1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vô thức trong chuyện chúng ta bắt đầu của tobias wolff (2017)

84 72 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về nhiều mặt, sự trưởng thành của một nhà văn cũnggiống như sự trưởng thành của một con người, anh ta phải tìm kiếm thần tượng, tìmkiếm chỗ đứng của mình trong thế giới, phải tìm cách để

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

TRẦN THU TRANG

VÔ THỨC TRONG

CHUYỆN CHÚNG TA BẮT ĐẦU

CỦA TOBIAS WOLFF

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học nước ngoài

Người hướng dẫn khoa học:

ThS Lương Thị Hồng Gấm

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học nước ngoài

Người hướng dẫn khoa học:

ThS Lương Thị Hồng Gấm

HÀ NỘI, 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc của mình tới cô giáohướng dẫn khoa học ThS Lương Thị Hồng Gấm, người đã tận tình giảng dạy,hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn tập thể thầy cô khoa Ngữ Văn, đặc biệt là cácthầy cô trong tổ bộ môn Văn học nước ngoài và trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

đã giảng dạy và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu vàhọc tập tại trường

Xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn là điểm tựa cho tôi trongsuốt thời gian học tập và nghiên cứu!

Hà Nội, Ngày tháng năm

Tác giả

Trần Thu Trang

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, khóa luận với đề tài “Vô thức trong Chuyện chúng

ta bắt đầu của Tobias Wolff” là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng

dẫn khoa học của ThS.Lương Thị Hồng Gấm

Các số liệu, trích dẫn và tài liệu tham khảo trong khóa luận là hoàn toàntrung thực và có nguồn gốc rõ ràng

Hà Nội, Ngày tháng năm

Tác giả

Trần Thu Trang

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Cấu trúc của khóa luận 7

NỘI DUNG 8

Chương 1 PHÂN TÂM HỌC VỚI THUYẾT VÔ THỨC 8

1.1 Phân tâm học và S.Freud 8

1.1.1 Bối cảnh ra đời của phân tâm học 8

1.1.2 S.Freud – cha đẻ của phân tâm học 10

1.2 Phân tâm học như là một lý thuyết về vô thức 11

1.2.1 Những khái niệm và định đề cơ bản 11

2.2.2 Ý nghĩa của vô thức trong khoa học và đời sống 19

1.3 Tobias Wolff với những ám ảnh vô thức 23

Tiểu kết 25

Chương 2 BIỂU HIỆN CỦA VÔ THỨC TRONG CHUYỆN CHÚNG TA BẮT ĐẦU 26

2.1 Vô thức thể hiện qua những giấc mơ xa rời hiện thực 27

2.2 Vô thức thể hiện qua bản năng tính dục 33

2.3 Vô thức thể hiện qua những mặc cảm thân phận - sự nói dối 39

Tiểu kết 50

KẾT LUẬN 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

Trang 6

1 Lý do chọn đề tài

MỞ ĐẦU

1.1 Phân tâm học – chủ nghĩa Freud là một trong những trào lưu có tầm ảnh

hưởng rất rộng lớn đối với nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Xuất hiện vàokhoảng đầu thế kỷ XX, nó đã nhanh chóng trở thành một hiện tượng mang tính thời

sự nóng hổi suốt thế kỷ, là trào lưu gây nhiều tranh cãi vào bậc nhất Điều nàykhông chỉ xuất phát bởi việc “gây dư luận trái chiều” là tình hình chung mà mọitrào lưu khi mới ra đời phải chấp nhận mà còn vì những nội dung mà chủ nghĩaFreud bàn tới là cực kỳ nhạy cảm, không chỉ ở phương Đông mà cả phương Tây.Nhưng không thể phủ nhận rằng, phân tâm học có ảnh hưởng sâu rộng trong nhiềulĩnh vực như: y học, triết học, tâm lý học, xã hội học,… Ảnh hưởng của học thuyếtphân tâm học đối với văn học, nghệ thuật cũng đáng chú ý không kém, trong đótrọng tâm là vấn đề vô thức Sự can thiệp của vô thức vào đời sống ý thức của conngười được thể hiện một cách hệ thống và bài bản nhất Nội dung biểu hiện củaphân tâm học không ngoài các phương diện: vô thức và bản năng tính dục, cấu trúcnhân cách, giấc mơ xa rời hiện thực Qua đó, chúng ta không chỉ nhận ra những nétđộc đáo nội tại trong tác phẩm mà còn có những phát hiện sâu sắc hơn về cảm quannhà văn cũng như độc giả với cả một thời đại văn học Bên cạnh đó, việc tiếp cậnsáng tác của nhà văn hậu hiện đại dưới góc nhìn vô thức của phân tâm học là mộtđiều cần thiết vì nó chính là một sự kiểm nghiệm của lý thuyết này Chúng tôi lựachọn đi theo hướng nghiên cứu còn nhiều mới mẻ này, góp phần xua đi những địnhkiến lâu dài về hướng tiếp cận phân tâm học với văn học Và sau là với mong muốnkhám phá và đánh giá giá trị của tác phẩm văn học từ một góc độ mới

1.2 Tobias Wolff (1945) là một trong những cây bút truyện ngắn xuất sắc

nhất của văn học đương đại Mỹ Ông có đóng góp đáng kể cho nền văn học nướcnhà nói riêng và nền văn học thế giới nói chung trên nhiều thể loại như tiểu thuyết,hồi ký, truyện ngắn,… Song, chỉ riêng với truyện ngắn, Tobias Wolff cũng xứngđáng được coi là bậc thầy bên cạnh những cây bút nổi tiếng cùng thời như:Raymond Carver, Flannery O’Connor, Donald Barthelme,… Sự thành công của ông

Trang 7

đã được ghi nhận bằng nhiều giải thưởng văn chương danh giá Tuy nhiên, với bạnđọc Việt Nam, Tobias Wolff vẫn là một cái tên còn khá lạ lẫm, cùng với các tácphẩm văn chương kiệt xuất của ông vẫn chưa được biết đến rộng rãi Bởi vậy, việctìm hiểu và nghiên cứu đề tài này cũng sẽ góp phần không nhỏ trong việc giới thiệu

và mở mang thêm những hiểu biết về cây bút truyện ngắn xuất sắc này của văn học

Mỹ đương đại tới các bạn đọc Việt Nam

1.3 Chuyện chúng ta bắt đầu (Our Story Begins) là tuyển tập truyện ngắn

mới nhất của Tobias Wolff Cuốn truyện được ra mắt bạn đọc Mỹ vào năm 2008

Và đến cuối năm 2011, cuốn sách này đã chính thức được dịch giả Phan Việt giới

thiệu tại Việt Nam Chuyện chúng ta bắt đầu đã mang đến cho Tobias Wolff giải

thưởng văn học uy tín dành cho tập truyện ngắn hay nhất năm 2008 tại Mỹ Bêncạnh hình thức truyện độc đáo với những mẩu chuyện không xuyên suốt và nhữngkết thúc lại chẳng phải là kết thúc… là một thế giới nghệ thuật đầy thú vị - cái thếgiới đã được mã hóa, được xem như ký hiệu của văn bản khổng lồ Việc tiếp cậnchính là giải mã nó mà chìa khóa phần nào nằm trong sự soi chiếu bằng lý thuyếtphân tâm học cụ thể là vấn đề vô thức Việc nghiên cứu vấn đề vô thức trong

Chuyện chúng ta bắt đầu của Tobias Wolff sẽ không chỉ giúp ngườii đọc có những

hiểu biết sâu sắc hơn về tuyển tập truyện này mà còn nhận diện được những cáchtân cũng như sự kế thừa truyền thống độc đáo của Tobias Wolff Trên cơ sở đó,

hướng nghiên cứu cũng góp phần lý giải vì sao Chuyện chúng ta bắt đầu (Our story

begins) lại đem đến cho nhà văn Tobias Wolff thành công lớn đến vậy

2 Lịch sử vấn đề

Tobias Wolff đã và đang là cây bút truyện ngắn xuất sắc, thu hút sự quan tâmđặc biệt của giới nghiên cứu, đặc biệt là ở Mỹ Tuy nhiên, như đã nói ở trên, tại ViệtNam, nhà văn này và những tác phẩm của ông vẫn chưa được biết đến rộng rãi.Điều này trở thành một trong những khó khăn cho chúng tôi khi tìm hiểu lịch sửvấn đề Mặt khác, hạn chế về điều kiện sưu tầm cũng như vốn ngoại ngữ nên chúngtôi mới chỉ tập hợp được một số tài liệu nhất định Song, những tài liệu ấy chính lànguồn định hướng quý báu giúp chúng tôi triển khai nghiên cứu đề tài này

Trang 8

2.1 Nguồn tài liệu Tiếng Việt

Như đã nói, Tobias Wolff vẫn chưa là một cái tên quen thuộc trong giớinghiên cứu văn học Việt Nam Bởi vậy, nguồn tài liệu tiếng Việt mà chúng tôi sưu

tầm được về Wolff cũng như những gợi mở về vô thức trong tuyển tập Chuyện

chúng ta bắt đầu của ông, cho đến nay, cũng còn rất hạn chế Trước hết, về sáng

tác, có thể thấy rằng, Wolff không chỉ nổi danh ở lĩnh vực truyện ngắn mà ông cònđược biết đến với những cuốn tiểu thuyết và hồi ký Tuy nhiên, số lượng các tácphẩm của ông đã được dịch sang Tiếng Việt hiện nay chưa nhiều Chúng mới chỉ

tập trung ở những truyện ngắn nằm trong tuyển tập Chuyện chúng ta bắt đầu (Our

Story Begins, do dịch giả Phan Việt dịch, Nxb Trẻ, 2011) Tập truyện ngắn nàycũng là nguyền tài liệu chính mà chúng tôi triệt để vận dụng trong suốt quá trìnhnghiên cứu và thực hiện đề tài

