1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tỉ lệ mang alen HLA-B*58:01 trên bệnh nhân gout dị ứng da do điều trị Allopurinol

5 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tỉ lệ mang alen HLA-B*58:01 trên bệnh nhân gout dị ứng da do điều trị Allopurinol
Tác giả Đỗ Duy Anh, Lê Gia Hoàng Linh, Đỗ Đức Minh, Mai Phương Thảo
Người hướng dẫn TS.BS. Mai Phương Thảo
Trường học Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Y học
Thể loại bài báo
Năm xuất bản 2019
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 338,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xác định tỷ lệ mang alen HLA-B*58:01 trên bệnh nhân gout đang điều trị với allopurinol, và mối liên hệ của alen với tình trạng dị ứng da nặng và dị ứng da nhẹ do thuốc này

Trang 1

TỈ LỆ MANG ALEN HLA-B*58:01 TRÊN BỆNH NHÂN GOUT DỊ ỨNG DA

DO ĐIỀU TRỊ ALLOPURINOL

Đỗ Duy Anh*, Lê Gia Hoàng Linh**, Đỗ Đức Minh**, Mai Phương Thảo***

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Allopurinol đang được sử dụng rộng rãi trong điều trị gout, đồng thời là thuốc hàng đầu gây

dị ứng da nặng với tiên lượng xấu Biến thể gen HLA-B*58:01 được báo cáo có khả năng dự đoán tình trạng này Tuy nhiên độ mạnh của mối liên hệ rất thay đổi, phụ thuộc vào kiểu hình dị ứng và chủng tộc

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ mang alen HLA-B*58:01 trên bệnh nhân gout đang điều trị với allopurinol, và mối

liên hệ của alen với tình trạng dị ứng da nặng và dị ứng da nhẹ do thuốc này

Đối tượng - Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả sử dụng kỹ thuật PCR phân tích alen

HLA-B*58:01 trong mẫu máu ngoại vi của 158 đối tượng, bao gồm 128 người dung nạp, 7 người dị ứng nhẹ và 7 người dị ứng nặng với allopurinol

Kết quả: 100% (7/7) trường hợp dị ứng nặng đều mang alen, trong khi tỷ lệ này ở nhóm dung nạp là

7,0% (9/128), OR 188,68 (95% CI 9,99-3562,05; p < 0,001) Không tìm thấy mối liên hệ của alen này với dị ứng da nhẹ

Kết luận: Nghiên cứu khẳng định mối liên hệ rõ rệt giữa HLA-B*58:01 và dị ứng da nặng do allopurinol

trên người Việt Nam, gợi ý việc tầm soát alen trước khi dùng allopurinol trên bệnh nhân gout sẽ giúp giảm thiểu biến cố dị ứng nặng do thuốc này gây ra

Từ khóa: HLA-B*58:01, allopurinol, gout, dị ứng thuốc, dược di truyền học

ABSTRACT

THE PREVALENCE OF ALLELE HLA-B* 58:01 IN VIETNAMESE GOUT PATIENTS WITH

ALLOPURINOL-INDUCED SKIN REACTIONS

Đo Duy Anh, Le Gia Hoang Linh, Đo Đuc Minh, Mai Phuong Thao

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 23 - No 1- 2019: 80-84

Background: Allopurinol is widely used as an effective treatment in gout and the leading cause of severe

cutaneous adverse drug reactions (SCAR) Recent studies have suggested the potential genetic marker of HLA-B*58:01 for this life-threatening condition However, this association is variable depending on clinical phenotypes and ethnics

Objectives: This study investigated: (1) the prevalence of HLA-B*58:01 carrier in a Vietnamese gout

patients treated with allopurinol, and (2) the relationship between this allele and allopurinol-induced cutaneous adverse drug reactions, both mild and severe phenotypes

