1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Mối liên quan giữa protein niệu với một số chỉ số sinh hóa ở thai phụ tiền sản giật

6 79 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 299,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiền sản giật là bệnh lý có thể ảnh hưởng và tổn thương đến nhiều cơ quan của thai phụ như thận, gan, não. Mục tiêu nghiên cứu là khảo sát mối liên quan giữa protein niệu với phù và một số chỉ số sinh hóa của chức năng gan thận ở thai phụ tiền sản giật.

Trang 1

MỐI LIÊN QUAN GIỮA PROTEIN NIỆU VỚI MỘT SỐ CHỈ SỐ SINH HÓA

Ở THAI PHỤ TIỀN SẢN GIẬT

Lê Lam Hương*

TÓM TẮT

Tiền sản giật là bệnh lý có thể ảnh hưởng và tổn thương đến nhiều cơ quan của thai phụ như thận, gan, não

Mục tiêu nghiên cứu là khảo sát mối liên quan giữa protein niệu với phù và một số chỉ số sinh hóa của chức

năng gan thận ở thai phụ tiền sản giật

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 89 thai phụ tiền sản giật tại

Bệnh viện Trung Ương Huế từ tháng 4/2013 đến tháng 1/2014

Kết quả ghi nhận được Protein niệu>3g/l chiếm 49,4% và phù nhiều chiếm tỷ lệ 80,9% Tăng SGOT chiếm

tỷ lệ 29,2% và tăng SGPT chiếm 25,8% Uré và créatinin tăng chiếm 31,7% và 34,8% Acid uric tăng 34,9%

Có mối liên quan giữa phù với protein niệu OR=4,1; (95 % CI = 1,2 đến 13,6) Tăng SGOT chiếm tỷ lệ 40,9% ở nhóm Protein niệu >3g/l và 17,8% và ở nhóm Protein niệu <3g/l; OR=3,2(95 % CI =1,2- 8,4) Tăng SGPT chiếm tỷ lệ 47,7% ở nhóm Protein niệu >3g/l và 13,3% và ở nhóm Protein niệu <3g/l; OR=5,9(95 % CI=2,0- 16,8) Uré tăng chiếm 47,7% nhóm protein niệu >3g/l và 15,6% và khi Protein niệu <3g/l; OR = 4,9 (95

% CI =1,8- 13,1) Tăng créatinin chiếm tỷ lệ 52,3% ở nhóm Protein niệu >3g/l chiếm 17,8% và ở nhóm Protein niệu <3g/l; OR = 5,0 Tăng Acid uric chiếm 47,7% ở nhóm Protein niệu >3g/l và 20,0% và ở nhóm Protein niệu

<3g/l; có mối liên quan giữa tăng Acid uric máu với Protein niệu với OR = 3,6(95 % CI =1,4- 9,3)

Kết luận: Có mối liên quan giữa nồng độ protein niệu với men gan và Uré, créatinin , acid uric máu ở

những thai phụ tiền sản giật

Từ khóa: Tiền sản giật, phù, chức năng gan, chức năng thận

ABSTRACT

THE RELATIONSHIP BETWEEN PROTEINURIA AND BIOCHEMISTRY INDEX IN PREECLAMPSIA

WOMEN

Le Lam Huong * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 20 - No 5 - 2016: 92 - 97

Preeclampsia is a condition which can impact on several organs in pregnancy women such as liver, kidney, brain This study aim to access the relationship between proteinuria and biochemistry index in preeclampsia pregnancy The cross-sectional research on 89 preeclampsia women at Hue national hospital during the period from 4/2013 to 6/2014

Results: Proteinuria > 3 g/l accounted for 49.4% and severe edema was 80,9% Increasing SGOT was

29,3% and increasing SGPT was 25,85% Increasing ure and creatinin accounted for 31,7% and 34,8% respectively Increasing acid uric accounted for 34,9% There was a relationship between edema and proteinuria

OR = 4,1; (95 % CI = 1,2 đến 13,6) Increasing SGOT in proteinuria > 3 g/l group accounted for 40,9% and