Trong Lời giới thiệu của Chuyện chúng ta bắt đầu, Tobias Wolff đã bày tỏ

quan điểm cũng như mong muốn của mình khi sáng tác: “Và khi tôi viết những tiểuthuyết và truyện ngắn của chính mình, tôi mong muốn mang lại cho độc giả niềmvui giống như niềm vui tôi đã có từ văn học, và cũng để mang lại một hình hài nghệthuật cho những suy nghĩ và hiểu biết mà tôi có được từ các kinh nghiệm sống”[16] Từ đây, có thể thấy rằng, vốn hiểu biết và những kinh nghiệm từng trải củaTobias Wolff đã góp phần không nhỏ cho nhà văn xây dựng những tác phẩm củamình Đây cũng chính là một hướng tiếp cận mà chúng tôi sẽ vận dụng trong phầnnội dung của khóa luận Bên cạnh đó, ông còn hé mở cho người đọc những hiểu biết

về các nhân vật được biểu hiện trong các truyện ngắn của ông Trên cơ sở ấy, ngườiđọc với những khả năng tri nhận của riêng mình, sẽ có những cách cắt nghĩa khácnhau về đời sống, về nhân vật, và tự tìm thấy mình trong những con người, nhân vật

ấy Bằng cách này, truyện ngắn của Tobias Wolff có thể đến với độc giả và cuộcsống hậu hiện đại một cách chân thực hơn, gần gũi hơn

Tiêu biểu là trong bài viết với đề mục Tương lai nằm ngoài mọi sự chờ đợi,

Nguyễn Vĩnh Nguyên đã khẳng định sức hấp dẫn của mỗi truyện ngắn trong

Chuyện chúng ta bắt đầu, đồng thời cũng gợi lên trong mỗi người đọc những ý

Trang 9

tưởng sáng tạo riêng: “Khó lòng đọc hết cuốn sách này trong một lúc Vì mỗi truyện

là một dạng thức hư cấu ngắn về một thứ hiện thực hoàn toàn dị biệt Ở đó, ngườiđọc không đóng vai trò tiêu thụ trí tưởng tượng của người sáng tạo, mà chính là kẻ

có thể chủ động mở rất nhiều cánh cửa khác nhau để bước vào trung tâm câuchuyện, làm chủ hư cấu” [12] Trong đó người đọc mới là kẻ làm chủ sự tạo nghĩa,chứ không phải nhà văn Trong khóa luận của mình, chúng tôi cũng đã vận dụng tối

đa tinh thần đó để tạo ra những cách nhìn, cách hiểu khá rộng mở và thú vị cho mỗicâu chuyện của Wolff Ngoài ra, bài viết còn điểm lược một vài thông tin về tiểu sử

và những sáng tác gây tiếng vang trước đó của Tobias Wolff như: Đời của cậu bé

này (This Boy’s Life, 1989), Trong quân đội Phanaoh (In Phanaoh’s Amy, 1994).

Nhưng quan trọng hơn, Nguyễn Vĩnh Nguyên đã đưa ra cho người đọc một triết lýviết truyện ngắn của nhà văn này, trong mối liên hệ từng được bắt gặp ở truyệnngắn của E Hemingway và Raymond Carver, đó là “chủ trương xóa hết mọi dấuviết sắp đặt, trả lại cho những chuyện kể sự tinh khôi và ngẫu nhiên của hiện thực,tôn trong sự dẫn dắt của cái phi lý Hay nói cách khác, ông tiết chế cảm xúc ngườiviết, đồng thời phó mặc câu chuyện cho chính sự vận động của nó, cho trí tưởngtượng của người đọc tùy nghi dẫn dắt” [12] Đây là một nhận định cho thấy nhữngcây bút đi trước, đặc biệt là Hemingway và Raymond Carver đã có một sức ảnhhưởng không nhỏ trong nghệ thuật viết truyện ngắn của Tobias Wolff Dường như,trong mỗi câu chuyện của nhà văn này đều có một “tảng băng trôi”, kích thích trí tò

mò và khát khao chiếm lĩnh từ độc giả Và như thế, tính chất liên văn bản của tậptruyện cũng sẽ được mở rộng ra trên nhiều chiều kích khác nhau, qua những nhìnnhận và khám phá khác nhau của người đọc

Trong những trang đầu của cuốn Chuyện chúng ta bắt đầu, Phan Việt cũng

đã dịch và đưa ra những lời nhận định của một số tạp chí nước ngoài về tuyển tập

này Theo mục điểm sách của Thời báo Los Angeles, Chuyện chúng ta bắt đầu

( Our Story Begins) là “một cuốn sách nên có trên giá sách của mọi người, bêncạnh Hemingway, Salinger, Flannery O’Connor, Raymond Carver, Gabriel Garci

Marquez, William Trevor, và Alice Munro,…” Còn mục điểm sách của tờ Thời

Trang 10

báo New York Times thì lại viết: “Cuốn sách này tập hợp một số truyện ngắn hay

nhất của Tobias Wolff và phản ánh tài năng của ông với thể loại này Trong nhữngcâu chuyện về các cặp vợ chồng, về những đứa trẻ giàu và nghèo, về những ngườilính và những người mẹ…, giọng văn của Wolff luôn chân thực, ông đón nhậnnhững kinh nghiệm của đời sống Mỹ bằng sự thấu suốt và bao dung” [16,6] Bên

cạnh đó, Phạn Việt còn dẫn ra những nhận định của The New York Sun,

Entertainmrnt Weekly, Chicago Sun- Times Nhìn chung, tất cả đều nhằm tập

chung khẳng định giá trị và những thành công của tập truyện ngắn này, đồng thờicũng khẳng định tài năng “Bậc thầy về truyện ngắn” (The New York Sun) của nhàvăn Tobias Wolff

Bài dịch phỏng vấn nhà văn Tobias Wolff do Phan Việt thực hiện đăng trêntrang điện tử www t uo i tre.vn cũng gợi mở nhiều điều thú vị về con người, tư tưởng,

quan niệm sáng tác của nhà văn Tobias Wolff Ông cho rằng, bất cứ một nhà văn trẻnào trong quá trình trưởng thành cũng đều cần có nhu cầu tìm kiếm một người chahay người mẹ nghệ thuật nào đó, và sau đó, cũng như là đối với cha mẹ đẻ củamình, họ tách khỏi cha mẹ nghệ thuật Họ có nhu cầu chịu ảnh hưởng và chối bỏảnh hưởng từ người khác Về nhiều mặt, sự trưởng thành của một nhà văn cũnggiống như sự trưởng thành của một con người, anh ta phải tìm kiếm thần tượng, tìmkiếm chỗ đứng của mình trong thế giới, phải tìm cách để viết, để bày tỏ bản thân,phải tìm ra giọng của chính mình; nó cũng giống như thử quần áo vậy, anh ta sẽnhận ra, có những quần áo mặc vào không hợp với mình, thậm chí làm mình trônghết sức lố bịch, vậy là phải tìm cái hợp với mình” [14] Với quan niệm này, TobiasWolff đã ngầm khẳng định rằng, bất cứ tác phẩm văn học của nhà văn nào cũng đềuđược nảy sinh và phát triển trong cái nôi nghệ thuật của nó, có mối liên hệ, sự ảnhhưởng qua lại với những văn bản sáng tác của những nhà văn khác Song, trên cáinền ấy, chúng sẽ vươn lên thể hiện những ấn tượng riêng, thành công riêng khônglẫn vào đâu mà chỉ người “cha đẻ” tinh thần của chúng mới tạo ra được

2.2 Nguồn tài liệu tiếng anh

Nguồn tài liệu tiếng anh của Tobias Wolff và Our Story Begins (Chuyện

chúng ta bắt đầu) mà chúng tôi sưu tầm được chủ yếu là những bài viết, bài nghiên

Trang 11

cứu, tiểu luận được đăng tải trên những trang web nước ngoài Riêng ở trang

www.nvt i mes.com chúng tôi đã thống kê được đến gần ba mươi bài viết về Wolff và

những tác phẩm của ông Tuy nhiên để phục vụ cho nội dung đề tài Vô thức trong

Chuyện chúng ta bắt đầu của Tobias Wolff, chúng tôi chỉ tập trung quan tâm đến

các bài viết có liên quan hay có tính gợi mở hướng nghiên cứu của khóa luận

Nhìn chung, tất cả những tài liệu chính bằng tiếng Việt và tiếng Anh màchúng tôi thu thập được trên đây đều ít nhiều xoay quanh những vấn đề nổi bật

trong Chuyện chúng ta bắt đầu của Tobias Wolff Tuy nhiên, chưa có bài viết, bài

nghiên cứu nào đề cập (một cách có hệ thống) về tập truyện này trong vấn đề vôthức Mặc dù vậy, với mong muốn được đóng góp một phần nhỏ bé vào công cuộcnghiên cứu Tobias Wolff ở nước nhà, những tài liệu quý giá, được tìm kiếm và chắpnhặt từ nhiều nguồn khác nhau, cả trong nước và ngoài nước ấy sẽ trở thành những

định hướng gợi mở, dẫn đường cho chúng tôi thực hiện đề tài: Vô thức trong

“Chuyện chúng ta bắt đầu” của Tobias Wolff.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực hiện khóa luận, chúng tôi tập trung nghiên cứu đối tượng là tuyển tập

truyện ngắn Chuyện chúng ta bắt đầu (Our Story Begins), Phan Việt dịch (Nhà xuất

bản Trẻ, 2011)

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Khóa luận giới hạn phạm vi nghiên cứu ở vấn đề Vô Thức trong Chuyện

chúng ta bắt đầu của Tobias Wolff, được tập trung vào hai nội dung chính: Phân tâm học với thuyết vô thức và Biểu hiện của vô thức trong “Chuyện chúng ta bắt đầu” (giấc mơ xa rời hiện thực, bản năng tính dục và mặc cảm thân phận).