Materials and methods: Blood samples of158 gout patients included allopurinol-induced SCAR (n=7),

allopurinol-induced mild cutaneous reactions (n=23) and allopurinol-tolerant patients (n=128) were analyzed using PCR-SSP technique to detect the allele HLA-B*58:01

Results: All SCAR patients (100%) carried the HLA-B58:01 allele, compared to only 7.0% in the tolerant

group, yielding the odds ratio 188.68 (95% CI = 9.99-3562.05; p < 0.001) No association between mild cutaneous

*Bộ môn Sinh Lý-Sinh Lý Bệnh-Miễn Dịch Học, trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch,

** Trung tâm Y Sinh Học Phân Tử, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh;

Trang 2

reactions and HLA-B*58:01 was established

Conclusion: A strong association between HLA-B*58:01 and allopurinol-induced SCAR was observed in

Vietnamese population, indicating that screening for this allele in gout patients who will be treated with allopurinol would be practically helpful in minimizing the risk of SCAR

Keywords: HLA-B*58:01, allopurinol, gout, drug hypersensitivity, pharmacogenomics

ĐẶT VẤN ĐỀ

Gout là dạng viêm khớp phổ biến nhất và

đang có xu hướng gia tăng tại nhiều quốc gia

trên thế giới(12) Allopurinol là thuốc hạ acid uric

máu được sử dụng phổ biến nhất trong điều trị

gout(10), đồng thời cũng là tác nhân hàng đầu gây

dị ứng da nặng, với tỷ lệ tử vong từ 25 đến

30%(3,6,15) Tác giả Hung (2005) đã tìm ra mối liên

hệ chặt chẽ giữa dị ứng da nặng do allopurinol

và alen HLA-B*58:01 trên người Đài Loan(7) Cụ

thể, 100% bệnh nhân dị ứng nặng có mang alen

HLA-B*58:01, trong khi tỷ lệ này ở nhóm dung

nạp chỉ là 15% (OR 580,3)(7) Các khảo sát trên

người Trung Quốc, Hồng Kông, Hàn Quốc và

Thái Lan đều cho kết quả tương tự(1,3,9,18), trong

khi nghiên cứu tại Nhật Bản và châu Âu lại cho

tỷ lệ mang alen thấp hơn và mối liên hệ yếu

hơn(5,13,19) Hội Thấp học Hoa Kỳ (ACR) năm 2012

khuyến cáo thực hiện tầm soát HLA-B*58:01 trên

một số chủng tộc nguy cơ cao gồm người Hán,

Hàn Quốc và Thái Lan(10)

Tại Việt Nam, tác giả Đỗ Thị Quỳnh Nga

(2015) khảo sát 22 trường hợp dị ứng da nặng do

allopurinol và 75 người khỏe mạnh, cho tỷ lệ

mang alen lần lượt là 95,5% và 18,7%(4) Kết quả

này bước đầu gợi ý Việt Nam cũng thuộc nhóm

chủng tộc châu Á nguy cơ cao, và việc tầm soát

gen nhằm dự phòng dị ứng da nặng sẽ có hiệu

quả Tuy nhiên, hiện chưa có nghiên cứu nào tập

trung vào bệnh nhân gout vốn là đối tượng

thường xuyên được kê toa allopurinol, cũng như

chưa có nghiên cứu khảo sát mối liên hệ giữa

HLA*B58:01 và dị ứng da nhẹ trên người Việt

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục tiêu

xác định tỷ lệ mang alen HLA-B*58:01 trên bệnh

nhân gout đang điều trị với allopurinol, và phân

tích mối liên hệ của alen với tình trạng dị ứng da nặng và dị ứng da nhẹ do thuốc này

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu cắt ngang

mô tả có phân tích trên đối tượng mắc bệnh gout được điều trị với allopurinol tại Phòng khám Viện Gút Thành phố Hồ Chí Minh và khoa Bệnh Nhiệt Đới bệnh viện Chợ Rẫy từ 01/10/2017 đến 31/5/2018

