Phương pháp đánh giá tổng thể tình trạng dinh dưỡng theo chủ quan (Subjective Global Assessment - SGA) được ứng dụng rộng rãi trong đánh giá dinh dưỡng ở bệnh nhân bệnh thận mạn (BTM). Mục Tiêu: (1) Ứng dụng bảng kiểm SGA 3 thang điểm và 7 thang điểm trong đánh giá dinh dưỡng ở bệnh nhân BTM chưa điều trị thay thế thận. (2) Phân tích khả năng rút gọn và lược giản bảng kiểm SGA - 3 thang điểm.
Trang 1ỨNG DỤNG BẢNG KIỂM SUBJECTIVE GLOBAL ASSESSMENT (SGA) TRONG THỰC HÀNH LÂM SÀNG ĐÁNH GIÁ DINH DƯỠNG
Ở BỆNH NHÂN BỆNH THẬN MẠN CHƯA ĐIỀU TRỊ THAY THẾ THẬN
Trần Văn Vũ*, Trần Thị Bích Hương**, Đặng Vạn Phước***
TÓM TẮT
Đặt vấn đề & mục tiêu: Phương pháp đánh giá tổng thể tình trạng dinh dưỡng theo chủ quan (Subjective Global Assessment - SGA) được ứng dụng rộng rãi trong đánh giá dinh dưỡng ở bệnh nhân bệnh thận mạn (BTM) Mục Tiêu: (1) Ứng dụng bảng kiểm SGA 3 thang điểm và 7 thang điểm trong đánh giá dinh dưỡng ở bệnh nhân BTM chưa điều trị thay thế thận (2) Phân tích khả năng rút gọn và lược giản bảng kiểm SGA - 3 thang điểm
Đối tượng & phương pháp: Nghiên cứu tiền cứu và mô tả cắt ngang thực hiện tại khoa Thận - bệnh viện
Chợ Rẫy từ năm 2009 đến năm 2011
Kết quả: Trong 467 bệnh nhân BTM chưa điều trị thay thế thận, với 230 nữ (49,3%) và 237 nam (50,7%),
tuổi trung vị 46 tuổi Tỷ lệ SDD xác định bằng SGA_3 thang điểm, SGA_7 thang điểm tương ứng là 36,2% và 42,6% Qua phân tích hệ số tương quan và hệ số hồi quy của từng phần SGA, chúng tôi nhận thấy phần “hoạt động chức năng” và phần “bệnh lý và nhu cầu dinh dưỡng liên quan” không có đóng góp có ý nghĩa trong kết quả đánh giá cuối cùng của SGA_3 thang điểm Chúng tôi lược bỏ 2 phần này để thành 1 phiên bản đánh giá dinh dưỡng mới gọi là SGA rút gọn viết tắt Mini_SGA Áp dụng Mini_SGA đánh giá dinh dưỡng trong nghiên cứu: tỷ lệ SDD là 39,2%
Kết luận: Tỷ lệ SDD xác định bằng SGA_3 thang điểm, SGA_7 thang điểm, Mini - SGA trong dân số
nghiên cứu tương ứng là 36,2%, 42,6% và 39,2% Việc kiểm định ngoài là cần thiết trước khi sử dụng bảng kiểm Mini – SGA ở bệnh nhân BTM chưa điều trị thay thế thận
Từ khóa: suy dinh dưỡng, bệnh thận mạn, SGA _3 thang điểm, SGA _7 thang điểm
ABSTRACT
CLINICAL APPLICATION OF SUBJECTIVE GLOBAL ASSESSMENT (SGA) IN NUTRITIONAL
ASSESSMENT OF NON - DIALYSIS CHRONIC KIDNEY DISEASE PATIENTS
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 4 - 2016: 154 - 161
Introduction & objective: Nutritional assessment is the first steps of strategy for treating malnutrition
AIMS: (1) To apply SGA_3 point scale and 7 point scale in assessing the nutritional status of non-dialysis chronic kidney disease (2) To analyse and simplify the SGA_3 point scale
Patients & methods: This was a cross-sectional study conducted at Nephrology Department of Cho Ray
Hospital from 2009 to 2011
Results: Of the 467 predialysis CKD patients, 230 females (49.3%) and 237 males (50.7%), median age: 46
* Khoa Thận – Bệnh viện Chợ Rẫy, TP Hồ Chí Minh