“proteinuria < 3 g/l” group was 13,3%, OR=3,2(95 % CI =1,2- 8,4) Increasing SGPT in “proteinuria > 3 g/l” group accounted for 47,7% and “proteinuria < 3 g/l” group was 15,6%, OR=5,9 (95 % CI =2,0- 16,8) Increasing ure in “proteinuria > 3 g/l” group accounted for 47,7% and “proteinuria < 3 g/l” group was 15,6%, OR = 4,9 (95

% CI =1,8- 13,1) Increasing creatinin in “proteinuria > 3 g/l” group accounted for 52,3% and “proteinuria < 3 g/l” group was 17,8%, OR = 5,0 (95 % CI =1,9- 13,3) Increasing acid uric in “proteinuria > 3 g/l” group

* Bộ môn Phụ Sản – Trường Đại học Y Dược Huế

Tác giả liên lạc: TS Lê Lam Hương ĐT: 0914.025.449 Email: lelamhuong19@yahoo.com

Trang 2

accounted for 47,7% and “proteinuria < 3 g/l” group was 20,0%, OR = 3,6(95 % CI =1,4- 9,3)

Conclusions: there was a relationship between proteinuria and liver enzymes, ure, creatinin, acid uric level

in preeclampsia women

Keywords: preeclampsia, edema, liver function, kidney function

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tiền sản giật xảy ra khoảng 5 - 10 % trong

tổng số thai nghén và sản giật xấp xỉ khoảng 0,2 -

0,5% Riêng ở Thừa Thiên - Huế, tỷ lệ Tiền sản

giật là 8% và sản giật là 0,63% Trước đây người

ta thường gọi bệnh lý này là hội chứng nhiễm

độc thai nghén gồm có 3 triệu chứng: phù, cao

huyết áp và protein niệu Bình thường protein

không có hoặc rất ít trong nước tiểu Protein niệu

trong khi mang thai có thể là một triệu chứng

của nhiễm trùng đường tiết niệu trong thai kỳ

hoặc của bệnh lý về thận có từ trước khi mang

thai hoặc là triệu chứng của tiền sản giật… Xét

nghiệm protein niệu là vô cùng cần thiết đối với

phụ nữ có thai Trong bệnh lý tiền sản giật xét

nghiệm protein niệu giúp phát hiện những sự

thay đổi trong cơ thể liên quan đến sức khỏe, an

toàn của người mẹ và em bé để có thể điều trị

kịp thời(1)

Tiền sản giật là bệnh lý có nhiều biến chứng

nguy hiểm, tỷ lệ mắc bệnh khoảng 5% phụ nữ có

thai Tiền sản giật nặng có thể ảnh hưởng đến

nhiều cơ quan trong cơ thể mẹ như não gan thận

và gây ra các vấn đề nghiêm trọng, thậm chí đe

dọa tính mạng của hai mẹ con Cao huyết áp do

thai là cao huyết áp xuất hiện từ sau tuần lễ thứ

20 của thai kỳ và mất đi sau 6 tuần sau đẻ, có thể

kèm theo hoặc phù hoặc protein niệu hoặc cả

hai, bệnh còn được gọi là tiền sản giật Tiền sản

giật và sản giật có thể gây tổn thương màng

thận, tăng axit uric, xuất huyết làm căng bao gan

gây đau tức vùng thượng vị - nặng hơn là gây vỡ

gan , gây cơn phù phổi, ảnh hưởng đến quá trình

tạo máu, làm thay đổi một số chỉ số sinh hóa

máu, rối loạn chức năng gan thận, rối loạn đông

máu…(2)

Cho đến nay nguyên nhân của tiền sản

giật chưa được xác định rõ, nhiều tác giả đã

nghiên cứu tìm những yếu tố liên quan mục

đích làm giảm nguy cơ mắc bệnh và biến chứng của bệnh Mối liên quan một số yếu tố trong bệnh lý tiền sản giật như: protein niệu, acid uric và creatinin máu đã được nhiều tác giả nghiên cứu báo cáo Nghiên cứu về bệnh

lý tiền sản giật ở các nước, các tác giả cũng đã cho thấy mối liên quan này(3)(4) Tuy nhiên ở Việt Nam nói chung và ở Thừa Thiên – Huế nói riêng chưa có nhiều nghiên cứu về các mối liên quan giữa protein niệu với phù và chỉ số SGOT, SGPT, Uré, créatinie, acid uric máu ở thai phụ tiền sản giật Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát mối liên quan giữa protein niệu với phù và một số chỉ số sinh hóa của chức năng gan thận ở thai phụ tiền sản giật