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

_ Khái quát thuyết vô thức của phân tâm học, vận dụng vào tìm hiểu cấu trúctâm lý và vô thức trong tập truyện ngắn “Chuyện chúng ta bắt đầu” của TobiasWolff Nêu được những điểm cơ bản về dạng thức biểu hiện và bản chất của vôthức, chỉ ra được quan niệm con người của nhà văn thông qua tìm hiểu vô thức nhân

Trang 12

vật nói riêng và thuyết vô thức nói chung.

_ Phân tích những yếu tố độc đáo trong bút pháp thể hiện vô thức của TobiasWolff trên các phương diện: ngôn ngữ (đối thoại và độc thoại), các thủ pháp nghệthuật Qua đó, kết quả của khóa luận hi vọng sẽ ít nhiều góp phần khẳng định têntuổi, những giá trị nghệ thuật cũng như thành công lớn trong sáng tác của TobiasWolff

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp tổng hợp tư liệu

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành

- Phương pháp phân tích tác phẩm và phân tích nhân vật

- Phương pháp thống kê, so sánh

6 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận , Thư mục tài liệu tham khảo, khóa luận đượckết cấu thành 2 chương như sau:

Chương 1: Phân tâm học với thuyết vô thức

Chương 2: Biểu hiện của vô thức trong Chuyện chúng ta bắt đầu

Trang 13

NỘI DUNG Chương 1 PHÂN TÂM HỌC VỚI THUYẾT VÔ THỨC

1.1 Phân tâm học và S.Freud

1.1.1 Bối cảnh ra đời của phân tâm học

Cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX là lúc chủ nghĩa tư bản đi vào giai đoạn đếquốc chủ nghĩa, các mâu thuẫn trong xã hội ngày càng sâu sắc Phương thức sảnxuất tư bản chủ nghĩa chạy theo lợi nhuận tối đa đã đẩy con người vào tình trạng bịtha hóa cùng cực Những tệ nạn xã hội cùng với sự tàn phá khủng khiếp của cuộcchiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918) cùng với nguy cơ nổ ra chiến tranh thếgiới thứ 2 (1939 -1945) đã đẩy con người vào một cuộc khủng hoảng sâu sắc trongđời sống tinh thần Gây ra các căn bệnh tinh thần mà y học truyền thống không thểgiải quyết Thời kỳ đó người ta thường quan niệm, nguồn gốc chủ yếu của các cănbệnh thuộc loại tinh thần là do tổn thương của hệ thần kinh với tư cách là một cơquan phủ tạng như các cơ quan phủ tạng khác gây ra Với loại bệnh này thầy thuốcphải dùng thuốc hay phẫu thuật khi cần thiết với hi vọng chữa trị có hiệu quả Trongtrường hợp này người thầy thuốc dù có coi trọng yếu tố tinh thần đến đâu cũngkhông thể thay thế hoàn toàn thuốc Với hiểu biết thời đó, người ta chưa biết đếnmột loại bệnh có nhiều triệu chứng như bệnh thần kinh mà ngày nay chính thứcđược gọi là những loại bệnh tâm thần Đó là những loại bệnh không phải do nhữngtổn thương của hệ thần kinh với tư cách là một cơ quan phủ tạng là thủ phạm chínhgây ra mà là do những hụt hẫng, những cú sốc về tinh thần gây ra Với loại bệnhnày việc chữa trị theo phương pháp cũ là không có tác dụng hoặc nếu có thì cũngchỉ là tạm thời, không triệt để Thực trạng này nhắc nhở mọi người phải tìm cănnguyên bệnh tâm thần ở phương diện tâm lý, do đó nảy sinh việc nghiên cứu tâm lýhọc biến thái mà hai người thầy của Freud là J.M.Charcot và J.Breuer là nhữngngười nghiên cứu nổi tiếng Đó cũng là bối cảnh cho Freud sáng lập ra phương phápphân tâm học (tức phân tích tâm lý), chú trọng đến phân tích đời sống nội tâm củacon người Từ đó, căn bệnh tâm thần chỉ được chữa trị có hiệu quả và triệt để bằngcác tác động tinh thần, các thủ pháp chữa trị bằng thuốc và phẫu thuật chỉ là sự hỗtrợ khi cần thiết mà thôi

Trang 14

Đặc biệt, phân tâm học ra đời còn chịu ảnh hưởng không nhỏ của bầu khôngkhí ở Viên nơi Freud sống và làm việc vào cuối thế kỷ XIX Châu Âu lúc này thực

tế tồn tại hai xã hội đầy mâu thuẫn và căng thẳng Một mặt, khoa học phát triển đãlàm mất sức mạnh của đạo đức, tôn giáo truyền thống, biến Châu Âu thành xã hội

“duy lý”, thói đạo đức giả trở thành “mốt” của thời đại Kinh tế phát triển nhưngđạo đức, văn hóa thì suy đồi Mặt khác, một xã hội sục sôi những nhu cầu sinh lý cơbản bị thói đạo đức giả và tôn giáo chèn ép đang được xã hội quan tâm với thái độkhác nhau, nó nổi lên như một vấn đề quan trọng trong đời sống tinh thần suốt cảcuộc đời của mỗi người như vấn đề vô thức, vấn đề tính dục và các nhu cầu sinhhọc khác được biểu hiện trong cuộc sống hằng ngày cũng như trong các ấn phẩmkhoa học Trước khi ra đời học thuyết Freud, đã có hàng loạt công trình về bệnh họctính dục, tính dục trẻ em cũng như ảnh hưởng của dồn nén ham muốn tính dục đếnsức khỏe tinh thần và thể chất của con người Freud không phải người đầu tiên nóiđến vấn đề vô thức và tính dục, phần lớn những nội dung này đã được đồng nghiệp

đề cập ở nhiều mức độ khác nhau Chính giới chuyên môn và dư luận xã hội đãchuẩn bị cho việc nhận thức vấn đề này làm tư tưởng của Freud ra đời càng nhậnđược sự hưởng ứng to lớn

Phân tâm học đã tác động lớn đến tư duy thế giới và góp phần “định dạng lạinhiều khía cạnh trong xu thế xã hội, văn hóa và tri thức của thế kỷ 20” [13,48] Nhậnđịnh sức mạnh của học thuyết này, Barry D.Smith và Harold J.Vetter, trong cuốn

Các học thuyết về nhân cách viết: “Xây dựng thuyết phân tâm học, S.Freud đã xây

nên một cây cầu vĩ đại, một sự khải hoàn của kiến trúc trí tuệ, nó bắc qua vực thẳmgiữa triết học và tâm lý học, nối liền tâm trí và thể xác con người và thúc đẩy sự tiến

bộ từ thế kỷ XIX đến thế kỷ XX Những xà cầu đồ sộ của cây cầu do Freud xâythừa đủ hỗ trợ những mặt quan trọng của vô số các ngành học, đủ rộng để cho phépxây dựng vô số những học thuyết “vụn vặt” mà không làm trở ngại đáng kể đến sựphát triển tiến bộ của đường giao thông huyết mạch học thuyết trọng yếu, và đủmạnh để chịu nôit sức đè từ các lời phê bình” [13,108]

Như vậy, thuyết phân tâm học do S.Freud sáng tạo không chỉ có giá trị khámphá vĩ đại, sự ảnh hưởng sâu sắc mà còn là nền móng cho nhiều ngành khoa học trí

Trang 15

tuệ Bên cạnh đó, phân tâm học còn thực sự là “một thuyết khoa học đầu tiên vềhành vi con người, thể hiện cái nhìn tổng quan nhận thức về bản chất con người”,

“giá trị và cũng là thành công vĩ đại của học thuyết nằm trong quan niệm đầy đủ và

ý nghĩa của Freud khi xem con người như là một tạo vật mà cùng lúc vừa thô sơ,vừa phức tạp, vừa bốc đồng, vừa duy lý, ích kỷ và quảng đại, thoái hóa và sáng tạo,con và người” [13,110]

1.1.2 S.Freud – cha đẻ của phân tâm học

S.Freud sinh năm 1856 tại Freiburg (Moravia, nay là Pribor, Cộng hòaCzech) trong một gia đình Do Thái, vốn là bác sĩ trị bệnh tâm thần Nhận thấy sựhạn chế của phương pháp thôi miên trong việc điều trị bệnh thần kinh, Freud đã bỏnhiều công sức nghiên cứu nhằm tìm ra một phương pháp hiệu quả hơn Trong quátrình tìm hiểu và quan sát các bệnh nhân, ông đã tiến hành phân chia bệnh thần kinh

ra làm hai loại: loại thông thường do các rối loạn sinh lí, tổn thương cơ cấu hệ thầnkinh, có thể chữa trị bằng cách châm cứu, dùng thuốc điều trị, bấm huyệt và loạibệnh có nguyên nhân từ tâm lí, thường liên quan đến dục tính Theo ông, thôi miênchỉ có thể chữa cho những bệnh nhân bị tổn thương cơ cấu thần kinh mà ít có tácdụng đối với bệnh nhân bị tâm thần do tâm lí Kết hợp nghiên cứu tâm sinh lí cácbệnh nhân, Freud đã chia ra ba thời kỳ phát triển tâm sinh học của con người là:sinh lí trẻ con (từ lúc mới sinh đến 5 tuổi), thời kì tiềm ẩn và thời kì phát dục (bắtđầu từ tuổi thanh xuân và mở rộng suốt tuổi trưởng thành) Ông cho rằng nhữngbệnh nhân bị nhiễu tâm (bệnh tâm thần do rối loạn nhân cách dẫn đến Bệnh nhânluôn sống trong sự kinh sợ, lo âu, thất vọng, ám ảnh, thúc ép và chứng cuồng loạn)xuất phát từ những gì trải qua ban đầu thuở ấu thơ, phát triển trong một thời giandài và mọc rễ sâu trong nội tâm người bệnh Chủ yếu là do bản năng tính dục mạnh

mẽ bị ám ảnh và ức chế không được giải tỏa Ông đã thay phương pháp thôi miênbằng phương pháp liên tưởng tự do, cho phép bệnh nhân trình bày các ý nghĩ trongtrạng thái thư giãn tỉnh táo và ông thông giải các ẩn ức thời thơ ấu, các giấc mộng

để giúp bệnh nhân nhận biết một cách có ý thức các tình huống bị lãng quên, từ đó

bộc lộ nguyên nhân gây bệnh Danh xưng psychoanalyse ban đầu là do Freud đặt ra

Trang 16

thực chất là để chỉ một hệ thống tâm thần bệnh học cùng cách điều trị để đặc biệtứng xử với bệnh rối loạn nhân cách chứ chưa có ý nghĩa là một thuyết như sự pháttriển về sau.