** Bộ môn Nội – Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh *** Đại học Quốc Gia – TP Hồ Chí Minh
Trang 2The prevalence of malnutrition according to SGA_3 point scale, SGA_7 point scale were 36.2%, 42.6%, respectively Through analyzing the correlation and regression coefficients of each component SGA_3 point scale,
we find that the component such as "functional capacity" and the "disease and its relation to nutritional requirements" had no significant contribution in the final assessment of SGA_3 point scale We removed two components to create a new version, called Mini_SGA We recorded prevalence rate for malnutrition of 39.2% using Mini_SGA
Conclusion: The prevalence of malnutrition according to SGA_3 point scale, SGA_7 point scale, Mini_SGA
in this study population were 36.2%, 42.6%, 39.2%, respectively To establish the applicability of Mini_SGA for assessing malnutrition in non_dialysis chronic kidney disease patients, we suggest the need for more research of large study in this population
Keywords: Malnutrion, CKD (Chronic Kidney Disease), SGA_3 point scale, SGA_7 point scale
ĐẶT VẤN ĐỀ
Suy dinh dưỡng là 1 trong những yếu tố tiên
lượng tử vong ở bệnh nhân BTM trước và sau
điều trị thay thế thận Đánh giá dinh dưỡng ở
mọi bệnh nhân BTM giúp phát hiện SDD và
hướng dẫn điều trị một cách kịp thời, cải thiện
kết quả lâm sàng cho bệnh nhân(2) Tuy có nhiều
biện pháp đánh giá dinh dưỡng ở bệnh nhân
BTM như sinh hóa, đo các chỉ số nhân trắc,
phỏng vấn chế độ ăn, thang điểm SGA nhưng
chưa có biện pháp nào đơn độc được chứng
minh có hiệu quả trong đánh giá toàn diện dinh
dưỡng(11)
SGA (SGA _3 thang điểm) khởi đầu được
Detsky và cộng sự (năm 1987) nghiên cứu đánh
giá dinh dưỡng ở bệnh nhân sau phẫu thuật dạ
dày - ruột và sau đó, SGA được mở rộng cho
Adequacy of Dialysis) năm 1997-2002, SGA của
Detsky (gồm 7 phần đánh giá) đã được cải tiến
thành SGA _7 thang điểm (4 phần đánh giá theo
thang điểm từ 1 – 7) để sử dụng cho bệnh nhân
BTM lọc máu Hầu hết các nghiên cứu và
khuyến cáo của KDOQI 2000, sử dụng SGA _7
thang điểm ở bệnh nhân BTM lọc máu Chúng
tôi chưa tìm thấy phiên bản cải tiến của SGA ở
đối tượng bệnh nhân BTM chưa điều trị thay thế
thận Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này
nhằm mục tiêu: (1) Ứng dụng 2 bảng kiểm SGA
3 thang điểm và 7 thang điểm trong đánh giá
dinh dưỡng ở bệnh nhân BTM chưa điều trị thay thế thận (2) Phân tích từng thành phần đánh giá của 2 bảng kiểm này SGA Qua đó, đề nghị bảng kiểm đánh giá rút gọn (Mini - SGA) nhằm giảm thời gian, giảm biến số và giảm sai số khi thực hiện
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Tiêu chí chọn bệnh
Những bệnh nhân được chẩn đoán BTM ở cả
5 giai đoạn theo phân loại của KDOQI (2002), chưa điều trị thay thế thận và đồng ý tham gia nghiên cứu, tại khoa và phòng khám Nội Thận bệnh viện Chợ Rẫy
Tiêu chí loại trừ
Phù, cổ chướng phát hiện được trên lâm sàng Tiểu đạm 24 giờ > 3g, C reactive Protein huyết thanh (CRP HT) > 10 mg/L, bệnh nhân đang dùng thuốc hoặc mắc bệnh lý ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm Bệnh nhân và gia đình không đồng ý tham gia