Đối tượng

Nghiên cứu chọn vào đối tượng có chẩn đoán gout, có thời gian sử dụng allopurinol với liều hiện tại từ 90 ngày trở lên và không ghi nhận phản ứng da, hoặccó thời gian sử dụng allopurinol với liều hiện tại dưới 90 ngày và có phản ứng da trong khoảng thời gian này Đối tượng bị loại ra khi có ít nhất một trong các tiêu chí sau đây: (1) sử dụng các loại thuốc khác có khả năng cao gây dị ứng, (2) từng có khoảng thời gian sử dụng allopurinol ngắt quãng trước đây, (3) không đồng ý tham gia nghiên cứu Nghiên cứu áp dụng chọn mẫu thuận tiện với cỡ mẫu tối thiểu 150 Các chẩn đoán bệnh lý và thông tin lâm sàng được thu thập dựa trên hồ sơ bệnh án

và sổ khám bệnh của đối tượng

Để phân tích mối liên quan, mẫu nghiên cứu được chia thành 3 nhóm: nhóm“Dung nạp” gồm các đối tượng không có phản ứng dị ứng, nhóm“Dị ứng nhẹ” gồm đối tượng bị dị ứng không kèm triệu chứng toàn thân, nhóm “Dị ứng nặng” gồm các đối tượng được chẩn đoán hội chứng Stevens-Johnson (SJS), hoại tử thượng

bì độc tính (TEN) hoặc hội chứng phát ban da do thuốc kèm tăng bạch cầu ái toan và triệu chứng toàn thân (DRESS)

Trang 3

Xác định gen HLA-B*58:01

Máu tĩnh mạch ngoại biên của đối tượng

được giữa trong ống chống đông EDTA và đem

đến Trung tâm Y Sinh Học Phân Tử, Đại học Y

Dược Tp Hồ Chí Minh trong vòng 12 giờ để

phân tích kiểu gen Nghiên cứu áp dụng kỹ

thuật PCR-SSP sử dụng bộ kit PG5801 của nhà

sản xuất Pharmigene Inc (Đài Bắc, Đài Loan)

nhằm xác định sự có mặt của biến thể 58:01 tại

locus HLA-B nằm trên nhiễm sắc thể số 6 Kết

quả gồm “dương tính” (có ít nhất một trong hai

alen là HLA-B*58:01) hoặc “âm tính” (không có

alen nào là HLA-B*58:01)

Xử lý và phân tích số liệu

Số liệu được xử lý bằng phần mềm Stata®

phiên bản 14.0 (StataCorp Inc., Texas, Hoa Kỳ)

Mối liên hệ được đánh giá bằng cách so sánh tỷ

lệ mang alen của nhóm dị ứng so với nhóm

dung nạp thông qua tỷ số odds (OR) và khoảng

tin cậy 95% (95% CI) OR được hiệu chỉnh

Haldane khi cần thiết nhằm khắc phục trường hợp b hoặc c trong bảng 2×2 có giá trị bằng 0 Sự khác biệt được xem là có ý nghĩa thống kê khi giá trị p hai đuôi < 0,05 Các giá trị tiên đoán âm

và dương được tính toán với tần suất dị ứng nặng do allopurinol trong nhóm tiếp xúc ước tính là 0,02%(2,17)

KẾT QUẢ Đặc điểm của mẫu nghiên cứu

Có 158 đối tượng tham gia nghiên cứu, gồm

128 bệnh nhân thuộc nhóm dung nạp, 23 bệnh nhân thuộc nhóm dị ứng nhẹ và 7 bệnh nhân

thuộc nhóm dị ứng nặng (Hình 1) Toàn bộ đối

tượng đều là người Việt Nam với nam giới chiếm đa số (98,7%) Các đặc điểm về dịch tễ gồm tuổi, giới tính, dân tộc, liều dùng và thời gian tiếp xúc với allopurinol, cũng như một số tình trạng bệnh lý đi kèm được trình bày trong