ĐỐI TƯỢNG PHƯƠNG PHÁP Đối tượng

Gồm 89 sản phụ nhập viện điều trị tại Khoa Phụ Sản- Bệnh viện Trung ương Huế được chẩn đoán tiền sản giật trong thời gian từ tháng 4/2013 đến tháng 1/2014

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Tuổi thai từ 20 tuần đến 41 tuần, được chẩn đoán tiền sản giật với tam chứng cổ điển phù, huyết áp cao, Protein niệu (+) Đồng ý tham gia

nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh gan, thận mạn tính

Phương pháp

Mô tả cắt ngang

Áp dụng công thức tính cỡ mẫu

trong đó n là cỡ mẫu nghiên

cứu, = 1,96, p là tỷ lệ bệnh nhân tiền sản giật 6%, = 0,05 Vậy theo công thức thì cỡ mẫu tối thiểu cho nghiên cứu khoảng 86 bệnh

Trang 3

Các bước tiến hành

Khám toàn thân ghi nhận trình trạng huyết

áp cao, theo WHO với những sản phụ chưa

được biết huyết áp trước đây thì trị số huyết áp

tối đa là ≥ 140 mmHg và trị số huyết áp tối thiểu

≥ 90 mmHg được xem là cao huyết áp

Đối với sản phụ đã được đo huyết áp trước,

nếu trị số tối đa tăng > 30 mmHg và trị số tối

thiểu tăng >15 mmHg so với trước thì cao huyết

áp Đánh giá là phù kín đáo nếu phù ít và phù ở

mắt cá chân Lấy máu và nước tiểu làm ngay các

xét nghiệm chức năng gan, thận, protein niệu khi

bệnh nhân nhập viện cùng lúc với các xét

nghiệm sinh hóa khác

Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu thu thập qua phiếu điều tra được

nhập xử lý, phân tích theo phương pháp thống

kê y học bằng chương trình Medcal version

10.2.0.0

Đạo đức nghiên cứu

Giải thích và được sự đồng ý tham gia

nghiên cứu của người bệnh Kết quả nghiên cứu

phục vụ cho mục đích nghiên cứu

KẾT QUẢ

Đặc điểm lâm sàng

Bảng 1 Một số đặc điểm lâm sàng

Cao huyết áp tối đa

(mmHg)

>160 26 29,2 140-160 63 70,8 Cao huyết áp tối

thiểu (mmHg)

>110 28 31,5 95-110 61 68,5 Protein niệu >3g/l 44 49,4

<3g/l 45 50,6

Kín đáo 17 19,1 Huyết áp tối đa >160 mmHg chiếm tỷ lệ

29,2%, và 70,8% huyết áp nằm trong khoảng

140-160 mmHg Huyết áp tối thiểu >110 mmHg chiếm tỷ lệ 31,5% Protein niệu>3g/l chiếm 49,4%, lượng protein niệu trung bình của các thai phụ bị tiền sản giật 6,5± 0,4g/l và phù nhiều chiếm tỷ lệ 80,9%

Đặc điểm cận lâm sàng

Bảng 2 Một số đặc điểm cận lâm sàng

Bình thường 63 70,8

Bình thường 66 74,2

Bình thường 61 69,3 Créatinin Tăng 31 34,8

Bình thường 58 65,2 Acid Uric Tăng 31 34,9

Bình thường 58 65,1 Tăng SGOT chiếm tỷ lệ 29,2% và tăng SGPT chiếm 25,8% Uré và créatinin tăng chiếm 31,7%

và 34,8% Acid uric tăng 34,9%

Bảng 3 Mối liên quan giữa Protein niệu và phù

Protein niệu Phù

Protein niệu >3g/l Protein niệu <3g/l

Phù nhiều 40 90,9 32 71,1 Phù kín 4 9,1 13 28,9 OR=4,1; (95 % CI = 1,2 đến 13,6)

Phù nhiều ở nhóm Protein niệu >3g/l chiếm 90,9% và ở nhóm Protein niệu <3g/l là 71,1% Phù kín ở nhóm Protein niệu >3g/l chiếm 9,1%,