Như một hệ quả và cũng là sự bù đắp công sức cho S.Freud, quá trình phântích, nghiên cứu tâm lý và chữa trị cho bệnh nhân tâm thần đã giúp ông nhận ra hiệntượng vô thức và tầm quan trọng của nó đói với sự phát triển của nhân cách Ôngtrở thành người đầu tiên đưa vô thức vào làm thành tố trung tâm của nhân cách.Trước kia, người ta tự tin rằng con người có thể dùng ý thức để quyết định hành vi,hoạt động của chính mình Nhưng Freud đã lật ngược vấn đề, xúc phạm lòng tựkiêu của nhân loại bằng cách chỉ ra vai trò quyết định của vô thức đối với hành vi

và tin rằng những xung đột bản năng chịu trách nhiệm tối thượng cho toàn bộnhững hành động Dưới ánh sáng của thuyết vô thức của Freud, con người từ ngỡngàng đến bàng hoàng, giật mình nhìn lại thân phận để rồi chợt nhận ra cái tôikhông phải là chủ nhân của chính ngôi nhà của mình, không phải được tự do hànhđộng mà là bị hành động Sau này cùng với sự nghiên cứu về tính dục, nhân cách,giấc mơ,… Khi được nhiều người ủng hộ Freud đã lập ra học thuyết phân tâm họcvới tính cách là một triết học về tâm lý, nhân cách người, một khoa học nghiên cứu

về vô thức

1.2 Phân tâm học như là một lý thuyết về vô thức

1.2.1 Những khái niệm và định đề cơ bản

Trước Freud, khái niệm vô thức đã được bàn luận khá rộng rãi trong giới tríthức Tuy nhiện chỉ đến những công trình của S.Freud, những vấn đề vô thức mớithực sự trở thành một học thuyết mang tính hệ thống chặt chẽ và có ảnh hưởng sâusắc nhất Đồng thời ông cũng là người đầu tiên hoàn thiện khái niệm vô thức,nghiên cứu tỉ mỉ vai trò của vô thức và đưa nó trở thành nhân tố trung tâm trong cấutrúc tâm lý con người

S.Freud không phải người đầu tiên nhận thức được sự tồn tại của vô thức.Rất nhiều triết gia, nhà tâm lý học trước Freud đã nhận ra sự tồn tại của nó

Thế kỷ 17, La Rochefoucauld nhận định: “Con người tưởng mình tự do hànhđộng trong lúc thật ra mình bị bó buộc phải hành động” [8,29]

Trang 17

Thế kỷ 19, Schaupenhauer nhận định: “Ở mỗi người có ẩn sâu một ý chí mùquáng và xuất phát căn nguyên của sự sống” [8,30]

Và đến Carl G.Carus trong cuốn Tâm thần còn nhấn mạnh hơn sự tồn tại của

vô thức và chức năng giới tính của nó cũng như một số cách vô thức bộc lộ trongcác giấc mơ Theo ông, chìa khóa cho sự hiểu biết về đặc tính của cuộc sống cónhận thức nằm ẩn dưới vô thức

Theo quan điểm Mác xít, vô thức là một trong các yếu tố thuộc kết cấu ýthức khi tiếp cận ý thức theo chiều sâu của nội tâm con người nhằm nhận thức vềchính mình khác với cách tiếp cận với các nhân tố giúp con người nhận thức thếgiới bên ngoài Quan điểm này không phủ nhận sự tồn tại khách quan tất yếu của vôthức nhưng coi vô thức như là một yếu tố thuộc kết cấu ý thức, được điều khiểnchung bởi tổ chức vật chất cao đó là bộ óc của con người Đều có chung nguồn gốc

là thế giới khách quan nhưng vô thức có những đặc điểm, cơ chế riêng không đồngnhất với ý thức Các biểu hiện của vô thức có chức năng “giải tỏa những ức chếtrong hoạt động thần kinh vượt ngưỡng”, “góp phần lặp lại thế cân bằng trong hoạtđộng tinh thần của con người mà không dẫn tới trạng thái ức chế quá mức”[3,176]

Vô thức mặc dù có những biểu hiện rất phong phú, đa dạng, thậm chí là thườngxuyên và cần thiết trong đời sống nhưng nó không thể thay thế ý thức, càng khôngthể đóng vai trò là yếu tố chỉ đạo, quyết định hành vi con người bởi mọi hành vi củacon người đều cần sự điều khiển có tổ chức và chặt chẽ của ý thức Sự xác địnhnguồn gốc “vô thức là gì?” chính là điểm khác biệt về chất trong quan niệm về vôthức của Freud với các nhà Mác xít trước đó Nếu như các nhà Mác xít cho rằngnguồn gốc xã hội trong đó có nguồn gốc tự nhiên là yếu tố không thể thiếu nhưngchưa đủ mà điều kiện tiên quyết cho sự ra đời của ý thức là nguồn gốc xã hội baogồm: lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội Như vậy, tựu trung lại thì ý thứcnói chung và vô thức nói riêng đều xuất phát từ thế giới khách quan, là sự phản ánhthế giới khách quan theo những điều kiện, khả năng và nhu cầu của chủ thể phảnánh là con người thì đến Freud lại cho rằng nguồn gốc của vô thức là do các xungnăng tính dục (libido) sinh ra, vô thức có nguồn gốc hoàn toàn do bản năng sinh họccủa con người quy định

Trang 18

Vào giai đoạn bắt đầu của cuộc nghiên cứu, Freud cho rằng nguồn gốc của

vô thức là do “xung năng tính dục” thúc đẩy và ông quy về một lực lượng duy nhất

là năng lượng tính dục (libido) - xung năng quan trọng nhất trong số những bảnnăng Tuy nhiên theo Freud, libido không phải là nhu cầu tình dục theo tư duy truyềnthống gắn với việc sinh sản và cơ quan sinh dục mà Freud mở rộng khái niệm libido

là những khoái lạc được tạo ra do nhu cầu tính dục được thỏa mãn (khi đói thì được

ăn, khát thì được uống…) Quan niệm này rất gần với quan niệm “dục vọng” trongPhật giáo, khi Đức Phật cho rằng “dục vọng” là những thứ có thể là tiền bạc, danhvọng và cả những thứ tưởng chừng lặt vặt như bát cơm, manh áo khi toàn bộ trí lực

và niềm vui sướng của chúng tập trung vào nó Năng lực libido khiến chúng ta sống,hành động, hưởng thụ, di truyền nòi giống…tổng quát hơn là hoàn chỉnh sự thăngbằng bên trong cơ thể Freud gọi đó là “nguyên tắc khoái lạc” của năng lực tính dục,thúc đẩy ta thỏa mãn thường xuyên nhu cầu của chúng ta nhằm tránh những căngthẳng, đau dớn, luôn luôn đưa tới khoái lạc Tất cả các bản năng làm phát sinh

“nguyên tắc khoái lạc” đó, Freud gọi là “bản năng sống” - là bản năng duy trì sự tồntại sự sống, là động lực cơ bản và duy nhất của vô thức cũng như mọi hoạt động tinhthần khác Nhưng không phải lúc nào “nguyên tắc khoái lạc” cũng được thực hiện;trong điều kiện hoàn cảnh không cho phép, các nhu cầu thỏa mãn ấy phải bị trì hoãnlại cho đến khi tìm đươc một hoàn cảnh thích hợp để đảm bảo không làm ảnh hưởngđến các hoạt động xã hội khác Đó chính là “nguyên tắc thực tại” của “năng lực tínhdục” Các nguyên tắc đan xen lẫn nhau giữ trạng thái ổn định cân bằng cho đời sốngtâm hồn con người Một trong những điều đầu tiên Freud nhận thấy là có một xuhướng thường xuyên muốn kéo dài, muốn kéo dài việc đạt tới cực khoái càng lâucàng tốt như là: các giấc mơ lặp đi lặp lại, trẻ em muốn nghe mãi những câu chuyện

cổ tích mà chúng đã thuộc từ lâu, người già thích kể lại những kỷ niệm trong quákhứ,… Từ đó “nguyên tắc cưỡng bức lặp lại” ra đời, nó là nhu cầu trở về quá khứhay lặp lại những trạng thái đã từng xảy ra là các trạng thái mà ta đạt được khoáicảm Đến khi sự lặp lại đó không còn gây hứng thú như ban đầu nữa thì cũng là lúcFreud rút ra khái niệm “bản năng chết” trên nền tảng của bản năng tự hủy hoại

“Bản năng chết”

Trang 19

được xem như là xung lực tàn phá có ở tất cả mọi người nhằm khôi phục lại trạngthái trước đó Freud cho rằng bản năng sống mạnh mẽ hơn bản năng chết nên nógiúp chúng ta tồn tại chứ không phải là tự phá hủy.