Bảng 1

Hình 1 Sơ đồ tóm tắt phân nhóm đối tượng trong mẫu nghiên cứu

a 23 đối tượng thuộc nhóm dị ứng nhẹ gồm 16 trường hợp phát ban dạng dát sẩn, 7 trường hợp ngứa da do thuốc;

b 7 đối tượng thuộc nhóm dị ứng nặng gồm 6 trường hợp hội chứng Johnson, 1 trường hợp hội chứng Stevens-Johnson chồng lắp với hoại tử thượng bì độc tính

Bảng 1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu

Đặc điểm Dung nạp (N = 128) Dị ứng nhẹ (N = 23)

Dị ứng nặng (N = 7)

Tuổi (năm), trung bình

(min-max)

46,3 (22 - 74)

43,5 (26 - 64)

49,0 (19 - 76)

Giới tính, nam / nữ 128 / 0 23 / 0 5 / 2

Dân tộc, n (%)

Kinh 128 (100) 22 (95,7) 7 (100)

Dân tộc kháca 0 (0) 1 (4,3) 0 (0)

Liều dùng allopurinol

(mg/ngày), trung vị

(min-max)

300 (150 - 900)

300 (150 - 600)

300 (150 - 600) Thời gian tiếp xúc với

b 260,5 15 18

(N = 128)

Dị ứng nhẹ (N = 23)

Dị ứng nặng (N = 7)

trung vị (min-max)

Bệnh lý đi kèm, n (%)

Tăng huyết áp 21 (16,4) 4 (17,4) 3 (42,9) Rối loạn lipid máu 35 (27,3) 12 (52,2) 5 (71,4) Đái tháo đường 5 (3,9) 1 (4,3) 0 (0) Bệnh mạch vành 2 (1,6) 0 (0) 2 (28,6)

a Có 01 đối tượng dân tộc Khmer thuộc nhóm dị ứng nhẹ; b Theo tiêu chuẩn chọn mẫu của nghiên cứu, đối tượng thuộc nhóm dung nạp sẽ có thời gian tiếp xúc với allopurinol tối thiểu là 90 ngày, đối tượng thuộc hai nhóm dị ứng sẽ có thời gian tiếp xúc với allopurinol

MẪU NGHIÊN CỨU

(N = 158)

DUNG NẠP

(128)

DỊ ỨNG DA

(30)

DỊ ỨNG NHẸ a

(23)

DỊ ỨNG NẶNG b

(7)

Trang 4

không quá 90 ngày

Tỷ lệ mang alen HLA-B*58:01

Trong tổng số 128 đối tượng dung nạp, có 09

đối tượng dương tính với HLA-B*58:01, cho tỷ lệ

mang alen trong nhóm này là 7,0% Trong khi

đó, toàn bộ 07 đối tượng dị ứng nặng đều dương

tính và cho tỷ lệ mang alen là 100% Khi so sánh

với nhóm dung nạp, có mối liên hệ rõ rệt giữa

HLA-B*58:01 và dị ứng da nặng do allopurinol

với OR = 188,68 (95% CI 9,99-3562,05; p < 0,001),

độ nhạy và độ đặc hiệu lần lượt là 100% và

92,97%, giá trị tiên đoán âm và giá trị tiên đoán

dương lần lượt là 100% và 2,77%

Bảng 2 Mối liên hệ giữa kiểu gen HLA-B*58:01 và

các dạng dị ứng da

HLA-B*58:01

p

Nhóm

dung nạp 128 9 7,0 - - -

Dị ứng nhẹ 23 2 8,7 1,26 0,12 - 6,72 0,7773

Dị ứng

nặng 7 7 100 188,68 9,99-3562,05 <0,001

Trong nhóm dị ứng nhẹ, có 02 trường hợp

dương tính trên tổng số 23 đối tượng, cho tỷ lệ

mang alen là 8,7% Khi so sánh với nhóm dung

nạp, không có mối liên hệ giữa HLA-B*58:01 và

dị ứng da nhẹ (OR = 1,26; 95% CI 0,12-6,72; p =

0,7773) (Bảng 2)