OR =4,1; (95 % CI = 1,2 đến 13,6)

Tăng SGOT chiếm tỷ lệ 40,9% ở nhóm Protein niệu >3g/l và 17,8% và ở nhóm Protein niệu <3g/l OR=3,2(95 % CI =1,2- 8,4) Tăng SGPT chiếm tỷ lệ 47,7% ở nhóm Protein niệu >3g/l và 13,3% và ở nhóm Protein niệu <3g/l; OR=5,9(95 %

CI =2,0- 16,8)

Bảng 4 Mối liên quan giữa Protein niệu và nồng độ SGOT, SGPT máu

Protein niệu

Men gan

Protein niệu >3g/l Protein niệu <3g/l OR

95 % CI =1,2- 8,4 Bình thường 26 59,1 37 82,2

95 % CI =2,0- 16,8 Bình thường 23 52,3 39 86,7

Trang 4

Bảng 5 Mối liên quan giữa Protein niệu và nồng độ Uré, Créatinin, Acid uric máu

Protein

Chức năng thận

Protein niệu >3g/l Protein niệu <3g/l OR

95 % CI =1,8- 13,1 Bình thường 23 52,3 38 84,4

95 % CI =1,9- 13,3 Bình thường 21 47,7 37 82,2

95 % CI =1,4- 9,3 Bình thường 23 52,3 36 80,0

Tăng Uré chiếm 47,7% ở nhóm Protein niệu

>3g/l và 15,6% và ở nhóm Protein niệu <3g/l; OR

= 4,9 (95 % CI =1,8- 13,1) Tăng créatinin chiếm

52,3% ở nhóm Protein niệu >3g/l chiếm 17,8% và

ở nhóm Protein niệu <3g/l; OR = 5,0(95 % CI

=1,9- 13,3) Tăng Acid uric chiếm 47,7% ở nhóm

Protein niệu >3g/l và 20,0% và ở nhóm Protein

niệu <3g/l; OR = 3,6(95 % CI =1,4- 9,3)

BÀN LUẬN

Trước đây bệnh tiền sản giật thường gọi là

nhiễm độc thai nghén, hội chứng protein niệu,

nhưng ngày nay nhận thấy rằng chính huyết áp

cao đã gây nên các biến chứng trầm trọng cho

mẹ và thai, và cao huyết áp là triệu chứng

thường gặp nhất trong chứng tiền sản giật - sản

giật Nghiên cứu này ghi nhận huyết áp tối đa

>160 mmHg chiếm tỷ lệ 29,2%, và 70,8% huyết

áp nằm trong khoảng 140-160 mmHg Huyết áp

tối thiểu >110 mmHg chiếm 31,5%

Trong nhóm thai phụ tiền sản giật được

nghiên cứu có 50,6% thai phụ có protein

niệu<3g/ và 49,4% Protein niệu>3g/l Lượng

protein niệu trung bình của các thai phụ bị

tiền sản giật 6,5± 0,4g/l Lượng protein niệu tỷ

lệ nghịch với tình trạng sức khoẻ của thai phụ

và thai nhi Nhiều nghiên cứu cho thấy những

thai phụ tiền sản giật đều có protein niệu ở các

mức độ khác nhau Protein niệu là một chỉ số

báo động về khả năng xuất hiện các tai biến

sản khoa và không tốt cho sức khoẻ thai nhi

Haddad và một số tác giả nước ngoài khác đã

theo dõi dọc lượng protein niệu trên thai phụ

bị tiền sản giật với 2 mức protein niệu là <2 g/l

và ≥ 2g/l đã thông báo những thai phụ có

protein niệu nhiều ≥ 2 g/l có nhiều tai biến sản

khoa hơn, thai già tháng nhiều hơn, và có tác hại nhiều đến sức khoẻ thai nhi Coelho nghiên cứu tại San Paolo về tác động của protein niệu Phù có thể ít, nhẹ, kín đáo, khó phát hiện được cũng có khi phù nhiều, phù toàn bộ, mí mắt húp, có khi phù cả phủ tạng, phù phúc mạc gây ứ nước trong các màng bụng, phổi… Các nghiên cứu về protein niệu trong tiền sản giật đều cho kết quả 100% xuất hiện protein niệu với chỉ số từ 300-500mg/24 giờ(5,6)