Từ những lý luận của mình S.Freud đã đề xướng mô hình họa đồ của nhâncách làm tiền đề giải thích cho những tư tưởng, quan niệm của ông về vô thức Môhình đầu tiên gồm ba tầng: vô thức, tiềm thức và ý thức Về sau, nhận thấy chưa hợp

lý, Freud đã bổ sung và điều chỉnh lại mô hình cấu tạo nhân cách của mình Vẫn làkết cấu ba tầng nhưng được hình dung bằng các khái niệm khác, trực diện với conngười chứ không chỉ đơn thuần là trạng thái tâm lý: di ngã, bản ngã và siêu ngã

S.Freud hình dung thế giới tinh thần con người giống như một tảng băng.Trong đó ý thức chỉ là phần nhỏ nhô lên khỏi mặt nước còn vô thức chính là phầnlớn chìm sâu khuất trong lòng nước Ý thức bao gồm sự cảm giác, tri giác, tư duy,

sự đánh giá…là hệ thống đối diện với thế giới bên ngoài Nó không ổn định hay nóicách khác là thay đổi từ thời điểm này đến thời điểm khác Trong khi đó, vô thứcchi phối hành vi con người qua những ham muốn bản năng, những ham muốn nàychịu trách nhiệm cho toàn bộ những hành vi quan trọng của con người Giữa ý thức

và vô thức có một miền trung gian là tiền thức Miền này chứa đựng những suy nghĩ, ký ức và hiểu biết của con người về các đối tượng thuộc thế giới bên ngoài và dễdàng trở thành nhận thức khi chúng trở thành trung tâm của sự chú ý Ba bộ phậnnày không hoạt động độc lập mà có sự tương tác, chuyển hóa lẫn nhau trong hoạtđộng tâm lý của con người

Trang 20

Xung động bản năngNguyên lí khoái lạcQuá trình căn bảnHam muốn bản năng Vô thức

Động cơ và nhu cầu

(Sơ đồ cấu trúc nhân cách theo quan niệm của S.FREUD)

S.Freud cho rằng nội dung của vô thức là những xung động bản năng mà lõicủa nó là những ham muốn về tình dục Mà bản năng là “một cấu trúc cực kỳnguyên sơ và không có tổ chức, vô tư, vô luận và bốc đồng” [13,147] Về cơ bản nó

là sự kích thích tâm lý bẩm sinh, đáp ứng cho nguồn kích hoạt vật lý nào đó trong

cơ thể Những kích thích thân xác bắt nguồn từ tình trạng tạm thời hoặc định kỳnào

Trang 21

đó của mô tế bào, được gọi là một nhu cầu, tạo nên động cơ cung cấp lực đẩy chonhân cách và hành vi của con người Bản năng là kho chứa những động cơ, ướcnguyện, ham muốn tạo thành nguyên nhân chính giữ quyền quyết định tốithượng

cho hành động của con

người

Trong con người luôn tồn tại hai loại bản năng có sức mạnh ngang nhau và có

xu hướng chống đối nhau: một lực đẩy thúc đẩy ta hành động, sống và chinh phụccuộc sống; một lực kéo thúc ép chúng ta buông xuôi, tan biến và chết Sự tươngtác mâu thuẫn này dẫn đến tnh chất “lưỡng năng tình cảm” trong cảm xúc conngười

Do đó, cơ chế hoạt động của vô thức liên quan chặt chẽ đến tính dục và đượcđặt trong mối quan hệ với bản ngã và siêu ngã Những bản năng về tnh dục hoạtđộng trên nền tảng nguyên lý khoái lạc, luôn đòi hỏi có sự thỏa mãn ngay lập tứcnhững ham muốn trỗi dậy Từ đó con người thường có những tác động phản ứng

để đáp lại Hoạt động của con người hướng đến đối tượng thỏa mãn ở thế giớibên ngoài dưới sự chi phối của nguyên tắc khoái lạc có tnh chất bốc đồng, thiếusuy xét, vì vậy có thể đặt con người vào những tình huống nguy hiểm S.Freudquan niệm, những xung năng này không hoạt động độc lập mà có sự tương tác vớisiêu ngã và bản ngã Xung động bản năng về tnh dục để được thỏa mãn thì phảichiến đấu với thực tế, với tính hợp lý của bản ngã và tnh luận lý của siêu ngã.Mối quan hệ giữa xung động bản năng (di ngã), siêu ngã và bản ngã đượcminh họa bằng sơ đồ như

Trang 22

hơn thì nó sẽ kéo bản ngã về phía nó và bởi thế con người chỉ hành động theo bảnnăng, hoàn toàn buông thả theo những dục vọng, bị ham muốn chi phối mà khôngthể điều khiển

Trang 23

được bản thân Nhưng trong suốt cuộc đời con người, không phải bản năng haysiêu ngã chiếm ưu thế trọn vẹn, hoàn toàn mà có sự dao động trong những khoảngthời gian nhất định, từng thời điểm cụ thể, từng giai đoạn phát triển tâm sinh lý.Ởmột con người có phẩm chất đạo đức tốt, lối sống lành mạnh cũng không thể tránhkhỏi trong cuộc đời mình những lúc không tự chủ được mà chạy theo những cám

dỗ Đó cũng là do sự chi phối của bản năng nhất thời Trên thực tế thì những tiếntrình của xung đột bản năng bao giờ cũng có khuynh hướng thoát khỏi sự kiềm tỏacủa siêu ngã và ý thức Và những ham muốn không được giải tỏa sẽ bị dồn nén, khikhông được giải thoát thì nó sẽ trở thành nguyên nhân gây bệnh tâm thần MàS.Freud cho rằng có hai con đường cơ bản để giải thoát những ham muốn tnh dục

mà sẽ không vi phạm đạo đức xã hội, đó là: giấc mơ và sự sáng tạo nghệ thuật.Đối với S.Freud vấn đề vô thức trong kết cấu ý thức được nghiên cứu mộtcách có hệ thống Không chỉ thông qua việc xây dựng các “mô hình kiến trúc” cho

sự tồn tại của các yếu tố mà ông còn nghiên cứu về chiều sâu các cơ chế, nguồn gốccủa các yếu tố đó Mối quan hệ giữa vô thức và ý thức được Freud xây dựng và dầndần hoàn thiện theo xu hướng nghiên cứu ngày càng mở rộng và phức tạpcủa thuyết phân tâm học Cho thấy Freud luôn mong muốn hoàn thiện hơn nữa lýthuyết của mình, đó là tnh thần khoa học nghiêm túc của một nhà khoa học chânchính

Thuyết vô thức của Freud sau này cũng được những học trò xuất sắc cũng ôngphát triển nhưng theo những hướng

mới

Trong đó phải kể đến K.Jung (1875 – 1961), người mà S.Freud cho rằng sẽ kếtếp sự nghiệp của ông Nhưng cũng chính những nội dung về vô thức và nguồn gốccủa vô thức mà K.Jung đã đoạn tuyệt với thầy mình để đưa ra một lý thuyếtriêng mà ở đó vai trò của vô thức đã khác hẳn với những gì mà thầy ông đã nghiêncứu Xét về nguồn gốc của vô thức, nếu S.Freud cho rằng “xung lực tnh dục”(libido, tức nguồn năng lượng do tnh dục sinh ra) là xung năng chủ yếu thúc đẩy

vô thức thì K.Jung lại mở rộng hơn nữa khái niệm libido khi cho rằng libido là mộtloại sức sống phổ biến, biểu hiện sự sinh trưởng, sinh sôi và ở các hoạt động khác

Trang 24

nữa chứ không chỉ là tính dục đơn thuần như S.Freud quan niệm Với K.Jung, libidohầu như

Trang 25

mất đi hàm nghĩa tnh dục Cũng từ nguồn gốc này của vô thức, K.Jung bổ sung cho

vô thức của S.Freud (mà K.Jung gọi là “vô thức cá nhân”) thêm một khía cạnh khác

là “vô thức tập thể” Vì K.Jung cho rằng “vô thức cá nhân” của S.Freud tồn tạinhược điểm lớn là đã coi vô thức quá nhỏ hẹp Từ đó “vô thức tập thể là sựphát triển rộng hơn và là nền tảng cho “vô thức cá nhân” “Vô thức cá nhân” lànhững gì bị lãng quên, áp chế và được cảm thụ cá nhân còn “vô thức tập thể” cònbao gồm mọi cơ năng tnh thần mang tnh phổ biến, được bảo lưu bởi sự ditruyền, bao hàm những kinh nghiệm từ quá khứ tích lũy mà thành K.Jung đã cóđóng góp nhất định vào vấn đề vô thức nhưng cũng đồng thời lại làm cường điệuhơn nữa vai trò của vô thức trong kết cấu ý thức khi mở rộng hơn nữa phạm vi của

vô thức so với S.Freud

Cũng là học trò của S.Freud, A.Adler (1870 – 1937) lại tiếp cận vô thức củaS.Freud theo một hướng khác K.Jung Nếu K.Jung phân tch vô thức để tìm ra “vôthức tập thể” thì A.Adler lại đưa ra lý thuyết về “tâm lý học cá nhân” A.Adler đốilập với Freud khi Freud quá nhấn mạnh tnh dục trong vô thức còn A.Adler lại tốithiểu hóa vai trò của tính dục cùng với quan niệm hành vi của con người được xácđịnh trước hết không phải bởi yếu tố sinh học mà bởi yếu tố xã hội Theo đó,A.Adler tập trung vào ý thức chứ không phải là vô thức Ông cho rằng hành vi củacon người được hình thành dựa vào mục đích của chúng ta trong tương lai.Chúng ta hoàn toàn có khả năng tạo lập một cách có ý thức số phận của mình chứkhông phải phụ thuộc vào quá khứ (những uẩn khúc chưa được giải quyết thời thơấu) như Freud quan niệm A.Adler cho rằng động lực thức đẩy sự phát triển củacon người không phải là “tnh dục” như S.Freud quan niệm mà là do “mặc cảm tựt” hay nói cách khác chính là những khuyết điểm cơ thể, thể chất, tâm lý xã hội

Từ những mặc cảm tự t này mỗi chúng ta sẽ tìm ra một phương thức, phươngpháp, hình thức đặc trưng nào đó để “bù lại” những yếu kém thực sự của bảnthân mà ông gọi là mặc cảm tự tôn

Những quan điểm của K.Jung và A.Adler thể hiện sự li khai với quan điểmcủa S.Freud đã cho thấy những cách nhìn khác nhau về vô thức cũng như vai trò

Trang 26

của nó đối với ý thức Quan điểm của A.Adler có phần khả thi hơn khi đã về cao vaitrò

Trang 27

của yếu tố xã hội nhưng cũng như K.Jung, ông không tách khỏi được lý thuyết vềphân tch tâm lý thuần túy mà S.Freud đã xây dựng, về bản chất vẫn là sự côngnhận một cách “vô thức” vai trò của Vô thức trong đời sống tnh thần của của conngười.