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu tiền cứu, mô tả cắt ngang
Thu thập số liệu
Các xét nghiệm sinh hóa được thực hiện tại bệnh viện Chợ Rẫy
Protein niệu 24 giờ
Trang 3Kết quả protein niệu 24 giờ được tính bằng 2
cách: Xét nghiệm tính trực tiếp dựa vào nước
tiểu 24 giờ hoặc dựa vào tỷ lệ protein niệu
(mg/dL)/creatinin nước tiểu (mg/dL) trong xét
nghiệm nước tiểu một thời điểm
Đánh giá phân loại BTM
Theo KDOQI năm 2002, chức năng thận
được đánh giá dựa vào độ thanh lọc créatinine
ước đoán (eClcr) tính bằng công thức Cockcroft
Gault hoặc dựa vào bằng eGFR (theo công thức
MDRD) Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng eClcr tính bằng công thức Cockcroft Gault
có hiệu chỉnh theo 1,73 m2da Phân loại BTM thành 5 giai đoạn với giai đoạn 1 (eClcr ≥ 90 mL/phút/1,73m2da); giai đoạn 2 (eClcr = 60 – 89 mL/phút/1,73m2da); giai đoạn 3 (eClcr = 30 – 59 mL/phút/1,73m2da); giai đoạn 4 (eClcr = 15 – 29 mL/phút/1,73m2da); giai đoạn 5 (eClcr < 15 mL/phút/1,73m2da)
Phương pháp thực hiện và đánh giá tình trạng
dinh dưỡng bằng SGA
Trước khi tiến hành, người thực hiện nghiên cứu được chuyên gia dinh dưỡng của Bệnh viện Chợ Rẫy tập huấn, hướng dẫn cách thức tiến
Trang 4hành theo qui trình chuẩn Người thực hiện trực
nghiên cứu trực tiếp phỏng vấn điều tra và thu
thập số liệu dưới sự giám sát của nhân viên khoa
dinh dưỡng bệnh viện Chợ Rẫy Thực hiện các
việc đánh giá vào buổi sáng sớm ngay khi bệnh
nhân đến khám tại phòng khám Thận hoặc khoa
Thận trong vòng 24 giờ đầu tiên khi bệnh nhân
nhập viện
SGA_3 thang điểm (6)
SGA phân loại dinh dưỡng theo 3 mức độ A,
B và C Xác định SDD khi phân loại SGA ghi
nhận đa số là B hoặc C Để phân tích thống kê,
chúng tôi tiến hành mã hóa phân loại SGA theo
nguyên tắc như sau: A = 1; B = 2; C = 3
SGA_7 thang điểm (11, 12)
Đánh giá gồm 4 phần theo thang điểm từ 1 –
7 và phân loại tình trạng dinh dưỡng theo các
mức độ khi đa số ghi nhận: 1-2 điểm là SDD
nặng; 3 – 5 điểm: SDD nhẹ - trung bình; 6 – 7
điểm: dinh dưỡng bình thường
Xử lý số liệu
Số liệu nghiên cứu được xử lý thống kê bằng
phần mềm SPSS 16.0 Để so sánh giữa hai biến
định lượng không phân phối chuẩn chúng tôi dùng phép kiểm Kruskal Wallis Để so sánh sự khác biệt giữa các biến định tính, chúng tôi dùng phép kiểm chi bình phương và hiệu chỉnh theo kiểm định chính xác Fisher khi vọng trị nhỏ Giá trị p < 0,05 được xem là có ý nghĩa thống kê
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chúng tôi có 467 bệnh nhân BTM chưa điều trị thay thế thận, với 230 BN nữ (49,3%) và 237
BN nam (50,7%), tuổi trung vị và khoảng tứ vị:
46 (32 – 60) Dùng phép kiểm Kolmogorov – Smirnov để khảo sát tính chuẩn của các biến số cho thấy tất cả các biến số đều không có phân phối chuẩn nên các số liệu được trình bày dưới dạng trung vị và khoảng tứ phân vị
Đặc điểm chung của dân số