BÀN LUẬN

Tại Việt Nam, nghiên cứu của tác giả Đỗ Thị Quỳnh Nga (2015) tại phía Bắc đã chứng minh mối liên hệ rõ rệt giữa HLA-B*58:01 và dị ứng da nặng do allopurinol (OR = 91,5)(4) Nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện tại phía Nam và khẳng định được mối liên hệ này trên người Việt (OR = 188,7) Mối liên hệ tương tự đã được báo cáo trên người Hán, Thái Lan và Hàn Quốc

(Bảng 3), vốn được Hội Thấp học Hoa Kỳ (ACR)

xem là ba nhóm chủng tộc nguy cơ cao(10), và việc tầm soát alen trước khi kê toa được chứng minh có hiệu quả phòng bệnh lẫn hiệu quả chi phí trên lâm sàng(8,11,14,16)

Trên thế giới, các báo cáo về dị ứng da nhẹ

do allopurinol còn rất ít Nghiên cứu của chúng tôi là khảo sát đầu tiên thực hiện tại Việt Nam và cho thấy không có mối liên hệ giữa HLA-B*58:01

và dị ứng da nhẹ do allopurinol Kết quả này tương đồng với báo cáo tại Hàn Quốc, Úc và Bồ Đào Nha, không tương đồng với báo cáo tại Trung Quốc và Thái Lan Sự khác biệt này có thể

do chủng tộc hoặc thể bệnh dị ứng Do đó khác với dị ứng da nặng, HLA-B*58:01 có thể không

đủ đặc hiệu với các dạng dị ứng da nhẹ do

allopurinol (Bảng 2)

Bảng 3 Tỷ lệ mang alen HLA-B*58:01 và mối liên hệ với dị ứng da nặng trong các nghiên cứu tương tự trên

thế giới

Nhóm dị ứng nặng Nhóm dung nạp

Hung (2005)(7) Đài Loan SJS-TEN DRESS 100 14,8 580,3 Tassaneeyakul (2009)(18) Thái Lan SJS-TEN 100 13,0 348,3 Kang (2011)(9) Hàn Quốc SJS-TEN DRESS 92,3 10,5 97,8 Chiu (2012)(3) Hồng Kông SJS-TEN DRESS 100 13,0 229,7

Đỗ Thị Quỳnh Nga (2015)(4) Việt Nam SJS-TEN DRESS 95,4 18,6b 91,5 Chúng tôi (2018) Việt Nam SJS-TEN 100 7,0 188,7

a Các giá trị p < 0,05 b Tỷ lệ mang alen trên người khỏe mạnh

Xét về giá trị chẩn đoán, HLA-B*58:01

trong nghiên cứu của chúng tôi có độ nhạy và

giá trị tiên đoán âm đạt 100%, tức mọi đối

tượng xét nghiệm âm tính đều không xảy ra dị

ứng nặng Tuy nhiên giá trị tiên đoán dương

chỉ đạt 2,77%, tức phần lớn các trường hợp

dương tính cũng không xảy ra dị ứng nặng Một tỷ lệ dương tính trên người không mang bệnh (tức mang alen HLA-B*58:01 nhưng dung nạp với allopuriol) càng thấp sẽ càng gia tăng giá trị của xét nghiệm tầm soát trên nhóm đối tượng đó Điểm đáng lưu ý trong nghiên