2.2.2 Ý nghĩa của vô thức trong khoa học và đời sống

Xét về mặt bản chất, vô thức cũng là một trong các yếu tố thuộc tâm lý conngười giống như ý thức Tuy nhiên qua những nghiên cứu của Freud,vô thức hiệnlên như một yếu tố có các đặc điểm khác biệt cơ bản so với ý thức, thể hiện nhưsau:

Tính nguyên thủy: vô thức là nhân tố cấp thấp nhất, giản đơn nhất, cơ bảnnhất của tâm lý cho dù xét từ hàng loạt sự phát triển của hệ thống nhân loạihay là sự phát dục tâm lý cá nhân, nó đều là điểm xuất phát của tâm lý con người.Cái nó tuân theo là “phép tắc suy nghĩ vốn có” của thời kỳ trẻ thơ và thời kỳnguyên thủy Vì vậy, các phương diện như cấu tạo, cơ chế và công năng của nó đềukhông hoàn bị lắm Trong khi đó ý thức chỉ được thể hiện khi con người bắt đầu cónhững tiếp xúc đầu tên với thế giới bên ngoài và tri giác về thế giới đó, ý thứckhông mang tnh di truyền nguyên thủy

Tính chủ động: chủ yếu thể hiện ở chỗ nó luôn luôn muốn được thực hiện, nókhông nằm yên ở vị trí bị áp chế mà luôn tìm cơ hội để biểu hiện ra trong đời sốnghiện thực Chính vì chịu sự áp chế cực lớn nên nó có sức mạnh trưởng thành vươnlên rất mạnh Tính chủ động và sức sống của nó được quyết định bởi tính nguyênthủy Bất cứ sự vật nào càng nằm ở giai đoạn nguyên thủy càng có sức sống Cũngtheo quan điểm phân tâm học, Freud cho rằng bên cạnh tính chủ động của vô thức

là tnh bị động của ý thức Ý thức chịu sự điều khiẻn, nhào nặn của vô thức Tuynhiên, bản chất ý thức không chịu sự điều khiển của vô thức mà nó mang trongmình tnh chủ động, sáng tạo vô cùng mạnh mẽ Nó được quyết định bởi khả năngtác động vào thế giưới khách quan, khám phá, làm chủ và thay đổi thế giới của conngười

Trang 28

Tính phi logic: vô thức là tâm lý nguyên thủy nhất, do chưa có quan hệ qua lạitoàn diện, thành thực với thế giới vật chất khách quan hoặc đời sống xã hội, chonên nó được định sẵn mang một dấu ấn có tính phi logic Sau khi xuất hiện, nókhông chú ý gì đến tất cả, chỉ tìm cho được tự ngã đề thực hiện, tạo cho con ngườimột ấn

Trang 29

tượng hoàn toàn bất chấp đạo lý, thiếu tnh liên quan nhân quả Điều này rõ ràngtrái ngược với ý thức không chỉ trong quan điểm khách quan khoa học mà chínhFreud cũng công nhận tính chất có tổ chức, logic rất cao của ý thức Ý thức vì thế cónhiệm vụ như một vị “giám đốc” có thẩm quyền quyết định những vấn đề cấp cao.Tính phi ngôn ngữ: phải được học tập mới biết sử dụng “từ”, “khái niệm” củangôn ngữ Do vô thức còn nằm trong trạng thái nguyên thủy hỗn độn, nó khôngthể phân biệt một cách chính xác đối tượng cho nên nó không thể sử dụng “từ” vàngôn ngữ Do không đạt được mức độ sử dụng ngôn ngữ trong quá trình khái quátnên nó chỉ có thể sử dụng các loại hình tượng, ý tượng cụ thể để biểu đạt sự vật.Đối với ý thức, nó biểu hiện nội dung qua “cái vỏ vật chất của tư duy” là ngôn ngữ,con người không thể chuyển tải được những nội dung tư tưởng của mình trongmọi quá trình hiện thực.

Tính phi đạo đức: biểu hiện ở thái độ đối với đời sống xã hội, chính là việc vôthức coi trọng nguyên tắc đạo đức là “bất chấp tất cả" chỉ lấy thực hiện tự ngã củabản thân làm trung tâm Ngược lại, đối với ý thức, nó luôn đảm nhận vai trò điềuchỉnh hành vi của chủ thể theo những chuẩn mực đạo đức tròn xã hội

Các đặc điểm trên không chỉ cho thấy sự khác biệt giữa vô thức với ý thức mà

nó còn cho thấy, để đánh giá đúng vai trò của mỗi yếu tố là không hề đơn giản cho

dù chúng luôn tồn tại thống nhất trong một kết cấu Vấn đề của người nghiên cứu

là tìm thấy được bản chất của mỗi yếu tố để hiểu kết cấu đó một cách khoa học

Sự ra đời của phân tâm học với thuyết vô thức là một cuộc cách mạng trongkhoa học về nhân tnh Qua phân tâm học, nhân loại đã có ý thức về đáy sâu thămthẳm của tâm hồn con người, khám phá và giải mã đời sống tâm linh Phân tâmhọc xuất hiện đã đưa nhân loại thoát khỏi thời kỳ thống trị của chủ nghĩa duy lýtrong triết học

Trước Freud, các nhà triết học phương Tây chủ yếu nghiên cứu nhân cách conngười ở bình diện ý thức và khẳng định ý thức là một sức mạnh to lớn, đời sốngtâm linh cũng là đời sống ý thức Theo họ, ý thức là trung tâm của thế giới và thếgiới trở thành đối tượng của chủ thể suy tư

Trang 30

Trong một thời gian dài, hình ảnh con người với sức mạnh lí tnh, tư cách làmchủ đã trở thành niềm tự hào, là điểm tựa cho con người có thể vượt qua tất cả.Khi chủ nghĩa duy lí còn ngự trị thì con người còn mang ảo tưởng về sức mạnh cảitạo tự nhiên và năng lực nhận thức vô biên của mình Thuyết vô thức của phântâm học ra đời đã nghiềm ngẫm con người với một tầm nhìn mới, nghiên cứu conngười ở phần khó nhận thức, khó cảm thức được Tuy không phải mọi thành phần

tư tưởng đều là chân lý nhưng đã góp phần giúp con người nhìn lại bản thân,nhìn lại đời sống tâm linh của mình với bao điều còn che giấu Luận thuyết này là

sự cảnh tỉnh cho loài người phải chấp nhận thực tế với sự hữu hạn trong nhận thứccủa mình Đồng thời với quan niệm cho rằng con người là những sinh vật vô thức

có phần phi lí và bốc đồng, tính dục của nó là nguyên nhân gây ra những động

cơ, thúc đẩy xung đột, Freud đã làm nhân loại phải sững sờ và sửng sốt khi họ vẫnđinh ninh mình là loại động vật cao cấp, không có tnh dục, bản năng mà biết suytnh, ý thức Một nhà phê bình đã khá hài hước khi nhận xét rằng: “Đối với đờingười thì do sự phổ biến của học thuyết này, Freud đã nổi bật lên như một kẻ phábĩnh vĩ đại nhất trong lịch sử tư tưởng nhân loại Ông đã biến đổi sự giễu cợt vànhững niềm vui nhẹ nhàng của con người thành những hiện tượng dồn nén, bíhiểm và sầu thảm, đã tìm thấy sự hằn thù trong nguồn gốc yêu thương, ác ý tronglòng sự âu yếm, loạn luân trong tình yêu thương giữa cha mẹ và con cái, tội lỗitrong thái độ đai lượng và trạng thái của sự căm uất bị dồn nén của mọi ngườicha như là một thứ được lưu truyền của nhân loại”[13,20]

Phân tâm học với sự phát hiện thế giới vô thức của con người còn góp phầnvạch ra ranh giới giữa tâm lý học hiện đại và tâm lý học cổ điển “Tâm lý học cấutạo của W.Wande chỉ nghiên cứu nội dung tâm lý mà con người ý thức được Tâm

lý học cơ năng của W.James cũng chỉ nghiên cứu sự nảy sinh ý thức trong mốitương tác giữa con người và ngoại giới Mặc dù có những đóng góp khác nhaunhưng những trường phái tâm lí nói trên đều nghiên cứu những hoạt động ý thức

rõ ràng”[10] Còn S.Freud nghiền ngẫm vấn đề với một tầm nhìn hoàn toàn

Trang 31

khác: “Quá trình tâm lý chủ yếu là thuộc về tềm thức, còn như quá trình tâm lýcủa ý

Trang 32

thức chẳng qua chỉ là một động tác bộ phận được tách ra từ toàn bộ tâm linh”[4].Phân tâm học với thuyết vô thức đã đưa ngành tâm lý học sang một bước ngoặtmới có sự chú trọng nghiên cứu phần tiềm thức và vô thức ẩn sâu trong tâm lýngười “Đánh đổ luận thuyết tâm lý khô khan, cầu kỳ của thế kỷ XIX, Freud đãđưa ra phản luận phân tâm chứa đầy rối ren”[13,82].