BN được phân bố đều ở cả 5 giai đoạn BTM (bảng 1) Mọi bệnh nhân đều có protein niệu 24 giờ < 3g và CRP HT < 10 mg/L, thỏa tiêu chí loại trừ SDD không do tình trạng mất protein qua nước tiểu và không do viêm làm giảm tổng hợp protein
Bảng 1: Đặc điểm chung của dân số nghiên cứu
Chung (n = 467) Nam (n = 237) Nữ (n = 230) p
Tuổi (trung vị - khoảng tứ vị) 46 (32 - 60) 47 (32 – 59) 45 (32 - 61) 0,959 Protein niệu 24giờ (g/24 giờ) (trung vị - khoảng tứ vị) 0,25 (0 - 1,3) 0,28 (0 - 1,4) 0,23 (0- 1,2) 0,594
Số trường hợp có protein niệu (n, %) 283 (60,6) 147 (60,0) 136 (59,1)
0,884 < 1g/24 giờ 138 (29,6) 71 (29,9) 67 (29,1)
1g - < 2g/24 giờ 79 (16,9) 40 (16,8) 39 (16,9)
2 g - < 3g/24 giờ 66 (14,1) 36 (15,2) 30 (13,1) CRP huyết thanh (mg/dL) |(trung vị - khoảng tứ vị) 1 (1,0 - 2,7) 1 (1,0 - 3,0) 1 (0,8- 2,2) 0,542 Creatinin huyết thanh (mg/dL) (trung vị - khoảng tứ vị) 1,6 (0,9 - 3,8) 1,7 (1,0 - 4,3) 1,45 (0,8 - 3,4) 0,001 eClcr theo công thức Cockroft Gault
(mL/phút/1,73 m2 da)
40,76 (17,39 - 81,28)
40,18 (18,14 - 80,44)
41,46 (17,20 - 82,11) 0,993
Số trường hợp BTM theo giai đoạn (n, %):
Giai đoạn 1 89 (19,1) 44 (18,5) 45 (19,5)
0,994
Giai đoạn 2 96 (20,6) 49 (20,7) 47 (20,4) Giai đoạn 3 94 (20,1) 49 (20,7) 45 (19,5) Giai đoạn 4 93 (19,9) 46 (19,4) 47 (20,4) Giai đoạn 5 95 (20,3) 49 (20,7) 46 (20,0)
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng
SGA_3 thang điểm và SGA_7 thang điểm
Tỷ lệ SDD đánh giá bằng số điểm SGA
không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa nam và
nữ Tỷ lệ SDD là 36,2% với SGA 3_thang điểm, 42,6% với SGA _7 thang điểm, chủ yếu là SDD nhẹ- trung bình Tỷ lệ SDD đánh giá bằng SGA gia tăng theo giai đoạn của BTM (bảng 2)
Trang 5Bảng 2: Tỷ lệ suy dinh dưỡng theo các bảng kiểm SGA
Tồng số bệnh nhân nghiên cứu (n = 467) SGA_ 3 thang điểm SGA_ 7 thang điểm Mini-SGA
Số trường hợp dinh dưỡng bình thường (n, %) 298 (63,8) 268 (57,4) 284 (60,8)
Số trường hợp SDD (n, %) 169 (36,2) 199 (42,6) 183 (39,2) SDD nhẹ - trung bình (n, %) 161 (34,5) 180 (38,5) 112 (24)
Tỷ lệ SDD theo giai
đoạn của BTM
BTM giai đoạn 1 (n, %) 10 (5,9) 12 (6,0) 12 (6,6) BTM giai đoạn 2 (n, %) 17 (10,1) 25 (12,6) 21 (11,5) BTM giai đoạn 3 (n, %) 26 (15,4) 36 (18,1) 36 (19,7) BTM giai đoạn 4 (n, %) 50 (29,6) 60 (30,2) 52 (28,5) BTM giai đoạn 5 (n, %) 66 (39,1) 66 (33,2) 62 (33,9)
Phân tích và cải tiến SGA (SGA_3 thang điểm) trong đánh giá dinh dưỡng
Giá trị của từng phần đánh giá SGA có sự khác biệt tương ứng với kết quả đánh giá tổng thể (bảng 3)
Bảng 3: Giá trị kết quả đánh giá từng phần SGA dựa theo phân loại đánh giá tổng thể
SGA (Trung vị, khoảng tứ vị) Bình thường SDD nhẹ - trung bình (Trung vị, khoảng tứ vị) SDD nặng (Trung vị, khoảng tứ vị) p
Phân tích vai trò đánh giá của từng phần
SGA so với kết quả SGA tổng thể
Chúng tôi phân tích hệ số tương quan và hệ
số hồi quy của từng phần SGA nhằm tìm ra
những phần không có ảnh hưởng trên kết quả
đánh giá SGA tổng thể
Bảng 4: Phân tích hệ số tương quan và hệ số hồi quy
của từng phần SGA
SGA tương quan Hệ số p hồi quy Hệ số p
SGA phần 1 0,601 < 0,001 5,515 < 0,001