Trang 5

cứu của chúng tôi là tỷ lệ mang alen trong

nhóm dung nạp (7,0%) thấp hơn rất nhiều so

với nghiên cứu của tác giả Đỗ Thị Quỳnh Nga

(18,6%) cũng như các chủng tộc Châu Á nguy

cơ cao khác (Bảng 3) Bên cạnh những yếu tố

khách quan về cỡ mẫu và thời điểm lấy mẫu,

thì nguyên nhân có thể do sự khác biệt trong

chính đối tượng nghiên cứu: chúng tôi tập

trung thực hiện trên bệnh nhân gout với nam

giới chiếm đa số Như vậy trên nhóm đối

tượng này, tỷ lệ người không mang alen, tức

xét nghiệm âm tính, lên đến 93% với giá trị

tiên đoán âm gần như tuyệt đối

KẾT LUẬN

Nghiên cứu đã khẳng định mối liên hệ rõ rệt

giữa HLA-B*58:01 và tình trạng dị ứng da nặng

do allopurinol Với những hiểu biết hiện tại,

người Việt Nam rất có khả năng thuộc nhóm

chủng tộc nguy cơ cao Trước khi kê toa

allopurinol, nhà lâm sàng có thể tư vấn cho bệnh

nhân, đặc biệt là nam giới mắc bệnh gout, về xét

nghiệm HLA-B*58:01 và khả năng giảm thiểu

biến cố dị ứng nặng do thuốc này gây ra Nghiên

cứu của chúng tôi có nhược điểm là cỡ mẫu nhỏ

và nam giới chiếm ưu thế Cần có những khảo

sát về HLA-B*58:01 trên quy mô lớn và toàn diện

hơn, cũng như cần đánh giá hiệu quả phòng

bệnh và hiệu quả chi phí của việc tầm soát trước

khi kê toa allopurinol tại Việt Nam

LỜI CẢM ƠN: Chúng tôi xin chân thành cảm ơn GS

Thomas Bardin, Trung tâm Nghiên Cứu Bệnh Gút và Các

Bệnh Mãn Tính, Tp Hồ Chí Minh và tổ chức Viggo ART,

Cộng Hòa Pháp đã hỗ trợ nghiên cứu Chúng tôi cũng xin gửi

lời tri ân sâu sắc đến tất cả bệnh nhân đã tham gia nghiên cứu này

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Cao ZH et al (2012) "HLA-B*58:01 allele is associated with

augmented risk for both mild and severe cutaneous adverse

reactions induced by allopurinol in Han Chinese"

Pharmacogenomics, 13(10):pp.1193-1201

2 Cheng L et al (2015) "HLA-B*58:01 is strongly associated with

allopurinol-induced severe cutaneous adverse reactions in Han

Chinese patients: a multicentre retrospective case-control

clinical study" Br J Dermatol, 173(2):pp.555-558

3 Chiu ML et al (2012) "Association between HLA-B*58:01 allele

and severe cutaneous adverse reactions with allopurinol in Han

Chinese in Hong Kong" Br J Dermatol, 167 (1):pp.44-49

4 Đỗ Thị Quỳnh Nga et al (2015) "Khảo sát liên quan giữa HLA-B*58:01 và nguy cơ mắc các phản ứng dị ứng nặng do điều trị

allopurinol tại bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội" Tạp chí Y học dự

phòng, 25 (8 (168)):pp.396-400

5 Goncalo M et al (2013) "HLA-B*58:01 is a risk factor for allopurinol-induced DRESS and Stevens-Johnson syndrome/toxic epidermal necrolysis in a Portuguese

population" Br J Dermatol, 169(3):pp.660-665

6 Halevy S et al (2008) "Allopurinol is the most common cause of Stevens-Johnson syndrome and toxic epidermal necrolysis in

Europe and Israel" J Am Acad Dermatol, 58(1):pp.25-32

7 Hung SI et al (2005) "HLA-B*5801 allele as a genetic marker for

severe cutaneous adverse reactions caused by allopurinol" Proc

Natl Acad Sci U S A 102(11):pp.4134-4139

8 Jutkowitz E et al (2017) "The cost-effectiveness of HLA-B*5801 screening to guide initial urate-lowering therapy for gout in the

