8)
Nghiên cứu gần đây nhất của Ahlem và cs
cũng ghi nhận hoạt động tăng sinh tế bào
được đánh giá bởi Ki67 cao hơn có ý nghĩa ở
nhóm các bướu tái phát (p=0,000)(3)
KẾT LUẬN
Kết quả trong nghiên cứu cho thấy Ki67 có
thể là một dấu ấn sinh học giúp dự đoán hoạt
động tăng sinh tế bào, xâm lấn và khả năng tái
phát tại chỗ của bướu nguyên bào men Đánh
giá biểu hiện Ki67 trong bướu nguyên bào
men trước phẫu thuật có ý nghĩa quan trọng
giúp xây dựng kế hoạch điều trị thích hợp
hiệu quả đối với bướu nguyên bào men
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Ackerman G.L., Altini M., Shear M (1988), “The unicystic
ameloblastoma: a clinical pathological study of 57 cases”, J
Oral Pathol, 17, (9-10), 541-546
2 Adeyemo W.L., Bamgbose B.O., Ladeinde A.L., Ogunlewe
M.O.(2007), “Surgical management of ameloblastomas:
conservative or radical approach? A critical review of the
literature”, Oral Surg, 1, 22-27
3 Ahlem B., Wided A., Amani L., Nadia Z., Amira A., Faten F
(2015), “Study of Ki67 and CD10 expression as predictive
factors of recurrence of ameloblastoma”, European Annals of
Otorhinolaryngology, Head and Neck Diseases,1-5
4 Bologna-Molina R., Bedoya-Borella AM., Soria-Moreira L.,
Soria-Suarez S (2013), “Molecular biomarkers of cell
proliferation in ameloblastomas”, World J Stomatol, 2(4), 79-85
5 Bologna-Molina R., Mosqueda-Taylor A., Lopez-Corella.,
Almeida O.P., Carrasco- Daza D., Garcia- Vazquez F., Farfan-
Morales J.E., Irigoyen- Camacho M.E., Damian- Matsumura P
(2008), “Syndecan-1 (CD138) and Ki-67 expression in different
subtypes of ameloblastoma”, Oral Oncol, 44, 805-811
6 Carlson E R., Marx R.E (2006), “The ameloblastoma: Primary,
curative Surgical Management”, J Oral Maxilofac Surg, 64,
488-494
7 Gomes C.C., Duarte A.P., Diniz.M.G., Gomes R.S (2010),
“Current concepts of ameloblastoma pathogenesis”, J Oral Pathol Med, 39, 585-591
8 Hegab A., Shuman M., Abd El-Akher M., Arwlan D (2013), “ Ki67 immunohistochemical expression in mandibular ameloblastoma: A prognostic indicator for local recurrence”,
Open J Stomatol, 3, 520-526
9 Hirayama T., Hamada T., Hasui K., Semba I., Murata F., Sugihara K (2004), “Immunohistochemical Analysis of cell proliferation and suppression of ameloblastoma with special
reference to plexiform and Follicular”, Acta Histochem Cytochem, 37(6), 391-398
10 Jhamb T., Kramer J.M (2014), “Molecular concepts in the pathogenesis of ameloblastoma: Implications for
therapeutics”, Experimental and Molecular Pathology, 97,
345-353
11 Kiresur M.A., Kumar D.V., Hemavathy S (2015), “Evaluation
os epithelial Cell proliferation in ameloblastoma and keratocystic odontogenic tumor: A comparative study”,
Universal Research Journal Dentistry, 5(3), 180-184
12 Koizumi Y., Kauzman A., Okada H., Kuyama K., McComb
RJ Yamamoto H (2004), “Assessment of proliferative activity and angiogenesis in ameloblastoma: A comparison based on
patient age”, Int J Oral Med Sci, 3(1), 25-33
13 Kumamoto H (2010), “Molecular alterations in the
development and progression of odontogenic tumors”, Oral Med Pathol, 14, 121-130
14 Li T-J., Browne R.M., Matthews J.B.(1995), “Expression of proliferating cell nuclear antigen (PCNA) and Ki-67 in
unicystic ameloblastoma”, Histopathology, 26, 219-228
15 Li Y., Han B., Li L.J (2012), “ Prognostic and proliferative evaluation of ameloblastoma based on radiographic
boundary”, Int J Oral Sci, 4, 30-33
16 Meer S., Galpin J.S., Altini M (2003), “ Proliferating cell
ameloblastomas”, Oral Surg Oral Med Oral Pathol Oral Radiol Endo, 95, 213-221
17 Migaldi M., Sartori G., Rossi G., Cittadini A., Sgambato A (2006), “Tumor cell proliferation and microsatellite alterations
in human ameloblastoma”, Oral Oncol, 44, 50-60
18 Ong’uti M.N., Cruchley A.T., Howells G.L., Williams D.M (1997), “ Ki-67 antigen in ameloblastomas: Correlation with clinical and histological parameters in 54 cases from Kenya”,
Int J Oral Maxillofac Surg, 26, 376-379
19 Piattelli A., Lezzi G., Fioroni M., Santinelli A., Rubini C (2002), “ Ki67 Expression in Dentigerous cysts, Unicystic ameloblastomas, and Ameloblastomas arising from dental
Cysts”, Journal of Endodontic, 28(2), 55-59
20 Rastogi S., Pandilwar P.K., Maitra S (2010), “Ameloblastoma:
an evidence based study”, J Maxillofac Oral Surg, 9(2), 173-177
21 Reichart P.A., Philipsen H.P Sonner S (1995),
“Ameloblastoma: Biological profile of 3677cases ”, Oral Oncol, Eur J Cancer, 31B(2), 86-99
22 Sah P., Menon A., Kamath A., Chandrashekar C., Carnelio S., Radhakrishnan R (2013), “Role of immunomarkers in the clinicalpathological analysis of unicystic ameloblastoma”,
Disease Markers, 35, 481-488
23 Sandra F., Mitsuyasu T., Nakamura N., Shiratsuchi Y., Ohishi
M (2001), “Immunohistochemical evaluation of PCNA and
Ki67 in ameloblastoma”, Oral Oncol, 37, 193-198
Trang 1024 Seintou A., Martinelli-KlayCP., Lombardi (2014), “Unicystic
ameloblastoma in children: systematic review of
clinicopathological features and treatment outcomes”, Int J
Oral Maxillofac Surg, 43, 405-412
25 Ueno S., Mushimoto K., Shirasu R (1989), “ Prognostic
Evaluation of Ameloblastoma Based on Histologic and
Radiographic Typing”, J Oral Maxillofac Surg, 47, 11-15
26 Younis W.H., Hussein A.G., Garib B.T.(2014), “Detection of
Ki-67, BCL-2, Treminally apoptotic cells (Tunel assay), CD34
and VEGF in ameloblastoma”, Eur Sci J, 10, 284-298
Ngày phản biện nhận xét bài báo: 16/02/2016