SGA phần 2 0,689 < 0,001 7,128 < 0,001
SGA phần 3 0,661 < 0,001 7,004 < 0,001
SGA phần 4 0,272 < 0,001 23,771 0,998
SGA phần 5 0,115 0,013 10,184 0,082 SGA phần 6 0,543 < 0,001 4,387 < 0,001 SGA phần 7 0,534 < 0,001 5,490 < 0,001
Kết quả SGA phần 4 (hoạt động chức năng)
và SGA phần 5 (bệnh lý và nhu cầu dinh dưỡng liên quan) tương quan kém với kết quả đánh giá tổng thể so với các phần khác Ngoài ra, SGA phần 4 và SGA phần 5 không có đóng góp có ý nghĩa trong kết quả đánh giá cuối cùng của phương pháp SGA Chúng tôi loại bỏ 2 phần đánh giá này để tạo nên phiên bản đánh giá dinh dưỡng mới gọi là SGA rút gọn viết tắt Mini_SGA (bảng 4)
Trang 6Biểu đồ 1: Sự thay đổi độ nhạy và (1– độ đặc hiệu)
ứng với những giá trị khác nhau của Mini_SGA trong
chẩn đoán SDD nhẹ - trung bình
Biểu đồ 2: Sự thay đổi độ nhạy và (1–độ đặc hiệu) ứng
với những giá trị khác nhau của Mini_SGA trong chẩn đoán SDD nặng
Xác định điểm cắt trong chẩn đoán SDD nhẹ - trung bình của Mini_SGA
Vẽ đường cong ROC lấy chuẩn là kết quả đánh giá của SGA_3 thang điểm với chẩn đoán SDD mức độ nhẹ - trung bình, chúng tôi thu được kết quả AUC = 0,98 với khoảng tin cậy 95%: 0,937 – 0,975 Điểm cắt Mini_SGA ≥ 8 mang lại kết quả chẩn đoán SDD mức độ nhẹ - trung bình với độ nhạy là 97%, độ đặc hiệu là 93,6%
Xác định điểm cắt trong chẩn đoán SDD nặng của Mini_SGA
Vẽ đường cong ROC lấy chuẩn là kết quả đánh giá của SGA_3 thang điểm với chẩn đoán SDD mức độ nặng, chúng tôi thu được kết quả AUC = 0,98 với khoảng tin cậy 95%: 0,95 – 0,98 Điểm cắt Mini_SGA ≥ 10 mang lại kết quả chẩn đoán SDD mức độ nặng với độ nhạy 100%, độ đặc hiệu là 86,3%
Tóm lại, Mini_SGA có cấu trúc gồm 5 phần đánh giá: thay đổi cân nặng; thay đổi ăn uống; triệu chứng dạ dày – ruột; mất lớp mỡ dưới da; teo cơ, mỗi phần đánh giá theo 3 mức điểm (1 điểm: dinh dưỡng bình thường; 2 điểm: SDD nhẹ - trung bình; 3 điểm: SDD nặng) Tính điểm bằng cách cộng điểm của 5 phần đánh giá và phân loại như sau: tổng điểm < 8 điểm: dinh dưỡng bình thường; 8 – 9 điểm: SDD nhẹ - trung bình; ≥ 10 điểm: SDD nặng
Trang 7Áp dụng bảng kiểm Mini_SGA đánh giá
dinh dưỡng lên mẫu nghiên cứu
Tỷ lệ SDD đánh giá bằng Mini_SGA không
có sự khác biệt có ý nghĩa giữa nam và nữ
Chúng tôi ghi nhận tỷ lệ SDD là 39,2% và có sự
gia tăng tỷ lệ SDD theo tiến triển của BTM (bảng
2)
BÀN LUẬN
Bàn luận về tỷ lệ suy dinh dưỡng khi dùng
2 bảng kiểm SGA-3 thang điểm và SGA-7
thang điểm ở bệnh nhân BTM
Tỷ lệ SDD ghi nhận được từ nghiên cứu của
chúng tôi là 36,2 % đối với SGA_3 thang điểm và
42,6% đối với SGA_7 thang điểm thấp hơn so với
các nghiên cứu sử dụng 2 bảng này ở bệnh nhân
BTM giai đoạn cuối đang lọc máu hay thẩm
phân phúc mạc định kỳ Tỷ lệ SDD xác định
bằng SGA trong nhiều nghiên cứu dao động từ
47% - 76% cho thấy nguy cơ mắc SDD ở đối
tượng bệnh nhân BTM giai đoạn cuối, BTM đang
lọc máu hay thẩm phân phúc mạc(1, 4, 5, 7, 9, 13)
Chúng tôi nhận thấy, tỷ lệ SDD gia tăng theo giai
đoạn của BTM và cao nhất là nhóm BTM giai
đoạn cuối (BTM giai đoạn 5) chiếm 39,1% đối với
SGA_3 thang điểm và 33,2% đối với SGA_7
thang điểm thấp hơn so với các nghiên cứu nước
ngoài khi sử dụng 2 bảng này ở bệnh nhân BTM
giai đoạn cuối (tỷ lệ SDD xác định bằng SGA dao
động từ 48% - 55%)(4, 5, 13)
Katrina LC(3) so sánh đánh giá SDD của
SGA_3 thang điểm và SGA_7 thang điểm trên
đối tượng bệnh nhân BTM trước lọc máu, cho
thấy hệ thống đánh giá SGA_7 thang điểm phân
đôi tình trạng dinh dưỡng là bình thường (nếu
điểm > 5) và SDD nếu điểm ≤ 5 có thể dẫn đến
sai số là đánh giá quá cao tỷ lệ SDD khi thang
điểm 5 được sử dụng thang điểm 5 của SGA_7
thang điểm có sự chồng chéo giữa phân loại A
và B trong phiên bản SGA_3 thang điểm Theo
phép đo bán định lượng, làm giới hạn độ tin cậy
và tính chính xác khi đánh giá Kết quả chủ yếu dựa trên quan điểm và tính chủ quan của người thực hiện Nghiên cứu của Jones CH(8) thấy sự chồng chéo giữa các điểm đánh giá SGA_7 thang điểm có thể dẫn đến phân loại sai tình trạng
dinh dưỡng
Bàn luận về từng thành phần của bảng kiểm SGA và bảng kiểm lược giản Mini-SGA
Tuy SGA cung cấp cái nhìn tổng thể về tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân Song SGA cũng có nhược điểm là đánh giá chỉ tập trung vào thành phần cơ thể, dinh dưỡng được cung cấp và còn phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm, kỹ năng của người đánh giá Vấn đề là làm sao giảm tính chủ quan của SGA và hạn chế chồng lấp khi đánh giá giữa các phần Chúng tôi nghiên cứu đến việc lược giản các phần đánh giá của SGA và số hóa việc đánh giá Trong bảng kiểm SGA gồm 7 thành phần, phần 4 và phần 5
có hệ số tương quan thấp nhất so với các phần khác và qua phân tích hồi quy tuyến tính, 2 phần này cũng không khác biệt có ý nghĩa thống kê (bảng 4) Điều này cho phép chúng tôi kết luận
có thể lược giản 2 thành phần 4 và 5, mà không ảnh hưởng lên kết quả đánh giá tổng thể của SGA (bảng 4) Bảng kiểm lược giản được gọi là Mini-SGA, gồm 5 phần đánh giá: thay đổi cân nặng; thay đổi ăn uống; triệu chứng dạ dày – ruột; mất lớp mỡ dưới da; teo cơ) Ngoài ra,chúng tôi chuyển đánh giá định tính (A/B/C) sang định lượng bằng cách tính điểm cộng của các phần đánh giá và chọn điểm cắt thích hợp để phân loại SDD Mini_SGA có cách phân loại đơn giản, giúp giảm thời gian và giảm tính chủ quan của người thực hiện trong kết quả đánh giá cuối cùng
Trong thực tế nghiên cứu, khó khăn khi thực hiện SGA_7 thang điểm được Steiber AL ghi nhận: cách phân loại theo 7 thang điểm khá phức tạp, cách đánh giá không có điểm cắt mà xếp loại theo điểm nào xuất hiện nhiều góp phần làm tăng tính chủ quan của người đánh giá vào kết
Trang 8quả phân loại dinh dưỡng(14) Chúng tôi cho rằng
bảng Mini-SGA này sẽ giúp việc đánh giá tình
trạng dinh dưỡng bằng SGA dễ dàng và nhanh
chóng hơn Tuy nhiên, Mini_SGA có hạn chế là
chưa kiểm định trên dân số bên ngoài với mẫu
lớn hơn
KẾT LUẬN
Tỷ lệ SDD xác định bằng SGA_3 thang điểm,
SGA_7 thang điểm, Mini - SGA trong dân số
nghiên cứu tương ứng là 36,2%, 42,6% và 39%
Sử dụng Mini_SGA sẽ giúp giảm thời gian, giảm
sai số so với SGA_3 thang điểm, với độ nhạy và
độ đặc hiệu tương tự trong đánh giá dinh
dưỡng Chúng tôi gợi ý áp dụng bảng kiểm Mini
- SGA trong đánh giá dinh dưỡng cho đối tượng
bệnh nhân BTM chưa điều trị thay thế thận
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Abdu A, Ladeira N et al (2011), “The nutritional status of
continuous ambulatory peritoneal dialysis patients at a
Johannesburg hospital”, S Afr J Clin Nutr, 24(3), pp.150 - 153
2 Blackburn GL, Bistrian BR et al (1977), “Nutritional and
metabolic assessment of the hospitalized patient”, JPEN J
Parenter Enteral Nut, 1(1), pp.11 - 22
3 Campbell KL, Ash S et al (2007), “Evaluation of nutrition
assessment tools compared with body cell mass for the
assessment of malnutrition in chronic kidney disease”, J Ren
Nutr, 17(3), pp 189 - 195
4 Chan M, Kelly J et al (2012), “Malnutrition (subjective global
assessment) scores and serum albumin levels, but not body
mass index values, at initiation of dialysis are independent
predictors of mortality: a 10-year clinical cohort study”, J Ren
Nutr, 22(6), pp 547 - 557
5 Churchill DN, Taylor DW et al (1996), “Adequacy of Dialysis
and Nutrition in Continuous Peritoneal Dialysis: Association
with Clinical Outcomes”, J Am Soc Nephrol, 7, pp 198 - 207
6 Detsky AS, mclaughlin JR, Baker JP, Johnston N, Whittaker S, Mendelson RA, Jeejeebhoy KN (1987), “What is subjective
global assessment of nutritional status”, Journal of Parenteral and Enteral Nutrition, 11(1), pp 8 – 13
7 Jones CH, Newstead CG et al (1997), “Assessment of nutritional status in CAPD patients: serum albumin is not a
useful measure”, Nephrol Dial Transplant, 12(7), pp 1406 -
1413
8 Jones CH, Wolfenden RC et al (2004), “Is subjective global assessment a reliable measure of nutritional status in
hemodialysis?”, J Ren Nutr, 14(1), pp 26 - 30
9 Julien JP, Combe C, Lasseur C (2001), “Subjective global assessment of nutrition a useful diagnostic tool for nurses?”,
EDTNA ERCA J, 27(4), pp 193 - 196
10 K Kalantar-Zadeh, M Kleiner et al (1999), “A modified quantitative subjective global assessment of nutrition for
dialysis patients”, Nephrol Dial Transplant, 14 (7), pp 1732 -
1738
11 National Kidney Foundation Kidney Disease Outcomes Quality Initiative (NKF KDOQI) (2000), “Clinical practice
guidelines for nutrition in chronic renal failure”, Am J Kidney Dis, 35, pp 1- 140
12 Rene´e de Mutsert, Diana C Grootendorst et al (2009),
“Subjective global assessment of nutritional status is strongly
associated with mortality in chronic dialysis patients”, Am J Clin Nutr, 89, pp 787 – 793
13 Shruti Tapiawala, H Vora et al (2006), “Subjective Global
Assessment of Nutritional Status of Patients with Chronic Renal Insufficiency and End Stage Renal Disease on Dialysis”,
JAPI, 54, pp 923 – 926
14 Steiber AL, Kalantar-Zadeh K et al (2004), “Subjective global
assessment in chronic kidney disease: a review”, J Ren Nutr,
14, pp 191 – 200
Ngày phản biện nhận xét bài báo: 23/5/2016