Phân tâm học cũng gây ảnh hưởng sâu sắc và bền vững đối với các lĩnh vựcnhư: y học, xã hội học, nghệ thuật, khoa học thực nghiệm, ngôn ngữ học,… Giá trị

và tầm quan trọng của học thuyết này còn biểu hiện rõ rệt nhất ở chỗ nó đã chiphối lịch sử tư duy của thế giới, góp phần định dạng lại kiến thức và giá trị của loàingười

Riêng với lĩnh vực văn học nghệ thuật, phân tâm học cùng với thuyết vô thức,trong đó có quan niệm về nhà văn và tác phẩm văn học cũng gây tác động khôngnhỏ đối với lĩnh vực lí luận phê bình và sáng tác văn chương Trào lưu phê bìnhphân tâm học ra đời và rất thịnh hành ở phương Tây những năm đầu thế kỷ 20.Nội dung chủ yếu của khuynh hướng này không ngoài các phương diện: vô thức,bản năng tnh dục, cấu trúc nhân cách và giải thích giấc mơ Mục đích nghiên cứucủa trào lưu này tìm hiểu những biểu hiện vô thức và những ẩn ức tâm lý dồn néncủa nhà văn được thể hiện qua hệ thống biểu tượng trong tác phẩm, cấu trúc tâm

lý nhân vật, tâm lý độc giả Phân tâm học cũng đặt nền tảng cho sự phẫn nộ củahàng loạt tác phẩm khai thác đời sống bản năng, hoạt động tính dục, đời sống tâmlinh, những bí ẩn khó nhận biết của con người Trên văn đàn thế giới, từ nhữngnăm 60, phân tâm học đã hiện diện qua các sáng tác của nhiều nhà văn qua chủ đềtình dục, khai thác những biểu hiện đa dạng, nhiều màu sắc của đời sống bản năng

con người như: Alberto Moravia với La Giocara, Nathalie Sarraute với Kỷ nguyên

ngờ vực, Tony Laine và Daniel Karlin với Kẻ sát nhân đang ở trong buồng,

G.Marquer với Trăm năm cô đơn… Tuy phản ánh đời sống bản năng con người

nhưng các tác phẩm của họ không bị rơi vào dung tục, thô thiển mà vẫn trở nênsâu sắc , ám ảnh và giàu giá trị nhân bản Bởi các nhà văn đã thông qua đời sốngbản năng, tâm linh để lột tả nhiều góc cạnh của đời sống nhục dục con người Biểuhiện cho đến cùng tận những số phận, thân phận bi kịch Đi sâu vào tận những

Trang 33

ngóc nghách, khai phá những niềm sâu thẳm của tâm hồn con người với nhữngniềm vui, nỗi buồn, nỗi đau giấu kín…

Trang 34

1.3 Tobias Wolff với những ám ảnh vô thức

Tobias Wolff sinh ngày 19-6-1945 tại Thành phố Birmingham, bang Alabama,

Mỹ Ông là một nhà văn đương đại nổi tếng và thành công trên nhiều lĩnh vực vănxuôi như tiểu thuyết, hồi ký, truyện ngắn,… Để có được những thành công ấy, sựtừng trải trong thời đại, gia đình và bản thân của nhà văn đã có những ảnh hưởngkhông nhỏ Tuy nhiên, để phục vụ cho vấn đề nghiên cứu của khóa luận, chúng tôichỉ tập trung sự chú ý của mình đến những bất hạnh trong cuộc đời của nhàvăn, nhất là khi ông còn nhỏ

Chính Tobias Wolff đã từng nói: “Tất cả những câu chuyện của tôi là bằngcách này hay cách khác tự truyện” Giấu mình qua những vỏ bọc của các nhân vậttrong từng câu chuyện, đó cũng là một cách nhà văn trốn chạy hiện thực, né tránhbản ngã của chính mình Mỗi câu chuyện là mỗi góc khuất sâu kín, được ngụy trangkín đáo Tuổi thơ cơ cực, bất hạnh đã tạo nên một Tobias Wolff luôn dè chừng, hoàinghi và sợ hãi… Và sáng tạo nghệ thuật chính là cách để Wolff có thể giải phóngtâm hồn, tư tưởng, ít nhiều sống thật với chính con người của mình

Tuổi thơ của Tobias Wolff gắn liền với những lời nói dối, lừa đảo và giả mạo…công việc sớm nhất của ông là viết chi phiếu giả Cuộc hôn nhân giữa bố mẹ Wolffsớm tan vỡ, từ đó đưa đẩy Wolff và Geofrey – người anh trai ruột của ông đếnnhững cuộc sống và số phận khác nhau Geofrey ở với người cha cùng người mẹ

kế tốt bụng trong khi Toby – tên thường gọi ở nhà lúc bé của Wolff lại phảisống chung với mẹ cùng người cha dượng tàn bạo Cũng chính là người đàn ông đã

để lại cho Wolff những ám ảnh luôn thường trực, khắc khoải Mẹ của Wolff đãchọn nhầm một người đàn ông tồi Dù đã cố gắng hết mình nhưng dường như bàchưa bao giờ bảo vệ được Wolff trước người đàn ông nguy hiểm đó Không dễdàng chán nản hay tuyệt vọng, người mẹ trong lòng Wolff luôn phản ứng vớinghịch cảnh một cách mạnh mẽ, bà đã truyền cảm hứng và sự tự tn cho Wolff.Wolff bắt đầu viết truyện khi còn nhỏ Đó là những mẩu truyện có thể làm mẹcủa ông vui sau những giờ làm việc vất vả: “Tôi viết những câu chuyện phiêu lưu,

Trang 35

những truyện ngụ ngôn về loài vật, truyện cổ tích, truyện về những người anhhùng

Trang 36

phải đối mặt với những thử thách lớn Tôi đoán rất nhiều đứa trẻ làm điều này,cho đến lúc chúng lớn lên và tìm ra cách sử dụng thời gian thực tế hơn Tôi thìkhông bao giờ lớn Những truyện ngắn và tiểu thuyết mà tôi đọc vẫn tiếp tục thành– đầu tên như một nguồn vui đơn giản, rồi sau đó như một cách để hiểu về thếgiới và những con người quanh tôi” [16]

Khi xem xét toàn bộ tiểu sử cuộc đời của Tobias Wolf, có những biến cố,những thăng trầm, những thiệt thòi, đau khổ, chúng tôi nhận ra rằng, ông luôn bị

ám ảnh bởi những hành động nói dối Chính Wolff cũng đã từng tự khẳng định vềmình không chút giấu giếm: “Tôi là một kẻ nói dối ngay khi còn là một đứa trẻ Tôivẫn là một kẻ nói dối, thật vậy và tôi không có ý kể những câu chuyện và sẽ trởthành một nhà văn viết truyện Tôi sẽ không bao giờ muốn tạo nên một phiên bảnđen tối về sự thật khi tôi nói với mọi người về một câu chuyện Tôi không biết rằngtôi thực sự có khả năng đó không” [12] Mặt khác khi được hỏi trong một cuộcphỏng vấn là tại sao rất nhiều nhân vật của ông lại nói dối, Tobias Wolff trả lời:

“Thế giới này là không hoàn hảo, có lẽ vậy? Nói dối là để nói không đúng vềđiều đó, do đó, rõ ràng là một bất hạnh với cái được gọi là một sự bất mãn” [12].Tobias Wolff với một tuổi thơ đầy bất hạnh trong sự chia ly của gia đình vàcuộc sống đầy ải với người cha ghẻ tàn bạo Đây chính là những tổn thương vôcùng to lớn trong tnh thần của một đứa trẻ Do đó, Wolff đã thực hiện những câuchuyện với những giấc mơ giữa hiện thực, những bản năng tnh dục và nhữnghành vi dối trá,…để trốn tránh hiện thực và để tếp tục tồn tại, như một cách để tựbảo vệ chính mình, để che giấu những ẩn ức, những đau khổ, những bất hạnh, và

để tìm kiếm một cuộc sống dễ chịu hơn Chính những ẩn ức vô thức trong tuổi thơ

đã qua của Tobias Wolff đã có ảnh hưởng rất lớn đến việc xây dựng nhân vậttrong các sáng tác của ông Dường như, những con người đó với những mẩuchuyện của riêng mình đã ngầm chứa không chỉ những ẩn ức cá nhân của riêngmình mà còn là ẩn ức của chính tác giả Tobias Wolf

Trang 37

Tiểu kết

Phân tâm học với sự phát hiện thế giới vô thức của con người góp phầnvạch ra ranh giới giữa tâm lý học hiện đại và tâm lý học cổ điển Đồng thời cũng gâyảnh hưởng sâu sắc và bền vững đối với các lĩnh vực như: y học, xã hội học, nghệthuật, khoa học thực nghiệm, ngôn ngữ học… Giá trị và tầm quan trọng của họcthuyết này còn biểu hiện rõ rệt nhất ở chỗ nó đã chi phối lịch sử tư duy của thếgiới, góp phần định dạng lại kiến thức và giá trị của loài người Riêng với lĩnh vựcvăn học nghệ thuật, phân tâm học cùng với thuyết vô thức, trong đó có quanniệm về nhà văn và tác phẩm văn học cũng gây tác động không nhỏ đối với tràolưu văn học hậu hiện đại Mục đích nghiên cứu của trào lưu này tìm hiểu nhữngbiểu hiện vô thức và những ẩn ức tâm lý dồn nén của nhà văn được thể hiện qua

hệ thống biểu tượng trong tác phẩm, cấu trúc tâm lý nhân vật, tâm lý độc giả.Nhìn từ góc độ phân tâm học, chúng tôi nhận thấy Tobias Wolff không chỉ phản ánhmột cách chân thưcj và sinh động đời sống hiện thực mà còn có nhiều khám phámang tnh bước ngoặt về đời sống tâm linh và đời sống bản năng Tác giả là mộttrong những cây bút có công khơi dòng chảy vào cõi vô thức mộng mị hồng hoangcủa con người, làm nổi bật tư tưởng sâu sắc khi nhìn nhận về đời sống và conngười đương đại – quan niệm về con người tha hóa, con người cô đơn, lo âu vàcon người lưỡng hóa

Trang 38

Chương 2

BIỂU HIỆN CỦA VÔ THỨC TRONG CHUYỆN CHÚNG TA BẮT ĐẦU

Sáng tạo nghệ thuật, theo Freud là phương tiện giải thoát, là sự thăng hoacủa những ham muốn trong vô thức, những ẩn ức tính dục bị dồn nén của ngườinghệ sĩ:

“Nghệ thuật đạt tới sự hòa giải theo một con đường độc đáo… Bị thúc đẩy bởinhững thèm khát ghê gớm, nghệ sĩ muốn chiếm đoạt được danh vọng, quyềnhành, của cải, vinh quang và tình yêu Nhưng nghệ sĩ không có phương tiện để đạtđược mục têu đó Vì thế nên, cũng như những người không được thỏa mãn khác,nghệ sĩ quay mặt đi, không nhìn thực tế nữa Mà tập trung hết mọi quan tâm, tínhdục của mình vào những ham muốn mà trí tưởng tượng của mình tạo ra” [10].Tác phẩm văn học – sản phẩm của sự thăng hoa – cũng giống như một giấc mơ,nhưng là giấc mơ thỉnh thức, chứa đựng trong đó những ham muốn, những ẩn ứctnh dục của cả nghệ sĩ và nhân vật Ngoài ra vô thức còn lọt qua sự kiểm soát củachủ thể nhận thức, biểu hiện trên thực tế qua các hành vi sai lạc, câu nói lỡ lời, chữviết lỡ tay, sự đãng trí,…

Có thể khẳng định trung tâm điểm trong sự miêu tả con người của TobiasWolf là cõi vô thức Tái hiện vô thức tạo nên bản sắc riêng cho ngòi bút nhà văn.Vấn đề mà khóa luận nghiên cứu đó là nhận diện sự tồn tại của vô thức trong nhânvật của các tác phẩm Bên cạnh đó là phân tch, lý giải và chứng minh được bảnchất của nó, tức là trả lời được câu hỏi: “Vô thức biểu hiện như thế nào?”, “Trongtác phẩm, nhà văn thể hiện phần vô thức nào?”, “Nó nói lên điều gì về đời sống, vềcon người đương đại và về cái nhìn nghệ thuật độc đáo của nhà văn?”… Tìm đượcđáp số cho những câu hỏi này, theo chúng tôi là góp phần giải minh bản chất vôthức trong truyện ngắn Tobias Wolf và đồng thời thấy được lối đi riêng của tác giảtrong làng văn – nơi có nhiều đòi hỏi vô cùng khắt khe về tnh sáng tạo và sự mớimẻ

Song, nghiên cứu về vô thức là một việc làm hoàn toàn không đơn giản Vôthức là cái thuộc về cõi tâm linh mơ hồ, bí ẩn của con người Không thể giải mã

Trang 39

bằng kiểu tư duy duy lí đơn thuần mà cần kết hợp với sự trực giác khoa học Từgóc nhìn của phân tâm học về tâm lý con người nói chung, vô thức nói riêng, kếthợp với vốn

Trang 40

sống, vốn văn hóa và sự trải nghiệm của bản thân; chúng tôi thấy rằng cần phảinhìn vô thức trong sự tổng hợp các mối quan hệ: với bối cảnh văn hóa xã hội

mà con người sống, với diễn biến phát triển, trưởng thành, đổi thay của nhân cách,với sự đối ứng – phản ứng của con người với người khác, với chính mình, với tựnhiên và với tác giả - cha đẻ của nhân vật Đặt vô thức trong mối quan hệ nhiềuchiều, đa cấp độ, người nghiên cứu mới có thể hiểu được nguồn gốc, bản chất củamảng vô thức chìm sâu – cái chi phối, quyết định đến hành vi thực tế của nhân vậttrong toàn bộ đời sống của nó Qua đó, chúng ta không chỉ thấu suốt tâm lý nhânvật, tâm linh con người mà còn bắt nhịp được với những thông điệp mà nhà văn gửigắm

2.1 Vô thức thể hiện qua những giấc mơ xa rời hiện thực

Phân tâm học chưa đưa ra được một định nghĩa đầy đủ về giấc mơ nhưng đãđưa ra được những đặc tnh chung về giấc mơ như sau: thứ nhất, giấc mơ làmột hoạt động tnh thần vô cùng phong phú với nhiều hình thức đa dạng nhằmthỏa mãn những ham muốn nào đó; thứ hai, người ngủ biết rất rõ về giấc mơ củamình nhưng lại không ý thức được (không biết rằng mình biết) Qua nghiên cứu

về giấc mơ, phân tâm học đã rút ra kết luận: đó là biến cố mà người nằm mơbiết rất rõ và đã xảy ra trước đó nhưng đến nay họ lại không hay biết vì bị cấmđoán (do nguyên nhân xã hội) hay không thể được thực hiện (không được thỏamãn) nên bị đẩy vào kí ức và trở thành cái vô thức Động lực hình thành giấc mơchính là cái vô thức đã xuất hiện và bị biến dạng đi trong giấc mơ do bị cấm đoán,điều này làm cho giấc mơ của chúng ta luôn vô cùng khó hiểu và nhiều khi thấy philogic

Trên thực tế, những tến trình của xung đột bản năng bao giờ cũng có khuynhhướng thoát khỏi sự kiềm tỏa của siêu ngã và ý thức, thoát khỏi sự chi phối củanguyên lý duy thực để chi phối đời sống con người Những ham muốn không đượcgiải tỏa sẽ bị dồn nén, nếu không được giải thoát sẽ là nguyên nhân gây bệnh tâmthần S.Freud cho rằng có hai con đường cơ bản để giải thoát những ham muốntnh dục mà không sợ vi phạm đạo đức xã hội là: giấc mơ và sáng tạo nghệ thuật

Ngày đăng: 15/01/2020, 22:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Tuấn Ảnh, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Thị Hoài Thanh (sưu tầm và biên soạn) (2003), Văn học hậu hiện đại thế giới, những vấn đề lý thuyết, Nhà xuất bản Hội nhà văn, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hậu hiện đại thế giới, những vấn đề lý thuyết
Tác giả: Đào Tuấn Ảnh, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Thị Hoài Thanh (sưu tầm và biên soạn)
Nhà XB: Nhà xuất bảnHội nhà văn
Năm: 2003
2. M.Bakhtin (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Phạm Vĩnh Cư dịch, Trường Viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M.Bakhtin
Năm: 1992
3. Bộ Giáo Dục và Đào Tạo (2006), Giáo trình triết học Mác Lê-nin (dùng trong các trường Đại học, Cao đẳng), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình triết học Mác Lê-nin
Tác giả: Bộ Giáo Dục và Đào Tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
4. Trần Thái Đỉnh (2005), Triết học Descartes, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Descartes
Tác giả: Trần Thái Đỉnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn học
Năm: 2005
5. Sigmund Freud (2005), Các bài viết về giấc mơ và giải thích giấc mơ, Ngụy Hữu Tâm (dịch), Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bài viết về giấc mơ và giải thích giấc mơ
Tác giả: Sigmund Freud
Nhà XB: Nhà xuất bản Thế giới
Năm: 2005
7. S.Freud (2010), Tâm lý đám đông và sự phân tích cái Tôi, Nhà xuất bản Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý đám đông và sự phân tích cái Tôi
Tác giả: S.Freud
Nhà XB: Nhà xuất bản Tri thức
Năm: 2010
8. Trần Thanh Hà (2008), Học thuyết S.Freud và sự thể hiện của nó trong Văn Học Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học thuyết S.Freud và sự thể hiện của nó trong Văn HọcViệt Nam
Tác giả: Trần Thanh Hà
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
Năm: 2008
10. Phương Lựu (2005), Lý luận Văn học Hậu hiện đại phương Tây, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận Văn học Hậu hiện đại phương Tây
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: Nhà xuất bảnGiáo dục
Năm: 2005
11. Patricia H.Miler (2003), Các thuyết về tâm lý học phát triển, Vũ Thị Chiến (lược dịch), Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thuyết về tâm lý học phát triển
Tác giả: Patricia H.Miler
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin
Năm: 2003
12. Nguyễn Vĩnh Nguyên, Tương lai nằm ngoài mọi chờ đợi, http://w w w.nxbtr e .c o m.v n Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tương lai nằm ngoài mọi chờ đợi
Nhà XB: nxbtr e .c o m.v n
13. B.D.Smith vàH.J.Vetter (Nguyễn Kim Đân biên dịch) (2005), Các học thuyết về nhân cách, nhà xuất bản Tri Thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các học thuyết vềnhân cách
Tác giả: B.D.Smith vàH.J.Vetter (Nguyễn Kim Đân biên dịch)
Nhà XB: nhà xuất bản Tri Thức
Năm: 2005
14. Phan Việt, Phỏng vấn nhà văn Tobias Wolff, www.t u oitre.v n Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phỏng vấn nhà văn Tobias Wolff
15. Nguyễn Hữu Vui (1994), Lịch sử Triết học, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Triết học
Tác giả: Nguyễn Hữu Vui
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 1994
16. Tobias Wolff (2011), Chuyện chúng ta bắt đầu (Our story begins), Phan Việt dịch, Nhà xuất bản Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyện chúng ta bắt đầu (Our story begins)
Tác giả: Tobias Wolff
Nhà XB: Nhà xuất bản Trẻ
Năm: 2011
18. Ann Begley, No Dimming His Light, ww w .americ a m a g azine.or g Sách, tạp chí
Tiêu đề: No Dimming His Light
19. Michiko Kakutain, Book of The Time, Using Life’s Mundane Clay To Mold a Fantasy of Life, w ww .n y t m es.c om Sách, tạp chí
Tiêu đề: Book of The Time, Using Life’s Mundane Clay To Mold aFantasy of Life
20. Christopher Lehmann-haupt, This Boy’s Life; Through a Dark Boyhood, www. n y t i mes.c o m Sách, tạp chí
Tiêu đề: This Boy’s Life
21. Blake Morrison, The Liberaton of lying, w ww.slate.c o m . 22. Tudith Shulevitz, The Liberation of living, www.slat e .c o m Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Liberaton of lying", w ww.slate.c o m .22. Tudith Shulevitz, "The Liberation of living
6. Sigmund Freud (2006), Ba tiểu luận về thuyết tnh dục, Nguyễn Hạc Đạm Thư (biên dịch), Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội Khác
9. Phạm Minh Lăng (2000), Freud và phân tâm học, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tn, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w