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tai biến sản khoa cho mẹ và biến chứng cho sức khoẻ của thai nhi tăng dần theo mức độ protein niệu một cách có ý nghĩa thống kê Kết quả nghiên cứu này ghi nhận phù nhiều ở nhóm protein niệu >3g/l chiếm 90,9% và phù kín ở nhóm protein niệu >3g/l chiếm 9,1% OR = 4,0;

95 % CI = 1,2 đến 13,6 Tiền sản giật thường xảy ra với tỷ lệ từ 3-7% ở thai phụ vào khoảng tuần thứ 20 cho đến hết thời kỳ hậu sản Biến chứng của tiền sản giật có thể là hội chứng

giảm tiểu cầu và tăng men gan Tăng men gan

là biểu hiện bất thường sinh hóa đầu tiên ở những bệnh nhân viêm gan do tổn thương tế bào gan Khoảng 5% phụ nữ mang thai có dấu hiệu men gan tăng cao Tăng men gan có thể gây ra một số tổn thương nghiêm trọng Men gan cao phản ánh tình trạng tế bào gan đang

bị tổn thương, gan đang bị viêm Nghiên cứu ghi nhận thấy tăng SGOT chiếm tỷ lệ 29,2% và tăng SGPT chiếm 25,8% Uré và créatinin tăng chiếm 31,7% và 34,8% Acid uric tăng 34,9% Trong đó ở nhóm protein niệu >3g/l tăng SGOT chiếm tỷ lệ 40,9% và 17,8% và ở nhóm

Trang 5

protein niệu <3g/l với OR=3,2 (95 % CI =1,2-

8,4) Tăng SGPT chiếm tỷ lệ 47,7% ở nhóm

Protein >3g/l và 13,3% và ở nhóm Protein niệu

<3g/l; OR=5,9 (95 % CI =2,0- 16,8) Như vậy

qua các kết quả trên, chúng ta nhận thấy có

mối liên quan giữa tăng men gan với protein

niệu trong bệnh lý tiền sản giật-sản giật

Nghiên cứu trên bệnh nhân tiền sản giật -

sản giật tại Bệnh viện TW Huế, Bạch Ngõ nghiên

cứu nhận thấy 61% tăng SGOT và 28,1% tăng

SGPT, có 90% bệnh nhân có tăng Acid uric máu

(3) Các chỉ số sinh hoá máu đều thay đổi như

sau ở bệnh nhân tiền sản giật - sản giật: 5% tăng

uré, 2,7% tăng créatinin, 84% tăng acid uric, 14%

tăng SGOT và 12,7% tăng SGPT(4) Tăng acid uric

so với nghiên cứu của chúng tôi thì cao hơn,

nhưng tăng men gan SGOT, SGPT và uré,

créatinine thì ít cao hơn so với nghiên cứu này

Tăng Uré chiếm 47,7% ở nhóm Protein niệu

>3g/l và 15,6% và ở nhóm Protein niệu <3g/l;

OR = 4,9 (95 % CI =1,8- 13,1) Tăng créatinin

chiếm tỷ lệ 52,3% ở nhóm Protein niệu >3g/l

chiếm 17,8% và ở nhóm Protein niệu <3g/l; OR

= 5,0 (95 % CI =1,9- 13,3) Tăng acid uric chiếm

47,7% ở nhóm Protein niệu >3g/l và 20,0% và ở

nhóm Protein niệu <3g/l; OR = 3,6(95 % CI

=1,4- 9,3)

Nghiên cứu về acid uric như một tác nhân

tiên đoán biến chứng ở mẹ và con ở bệnh nhân

tiền sản giật Nồng độ acid uric huyết thanh có

thể cho thấy mối liên quan đến biến chứng ở mẹ

Có nghiên cứu chỉ ra rằng acid uric có liên quan

những biến chứng ở trẻ (OR 1.5; 95% CI 1,4 to

1,7) Một số nghiên cứu khác ghi nhận đối

với bệnh lý tiền sản giật khi protein niệu cao thì

các chỉ số sinh hóa tăng trên mức bình thường(7,8)

Trên bệnh nhân tiền sản giật nặng và sản giật,

Hồ Thị Phương Thảo nhận thấy nồng độ acid

uric trong máu tăng cao 316 ± 92,6µmol/L so với

bình thường với tỷ lệ là 72,3% Nghiên cứu nhận

thấy có mối liên quan giữa chỉ số protein niệu

với các chỉ số sinh hóa của men gan chức năng

thận trong bệnh lý tiền sản giật-sản giật(9,10)

KẾT LUẬN

Protein niệu>3g/l chiếm 49,4% và phù nhiều chiếm tỷ lệ 80,9% Tăng SGOT chiếm tỷ lệ 29,2%

và tăng SGPT chiếm 25,8% Uré và créatinin tăng chiếm 31,7% và 34,8% Acid uric tăng 34,9%

Có mối liên quan giữa phù với protein niệu Tăng SGOT chiếm tỷ lệ 40,9% ở nhóm protein niệu >3g/l và 17,8% và ở nhóm protein niệu

<3g/l; OR=3,2 (95 % CI =1,2- 8,4) Tăng SGPT chiếm tỷ lệ 47,7% ở nhóm protein niệu >3g/l và 13,3% và ở nhóm Protein niệu <3g/l OR=5,9; (95%

CI =2,0- 16,8)

Tăng uré chiếm 47,7% ở nhóm protein niệu

>3g/l và 15,6% và ở nhóm protein niệu <3g/l;

OR = 4,9 (95 % CI =1,8- 13,1) Tăng créatinin chiếm tỷ lệ 52,3% ở nhóm protein niệu >3g/l chiếm 17,8% và ở nhóm protein niệu <3g/l; OR

= 5,0 (95 % CI =1,9- 13,3) Tăng acid uric chiếm 47,7% ở nhóm protein niệu >3g/l và 20,0% và ở nhóm protein niệu <3g/l; có mối liên quan giữa tăng acid uric máu với protein niệu với

OR = 3,6 (95 % CI =1,4- 9,3)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Gibson P (2010), Hypertension and Pregnancy, Emedicine, pp

1-14

2 Phạm Văn Lình, Cao Ngọc Thành (2007), Tiền sản giật-sản

giật, Sản Phụ khoa, Bộ Y tế, tr 320-333

3 Bạch Ngõ (2001), Nghiên cứu các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng

và điều trị tiền sản giật-sản giật tại Khoa sản Bệnh viện Trung ương Huế, Luận văn Thạc sỹ y học-Trường Đại học Y khoa Huế

4 Phạm Minh Sơn (2008), Nghiên cứu một số chỉ số sinh hoá, huyết học và độ trở kháng động mạch rốn trong bệnh lý tiền sản giật nặng,

Luận văn thạc sỹ y học-Trường Đại học Y khoa Huế

5 Haddad B, Sibai BM (2009), Expectant management in pregnancies with severe pre-eclampsia, Semin Perinatol,33(3):pp 143-51

6 Coelho TM, Martins MG, (2004), Proteinuria in hypertensive

syndrome of pregnancy: maternal and perinatal outcome, Rev Assoc Med Bras 2004 Apr-Jun; 50 (2): pp 207-13

7 Nguyễn Thị Hoa (2008), Xác định chỉ số sinh hoá máu và nước tiểu ở sản phụ mang thai 3 tháng cuối tại Thái Nguyên,

Tạp chí y học Việt Nam, Số 2, tr 281-285

8 Chan P, M Brown, Simpson JM, Davis G (2002), Proteinuria in pre-eclampsia: how much matters?, BJOG , 112(3), pp 280-285

9 Hồ Thị Phương Thảo (2002), “Đánh giá điều trị tiền sản giật nặng - sản giật bằng Magnesium Sulfate và bù dịch tại Khoa Phụ Sản Bệnh viện Trung ương Huế”, Luận văn Thạc sỹ y

học-Trường Đại học Y khoa Huế

Trang 6

10 Thangaratinam S, Coomarasamy A, (2009), "Estimation of

proteinuria as a predictor of complications of pre-eclampsia: a

systematic review", BMC Med pp 7-10

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 01/08/2016

Ngày đăng: 15/01/2020, 22:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w