United States".Semin Arthritis Rheum, 46(5):pp.594-600

9 Kang HR et al (2011) "Positive and negative associations of HLA class I alleles with allopurinol-induced SCARs in

Koreans" Pharmacogenet Genomics, 21(5):pp.303-307

10 Khanna D et al (2012) "2012 American College of Rheumatology guidelines for management of gout Part 1: systematic nonpharmacologic and pharmacologic therapeutic

approaches to hyperuricemia" Arthritis Care Res (Hoboken)

64(10):pp.1431-1446

11 Ko TM et al (2015) "Use of HLA-B*58:01 genotyping to prevent allopurinol induced severe cutaneous adverse reactions in

Taiwan: national prospective cohort study" BMJ, 351:pp.h4848

12 Kuo CF et al (2015) "Global epidemiology of gout: prevalence,

incidence and risk factors" Nat Rev Rheumatol 11(11):pp.649-662

13 Lonjou C et al (2008) "A European study of HLA-B in Stevens-Johnson syndrome and toxic epidermal necrolysis related to five

high-risk drugs".Pharmacogenet Genomics 18(2):pp.99-107

14 Park DJ et al (2015) "Cost-effectiveness analysis of HLA-B5801 genotyping in the treatment of gout patients with chronic renal

insufficiency in Korea" Arthritis Care Res (Hoboken),

67(2):pp.280-287

15 Ramasamy SN et al (2013) "Allopurinol hypersensitivity: a

systematic review of all published cases, 1950-2012" Drug Saf,

36(10):pp.953-980

16 Saokaew S et al (2014) "Cost-effectiveness analysis of HLA-B*5801 testing in preventing allopurinol-induced SJS/TEN in

Thai population" PLoS One, 9 (4):pp.e94294

17 Sukasem C et al (2016) "HLA-B (*) 58:01 for Allopurinol-Induced Cutaneous Adverse Drug Reactions: Implication for

Clinical Interpretation in Thailand" Front Pharmacol, 7:pp.186

18 Tassaneeyakul W et al (2009) "Strong association between HLA-B*5801 and allopurinol-induced Stevens-Johnson syndrome and

toxic epidermal necrolysis in a Thai population" Pharmacogenet

Genomics, 19(9):pp.704-709

19 Tohkin M et al (2013) "A whole-genome association study of major determinants for allopurinol-related Stevens-Johnson

syndrome and toxic epidermal necrolysis in Japanese patients"

Pharmacogenomics J, 13(1):pp.60-69

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 10/12/2018 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2019

Ngày đăng: 15/01/2020, 22:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Đặc điểm của mẫu nghiên cứu - Tỉ lệ mang alen HLA-B*58:01 trên bệnh nhân gout dị ứng da do điều trị Allopurinol
Bảng 1. Đặc điểm của mẫu nghiên cứu (Trang 3)
Hình 1. Sơ đồ tóm tắt phân nhóm đối tượng trong mẫu nghiên cứu. - Tỉ lệ mang alen HLA-B*58:01 trên bệnh nhân gout dị ứng da do điều trị Allopurinol
Hình 1. Sơ đồ tóm tắt phân nhóm đối tượng trong mẫu nghiên cứu (Trang 3)
Bảng 3. Tỷ lệ mang alen HLA-B*58:01 và mối liên hệ với dị ứng da nặng trong các nghiên cứu tương tự trên  thế giới - Tỉ lệ mang alen HLA-B*58:01 trên bệnh nhân gout dị ứng da do điều trị Allopurinol
Bảng 3. Tỷ lệ mang alen HLA-B*58:01 và mối liên hệ với dị ứng da nặng trong các nghiên cứu tương tự trên thế giới (Trang 4)
Bảng 2. Mối liên hệ giữa kiểu gen HLA-B*58:01 và - Tỉ lệ mang alen HLA-B*58:01 trên bệnh nhân gout dị ứng da do điều trị Allopurinol
Bảng 2. Mối liên hệ giữa kiểu gen HLA-B*58:01 và (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm