Thay vì tự mình dùng số tiền nhàn rỗi nhỏ nhoi để đầu tư vào thị trường chứng khoán, các nhà đầu tư có thể sử dụng phương thức đầu tư tập thể qua việc góp vốn vào quỹ đầu tư thông qua cá
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Trên thị trường chứng khoán, tồn tại song song với các nhà đầu tư công chúng làcác tổ chức đầu tư gọi là quỹ đầu tư và công ty quản lí quỹ Khi đầu tư dưới dạng tập thể, quyền lợi của các nhà đầu tư công chúng sẽ được bảo vệ, an toàn và hiệu quả hơn Thay vì tự mình dùng số tiền nhàn rỗi nhỏ nhoi để đầu tư vào thị trường chứng khoán, các nhà đầu tư có thể sử dụng phương thức đầu tư tập thể qua việc góp vốn vào quỹ đầu tư thông qua các công ty quản lí quỹ để thu được lợi nhuận cao mà giảm thiểu rủi
ro do thiếu hiểu biết, kinh nghiệm về tình hình thị trường với đề tài thảo luận: tìm hiềuhoạt động của các công ty quản lí quỹ ở Việt Nam hiện nay, nhóm trình bày sẽ cho các bạn cái nhìn cụ thể về hoạt động quản lý quỹ, qua đó thấy được tốc độ tăng trưởng cũng như kết quả kinh doanh của công ty quản lý quỹ trên thị trường chứng khoán ViệtNam, từ đó đưa ra những so sánh, nhận định về cơ hội và thách thức đối với các công
ty quản lí quỹ trên thị trường ck hiện nay
Trong quá trình phân tích, tổng hợp thông tin, số liệu để hoàn thành bài thảo luận, không thể tránh khỏi những sai sót, rất mong cô giáo và các bạn thông cảm và góp ý cho bài thảo luận được hoàn chỉnh hơn nữa
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 2NỘI DUNG
I/ Vài nét về thị trường chứng khoán và hoạt động quản lí quỹ.
1,Thị trường chứng khoán
1.1,Khái niệm:
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động phát hành, giao dịch và
mua bán chứng khoán Việc mua bán này được tiến hành ở thị trường sơ cấp, khi ngườimua mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành chứng khoán, và ở thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã phát hành trên thị trường
sơ cấp
Như vậy, thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường tài chính, là nơi diễn ra quá trình phát hành, mua bán các chứng khoán, đó là các chứng khoán nợ và các chứng khoán vốn Bản chất của thị trường chứng khoán là thị trương thể hiện mối quan hệ giữa cung và cầu vốn đầu tư Thị trường chứng khoán là hình thức phát triển bậc cao của nền sản xuất và lưu thông hàng hóa
Kinh doanh chứng khoán: là một trong những dịch vụ đặc trưng của nền kinh
tế thị trường gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của thị trường chứng khoán Đó là những hoạt động mua bán chứng khoán và cung ứng dịch vụ của các tổ chức hoặc cá nhân cho khách hàng, phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp cho các giao dịch chứng khoán với mục đích tìm kiếm lợi nhuận
1.2,Hoạt động cơ bản trên thị trường chứng khoán
Nghiệp vụ môi giới chứng khoán: Môi giới chứng khoán là hoạt động trung
gian hoặc đại diện mua và bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng.Theo đó, công ty chứng khoán đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thôngqua cơ chế giao dịch tại SGDCK hoặc thị trường chứng khoán OTC mà chính kháchhàng phải chịu trách nhiệm đối với kết quả giao dịch của mình
Trang 3Nghiệp vụ tự doanh: Tự doanh là việc công ty chứng khoán tự tiến hành các
giao dịch mua và bán chứng khoán cho chính mình Hoạt động tự doanh của công tychứng khoán được thực hiện qua cơ chế giao dịch trên Sở Giao dịch Chứng khoánhoặc thị trường OTC Tại một số thị trường vận hành theo cơ chế khớp giá ,hoạtđộng tự doanh của công ty chứng khoán được thực hiện thông qua hoạt động tạo lậpthị trường
Nghiệp vụ bảo lãnh :phát hành là việc công ty chứng khoán chức năng bảo
lãnh giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán,
tổ chức việc phân phối chứng khoán và giúp bình ổn giá chứng khoán trong giaiđoạn đầu sau khi phát hành
Nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán: CC̣ũng như các loại hìì́nh tư vấn khác, tư
vấn đầu tư chứng khoán là việc công ty chứng khoán thông qua hoạt động phân tích đểđưa ra các lời khuyên, phân tích các tì́nh huống và có thể thực hiện một số công việcdịch vụ khác liên quan phát hành, đầu tư và cơ cấu tài chính cho khách hàng
Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư: Đây là nghiệp vụ quản lý vốn uỷ thác
của khách hàng để đầu tư vào chứng khoán thông qua danh mục đầu tư nhằm sinhlợi cho khách hàng trên cơ sở tăng lợi nhuận và bảo toàn vốn cho khách hàng Quản
lý danh mục đầu tư là một dạng nghiệp vụ mang tích chất tổng hợp có kèm theo đầu
tư, khách hàng uỷ thác tiền cho công ty chứng khoán thay mặt mình quyết định đầu
tư theo một chiến lược hay những nguyên tắc đã được khách hàng chấp nhận hoặcyêu cầu
2, Công ty quản lí quỹ
Theo khái niệm về công ty quản lý quỹ đầu tư (Fund Management) tại thị trường
chứng khoán Mỹ, công ty quản lý quỹ là công ty chuyên trách thực hiện việc quản lý
các quỹ đầu tư Các quỹ đầu tư được tổ chức dưới dạng một công ty, phát hành cổphần
Trang 4Công ty đầu tư sử dụng nhà tư vấn đầu tư, hay người quản lý đầu tư để quyếtđịnh loại chứng khoán nào sẽ đưa vào danh mục đầu tư của quỹ Người quản lý quỹđược toàn quyền quản lý danh mục đầu tư, mua bán chứng khóan phù hợp với các mụctiêu đầu tư của quỹ Công ty quản lý quỹ được cấu trúc dưới hai dạng: quản lý quỹ đầu
tư quỹ dạng đóng và quỹ dạng mở
Ở Việt Nam, theo Nghị định 144/2003/NĐ-CP ban hành ngày 28-11-2003 về
chứng khoán và thị trường chứng khoán, thì công ty quản lý quỹ thực hiện việc quản lýquỹ đầu tư chứng khoán Quỹ đầu tư chứng khoán có thể ở dạng quỹ công chúng hoặcquỹ thành viên, và là dạng đóng
II/ Những vấn đề chung về quản lí quỹ và hoạt động của công ty quản lí quỹ.
1, Quản lí quỹ:
- Quản lý quỹ là thực hiện các chức năng về quản lý vốn tài sản thông qua việc
đầu tư theo danh mục đầu tư hiệu quả nhất làm gia tăng giá trị của quỹ đầu tư
2, Công ty quản lí quỹ đầu tư chứng khoán
2.1 Quỹ đầu tư chứng khoán
2.1.1.Khái niệm:
Quỹ đầu tư là quỹ hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư với mục đích tìm kiếm lợi nhuận từ việc đầu tư vào chứng khoán và các loại tài sản đầu tư khác, kể cả bất động sản, trong đó nhà đầu tư không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với việc ra quyết định đầu tư của quỹ
2.1.2.Các loại quỹ đầu tư:
+ Quỹ thành viên: là quỹ đầu tư chứng khoán có số thành viên tham gia không
vượt quá 30 thành viên và chỉ bao gồm thành viên là pháp nhân
+ Qũy đại chúng là quỹ đầu tư chứng khoán thực hiện chào bán chứng chỉ quỹ ra
công chúng Theo cơ chế hoạt động, quỹ đại chúng thường bao gồm: quỹ mở và quỹ đóng
Trang 5Quỹ đầu tư dạng mở Quỹ đầu tư dạng đóng
• Mua lại chứng chỉ quý từ nhà đầu tư
và bán lại khi có yêu cầu trong phạm
vi số vốn góp tối đa của quỹ không
cần có quyết định của đại hội nhà đầu
• Chứng khoán được mua bán trực tiếp
tại quỹ hoặc người bảo lãnh, đại lí
• Giá mua là giá trị tài sản thuần cộng
- Không mua lại số chứng khoán đã phát hành
- Số lượng chứng khoán lưu hành thường ổn định
- Chứng khoán được giao dịch trên thị trường tập trung hoặc thị trường OTC
- Giá cả được xác định bởi quan hệ cungcầu trên thị trường nên có thể bằng hoặc cao hơn hoặc nhỏ hơn giá trị tài sản thuần
- Lệ phí giao dịch trả cho nhà môi giới
2.2.Công ty quản lí quỹ
2.2.1 Khái niệm: Công ty quản lí quỹ là tổ chức có tư cách pháp nhân, hoạt động cung
cấp dịch vụ quản lí quỹ đầu tư chứng khoán, quản lí danh mục đầu tư chứng khoán
Trang 6chứng chỉ quỹ đầu tư ra công chúng để tạo vốn cho quỹ; (2) lựa chọn và thực hiện đầu
tư vốn của quỹ vào chứng khoán hoặc tài sản khác phù hợp với điều kiện của quỹ, (3) xác định lợi nhuận của quỹ và tư vấn cho người lưu giữ tài sản của quỹ để phân phối lợi nhuận việc thành lập và hoạt động của quỹ và công ty quản lí quỹ được thực hiện theo luật tín thác đầu tư Theo luật này một hợp đồng tín thác được kí kết bởi tất cả cácbên tham gia vào quỹ: công ty quản lí quỹ, tổ chức giám sát bảo quản và những người đầu tư
- Công ty quản lí quỹ có thể tổ chức theo hình thức công ty cổ phẩn hoặc chịu trách nhiệm hữu hạn, tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật Để thành lập quỹ đầu tư tín thác trước hết phải thành lập công ty quản lí quỹ Mỗi công ty quản lí quỹ có thể có nhiều quỹ đầu tư trực thuộc, tùy thuộc vào mục tiêu đầu tư Công ty quản
lí quỹ đứng ra phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư, huy động vốn để thành lập quỹ đầu tư chứng khoán Công ty quản lí quỹ có chức năng thực hiện đầu tư theo sự ủy thác của khách hàng, quản lí quỹ đầu tư cho phù hợp với mục tiêu đầu tư của quỹ, quản lí danh mục đầu tư chứng khoán theo các quy định của pháp luật, điều lệ quỹ đầu tư chứng khoán
- Trong mô hình quỹ tín thác được quản lí bởi công ty quản lí quỹ, ngân hàng giám sát vừa đóng vai trò là người bảo quản thanh toán bù trừ và lưu giữ tài sản của người đầu tư vừa thực hiện chức năng giám sát hoạt động của công ty quản lí quỹ nhằm đảm bảo công ty quản lí quỹ hoạt động đúng theo điều lệ quỹ, phù hợp với lợi ích nhà đầu tư
- Quỹ đầu tư tín thác không có tư cách pháp nhân đầy đủ nên khối lượng vốn huy động được thường hạn chế hơn so với mô hình quỹ công ty
2.2.3 Phương pháp đầu tư
Công ty Quản lý Quỹ ở Việt Nam sử dụng phân tích cơ bản làm chủ đạo khi xem xét đầu tư và tuân theo một quy trình đầu tư bao gồm việc đánh giá định tính và định lượng toàn bộ giá trị của một công ty tiềm năng
Trang 7Về phương diện định tính, hầu hết quan tâm nhiều đến chất lượng quản lý mô hình kinh doanh của công ty, tính năng động của lĩnh vực kinh doanh và tất cả các yếu
tố khác có ảnh hưởng đến hoạt động của công ty Họ nghiên cứu nhằm phát hiện nhữngcông ty đang trải qua hay hưởng lợi từ sự phát triển mang tính chuyển mình của nền kinh tế, của lĩnh vực hoạt động cũng như của bản thân công ty
Thông qua việc gặp gỡ và trao đổi thường xuyên với đội ngũ lãnh đạo của
những công ty đã đầu tư để cùng sát cánh với họ trong quá trình phát triển và tư vấn cho họ trong những quyết định mang tính chiến lược
Ngoài ra, cũng trao đổi với những bên có liên quan đến công ty như các nhà cung cấp, khách hàng và đối thủ cạnh tranh để có được sự đánh giá chính xác hơn về tình hình hoạt động và tính bền vững của những cơ hội đầu tư tiềm năng
Về phương diện định lượng, các công ty QLQ phân tích ý tưởng đầu tư thông qua việc sử dụng mô hình tài chính nội bộ kết hợp với nhiều kỹ thuật định giá giá trị khác nhau
3, Chức năng và hoạt động
3.1 Chức năng
Thực chất về hoạt động của công ty quản lý quỹ là thực hiện chức năng về quản
lý vốn tài sản thông qua việc đầu tư theo danh mục đầu tư hiệu quả nhất làm gia tăng giá trị của quỹ đầu tư
3.2 Hoạt động
3.2.1.Quản lý quỹ đầu tư (Asset management)
- Huy động và quản lý vốn và tài sản
- Tập trung đầu tư theo danh mục đầu tư
- Quản lý đầu tư chuyên nghiệp
Các quỹ đầu tư được quản lý bởi các chuyên gia có kỹ năng và giàu kinh nghiệm người
mà được lựa chọn định kỳ căn cứ vào tổng lợi nhuận họ làm ra Những chuyên gia không tạo ra lợi nhuận sẽ bị thay thế Một trong những nhân tố quan trọng trong việc
Trang 8chọn lựa quỹ đầu tư tốt là quỹ đó phải được quản lý tốt nhất.
3.2.2 Quản lí danh mục đầu tư:
Quản lý danh mục đầu tư chứng khoán là việc công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán thược hiện quản lý theo ủy thác của từng nhà đầu tư trong mua bán nắm giữ chứng khoán
Các nhà quản trị danh mục đâu tư chứng khoán thường thực hiện các chức năng sau:
Thứ nhất: phân tích và xây dựng danh mục đầu tư cho khách hàng
Thứ hai : điều chỉnh doanh mục đầu tư
* Vai trò của quản lý danh mục đầu tư
- Sự cần thiết trong việc tạo ra lập một danh mục đầu tư được đa dạng hóa theo đứng yêu càu của các nhà đầu tư Thậm chí trường hợp giá cả của mọi chứng khoán được định giá đúng với giá trị của nó nhưng mỗi chứng khoán này vẫn chứa đựng rủi
ro mang tính chất cá biệt của công ty Những rủi ro này chỉ có thể loại bỏ thông qua việc đa dạng hóa danh mục đầu tư Vai trò quản lý sẽ phát huy tác dụng để tạo ra một danh mục đúng với mức rủi ro hệ thông mà các nhà đầu tư mong muốn
- Quản lý danh mục đầu tư có liên quan đến tâm lý của nhà đầu tư đối với rủi ro
- Việc chọn lựa các danh mục đầu tư phải tính đến ảnh hưởng của thuế của mỗi quốc gia khác nhau, thuế đánh vào thu nhập từ hoat động đầu tư sẽ khác nhau Vì vậy, lựa chọn danh mục đầu tư tốt sẽ góp phần giảm thiểu tổng mức thuế phải nộp
- Các nhà đầu tư ở các lứa tuổi khác nhau sẽ có những nhu cầu riêng trong chính sách lựa chọn danh mục đầu tư liên quan đến mức rủi ro phải gánh chịu
*Yêu cầu đối với nhà quản lý danh mục đầu tư
Đối với chiến lược quản lý danh mục đầu tư là chủ động, các yêu cầu đặt ra đối với nhà quản lý danh mục là:
- Thứ nhất: Khả năng đem lại lợi nhuận trên mức trung bình ứng với mỗi mức độ
rủi ro
Trang 9Đối với nhà đầu tư, ứng với mỗi mức rủi ro nhất định thì lợi suất đầu tư càng caocàng tốt điều này có thể thực hiện được nhờ khả năng dự đoán thời cơ thị trường hoặc khả năng lựa chọn và nắm giữ cá loại chứng khoán có lợi nhất.
Do các chứng khoán được giả ddingj là được định giá đúng trên thị trường nên việc chọn loại chứng khoán nào để mua và nắm giữ không phải là mối quan tâm hàng đầu Tuy nhiên, việc chỉ mua và giữ một số ít lọa chứng khoán cũng vẫn gây ra một rủi
ro có thể đa dạng hóa, do vậy cách tốt nhất trong chiến lược mua và năm giữ là đa dạng hóa
- Thứ hai: Khả năng đa dạng hóa danh mục nhằm loại bỏ rủi ro không hệ thống
Đây là yếu tố thứ hai cần xem xét trong đánh giá hiệu quả quản lý danh mục đầu
tư Khác với rủi ro hệ thống, rủi ro không hệ thống có thể bí xáo bỏ nếu danh mục đầu
tư được đa dạng hóa một cách hoàn hảo
- Thứ ba: lựa chọn danh mục chuẩn
Việc lựa chọn danh mục chuẩn để chỉ số hóa Vấn đề then chết gắn với tầm quan trọng mà nhà đầu tư đưa ra đối với hai mục tiêu đầu tư, đôi khi mâu thuẫn với nhau:
§ Đầu tiên là mức độ rủi ro chứng khoán nhà đầu tư mong muốn Độ rủi ro này đối với chứng khoán có mức vốn hòa lớn có đủ không? Hay cần có cả chứng khoán vốn hòa nhỏ và trung bình?
§ Vấn đề thứ hai gắn với tính thanh khoản mong muốn của danh mục chỉ số hóa Nhà đầu tư có muốn mở rộng hay giảm số tiền thực hiện chỉ số hóa nhanh hay không?
3.2.3.Hoạt động khác
a,Tư vấn đầu tư và tư vấn tài chính
- Thực hiện việc tư vấn đầu tư và tư vấn về quản trị cho các khách hàng
- Hỗ trợ khách hàng tối ưu hóa các khoản đầu tư thông qua các công cụ tài chính
- Tối ưu hóa các nguồn vốn cho các nhà đầu tư
b,Nghiên cứu
Thông qua việc phân tích đánh giá về thị trường, phân tích giá trị tài chính và giá trịđầu tư và hỗ trợ cho các hoạt động quản lý đầu tư và các tư vấn như đã nêu trên
Trang 104, Cơ chế giám sát của quỹ, công ty quản lý quỹ và các cơ quan chức năng
- Cơ quan quản lý chủ quan của công ty quản lý quỹ là Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), Bộ Tài Chính và Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam giám sát toàn
bộ các hoạt động của công ty quản lý quỹ, các quỹ đầu tư và các ngân hàng giám sát về mặt vĩ mô
- Ngân hàng giám sát thực hiện việc bảo quản, lưu ký tài sản của quỹ đầu tư chứng khoán và giám sát công ty quản lý quỹ nhằm bảo vệ lợi ích của người đầu tư
- Công ty quản lý quỹ thực hiện việc quản lý quỹ việc đầu tư theo danh mục đầu tư được nêu trong cáo bạch của quỹ
- Công ty kiểm toán thực hiện việc kiểm tra, đánh giá khách quan và chính xác tình hình hoạt động của quỹ đầu tư, bảo đảm sự minh bạch
III/ Liên hệ thực tế hoạt động của công ty quản lí quỹ ở Việt Nam hiện nay
1, Toàn cảnh về các công ty quản lĩ quỹ tại Việt Nam
Các quỹ tín thác ( quỹ không có pháp nhân đầy đủ được thành lập trên cơ sở hợpđồng ủy thác giữa công ty quản lý quỹ, người ủy thác và người thụ hưởng) không tự quản lý vốn đầu tư, phải tìm kiếm và kí kết hợp đồng quản lý quỹ với một công ty quản lý quỹ =>Công Ty QLQ ra đời từ đây
Nhà đầu tư quen làm việc với công ty chứng khoán nên thường nhìn Công ty chứngkhoán như là sức mạnh đẳng cấp nhất của thị trường Nhưng thực ra, thế lực hùng hậu đứng sau và nâng đỡ thị trường thì cần phải nói các quỹ và công ty quản lý quỹ
Hiện nay ở Việt Nam có khoảng trên dưới 47 Công ty QLQ được thành lập Với
số vốn điều lệ đạt 25 tỷ đồng trở lên Đặc biệt nổi bật là Công ty TNHH Quản lý quỹ Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam với số vốn điều lệ lên tới 950 tỷ đồng Tiếp sau là Công ty Cổ phần quản lý quỹ đầu tư VN 209,6 tỷ đồng, CTy Cổ phần QLQ đầu
tư chứng khoán Bản Việt 150 tỷ, Công ty Cp QLQ đầu tư FPT 110 tỷ, Công ty QLQ đầu tư MB 100 tỷ đồng
Trang 11Công ty Cổ phần Quản lý Quỹ đầu tư Việt Nam (VFM) là công ty quản lý quỹ trong nước đầu tiên hoạt động tại Việt Nam cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tài chính đa dạng cho nhà đầu tư trong và ngoài nước thông qua các quỹ đầu tư và dịch vụ quản lý danh mục đầu tư
Được thành lập từ năm 2003, công ty VFM hiện đang dẫn đầu thị trường ngành quản lý quỹ nội địa với tổng giá trị tài sản quản lý lớn nhất thông qua số lượng quỹ đầu
tư nhiều nhất trên thị trường Công ty có mạng lưới kết nối rộng lớn với nhà đầu tư cá nhân và pháp nhân trong và ngoài nước Trụ sở chính được đặt ở Tp HCM và văn phòng chi nhánh tại Hà Nội
Các công ty QLQ quản lý quỹ đầu tư chứng khoán được huy động từ các nước trên thế giới như Châu Âu, Dubai, Nhật Bản, Malaysia, Singapore, v.v để đầu tư vào
cổ phiếu của các công ty cổ phần hóa, IPO, cổ phiếu chưa niêm yết hoặc đã niêm yết của các công ty đại chúng tại Việt Nam Ngoài ra, cũng tham gia vào hoạt động tư vấnđầu tư (tài chính) cho các doanh nghiệp Việt Nam và các nhà đầu tư nước ngoài vào thịtrường này
Tuy nhiên, toàn cảnh bức tranh về hoạt động quản lí quỹ vẫn đang là một vấn đề đáng e ngại Bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì vẫn còn tồn tại rất nhiều bất cập, những cái gai chưa thể giải quyết Thực tế cho thấy, hiện chỉ có 23 quỹ đầu tư đang hoạt động trên tổng số 47 công ty quản lý quỹ được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCK) cấp phép tại Việt Nam
Trong một bài báo về thị trường chứng khoán VN nói chung và quản lí quỹ nói riêng
có viết:
Năm 2012, ước tính:Tổng giá trị tài sản quản lý của các công ty quản lý quỹ sụt giảm 23% so với cuối năm 2011 Nhiều công ty quản lý quỹ đang trong tình trạng cầm cự
để duy trì giấy phép hoạt động
- Huy động quỹ èo uột
Ấn tượng nhất đối với thị trường quản lý quỹ tại Việt Nam năm 2012 là việc niêm yết chứng chỉ quỹ ASIAGF của Quỹ đầu tư Tăng trưởng ACB, do Công ty TNHH một
Trang 12thành viên Quản lý quỹ ACB quản lý Tuy nhiên, quy mô ban đầu của Quỹ chỉ đạt hơn 240
tỷ đồng
Tại thời điểm cuối quý II/2012, quy mô tài sản của ASIAGF tăng lên 275 tỷ đồng Nhưng với mức phí quản lý 0,5% giá trị tài sản ròng mỗi năm, quỹ này cũng chỉ mang lại khoảng gần 1,4 tỷ đồng doanh thu cho Công ty Quản lý quỹ ACB Một con số rất khiêm tốn so với chi phí của doanh nghiệp.
Ngoài trường hợp nêu trên, huy động quỹ của các công ty quản lý quỹ đều là số 0 Rất nhiều công ty hiện đang sống nhờ vào việc quản lý tài sản, hoặc đơn giản là tham gia thị trường bằng vốn tự có như một NĐT thông thường
Trong số các công ty quản lý quỹ trong nước, Công ty Quản lý quỹ Việt NAM
(Vinafund - VFM) hiện huy động được nhiều quỹ nhất (4 quỹ), trong đó 3 quỹ VFMVF1, VFMV4, VFMVFA là quỹ đại chúng niêm yết, một quỹ thành viên là VFMVF2 Tổng vốn điều lệ của 4 quỹ là hơn 3.000 tỷ đồng.
Cố gắng cầm cự
Ngay trường hợp của Vinafund, dù quản lý nhiều quỹ nhất trong số các quỹ đầu tư trong nước, nhưng thu phí từ quản lý của Công ty năm 2011 vẫn rất thấp Theo điều lệ quỹ của cả 4 quỹ đang quản lý, Vinafund sẽ thu 2% giá trị tài sản của các quỹ VF1, VF4, VFA; 1% của VF2.
Tuy nhiên, với sự giảm giá chung của TTCK, Công ty đã chấp nhận giảm phí quản
lý của VF4 xuống 1,5%; VF2 sẽ không thu phí quản lý nếu giá trị tài sản ròng của chứng chỉ quỹ dưới mệnh giá Năm 2011, phí quản lý thu được của Vinafund là 56,588 tỷ đồng, phí quản lý danh mục đầu tư là 168 triệu đồng Lợi nhuận sau thuế cả năm 2011 của Công ty là 7,864 tỷ đồng trên vốn điều lệ gần 230 tỷ đồng.
Đó là trường hợp của Vinafund - đơn vị có quỹ Đa số các công ty quản lý quỹ còn lại rơi vào 1 trong 2 trạng thái: cầm cự để duy trì giấy phép, hoặc đóng vai trò quản lý danh mục đầu tư, ủy thác đầu tư để “làm đẹp” báo cáo tài chính cho một số DN.
Trang 13Những trường hợp quỹ thành viên như của công ty quản lý quỹ SSI, Bảo Việt… không nhiều Đa phần những công ty quản lý quỹ “sống khỏe” đều trực thuộc những định chế có tiềm lực tài chính lớn, đầu tư nhiều như ngân hàng, công ty tài chính, bất động sản
Với 98.000 tỷ đồng đang được quản lý bởi các công ty quản lý quỹ, chủ yếu là quản
lý danh mục đầu tư (tổng vốn điều lệ các quỹ gần 15.000 tỷ đồng), với mức phí quản lý bình quân cho tài sản ủy thác đầu tư khá thấp, thậm chí chỉ ở mức 0,1 - 0,2% tổng giá trị tài sản
Nếu tính mức phí quản lý bình quân là 0,3% giá trị tài sản ròng, thì tổng mức phí thu được của các công ty quản lý là 294 tỷ đồng trên tổng vốn điều lệ 2.600 tỷ đồng, tương đương hơn 11% vốn điều lệ Trừ đi các loại chi phí, thu nhập này chẳng đáng là bao so với số tiền mà các chủ đầu tư công ty quản lý quỹ đã bỏ ra.
Trao đổi với ĐTCK, lãnh đạo một công ty quản lý quỹ cho biết, theo tìm hiểu của ông, khoảng 20 công ty quản lý quỹ đang trong tình trạng rất khó khăn, không tìm ra định hướng phát triển.
Nếu giai đoạn trước, các công ty này có thể bấu víu vào những con sóng của thị trường
để đầu tư, thì nay họ chủ yếu đi tìm đối tác có nhu cầu “làm đẹp” báo cáo tài chính Khá hơn một chút, một số công ty kết hợp với DN bất động sản, CTCK xây dựng và triển khai các sản phẩm tài chính đầu tư vào bất động sản Tuy nhiên, đa số dự án này mới đang ở khâu lên kế hoạch.
Èo uột, khó tìm lối thoát, nhưng đã có giai đoạn, giấy phép công ty quản lý quỹ rất đắt giá Cuối năm 2010 - 2011, một giấy phép thành lập công ty quản lý quỹ thậm chí được định giá tới 20 tỷ đồng
Sự đắt giá của công ty quản lý quỹ giai đoạn này không đến từ kỳ vọng các công ty sẽ mang lại hiệu quả đầu tư, mà đến từ mục tiêu “làm đẹp” báo cáo tài chính, hoặc công cụ tài chính khác của các ông chủ.
Trang 14Vì đâu nên nỗi?
Đầu năm 2009, lãnh đạo một công ty quản lý quỹ tuyên bố: họ không cần huy động quỹ, bởi sống chủ yếu bằng tiền thu phí ủy thác đầu tư của khách hàng theo “sóng” của thị trường.
Quan điểm này khiến không ít công ty quản lý quỹ bỏ qua cơ hội tốt để huy động được quỹ - Cơ sở quan trọng giúp duy trì nguồn thu phí trong những giai đoạn khó khăn của thị trường Bởi vì, những khoản đầu tư ủy thác ngắn hạn chỉ xuất hiện khi thị trường có
“sóng lớn” Đó có lẽ là lý do khiến tổng giá trị tài sản được quản lý bởi nhóm này sụt tới 23% chỉ trong 6 tháng đầu năm 2012.
Ngoài vấn đề thị trường chung, thì một lý do quan trọng khác dẫn đến việc huy động quỹ khó khăn là do các cơ chế, chính sách hiện tại chưa kích thích NĐT bỏ vốn thành lập quỹ, thay vì ủy thác danh mục đầu tư, đặc biệt là chính sách thuế
Nguồn tiền huy động quỹ trong nước khó khăn, huy động vốn từ NĐT nước ngoài gặp trở ngại vì thuế, do chênh lệch mức thuế giữa NĐT nước ngoài giao dịch qua tài khoản vãng lai (thuế 1% giá trị giao dịch) và thuế suất 25% lợi nhuận đối với quỹ đầu tư.
Trong khi đó, các công ty quản lý quỹ hiện tại đang có “đất diễn” khá hẹp, khi họ rất khó
để triển khai các sản phẩm tài chính, ngoài việc bán dịch vụ quản lý tài sản Bao giờ các công ty quản lý quỹ thoát khỏi tình trạng cầm cự hiện nay nếu TTCK không bùng phát?
(Trích CafeF-Thị trường chứng khoán 26/7/2012)
Nửa đầu năm qua, Ủy ban không cấp phép thành lập mới công ty quản lý quỹ, đồngthời chấm dứt hoạt động 2 văn phòng đại diện
Như vậy, trên thị trường hiện có 47 công ty quản lý quỹ, với tổng vốn điều lệ 2.600
tỷ đồng, 23 quỹ đầu tư chứng khoán (gồm 17 quỹ thành viên và 6 quỹ đại chúng), 29 văn phòng đại diện đang hoạt động Điều này cho thấy, có ít nhất khoảng 27 công ty quản lý quỹ không huy động được quỹ đầu tư tính đến thời điểm này Tuy nhiên, lượng tài sản
Trang 15được quản lý bởi các công ty vẫn rất lớn, chủ yếu rơi vào nhóm công ty quản lý quỹ trực thuộc ngân hàng, công ty tài chính hoặc công ty chứng khoán.
Đến hết năm 2011, có 47 công ty quản lý quỹ được Ủy ban chứng khoán cấp phép hoạt động với tổng vốn điều lệ khoảng 2.632 tỷ đồng
28 công ty quản lý quỹ công bố báo cáo tài chính chi tiết với tổng lợi nhuận 2011 khoảng
86 tỷ đồng Trong đó 17 công ty có lãi 136 tỷ và 11 công ty lỗ với số lỗ khoảng 50 tỷ.Vietinbank Capital có lợi nhuận 41,8 tỷ trong khoảng thời gian từ 26/10/2010 đến
31/12/2011 là công ty có lợi nhuận tốt nhất Manulife AM là công ty lỗ lớn nhất (hơn 9 tỷ)trong năm 2011
VFM, công ty quản lý 4 quỹ đầu tư trong đó có 3 quỹ đang niêm yết trên HOSE vớitổng giá trị vốn các quỹ là hơn 3.000 tỷ cũng chỉ đạt 7,8 tỷ đồng lợi nhuận trong năm
2011 Năm trước đó VFM cũng chỉ ghi nhận 9,7 tỷ lợi nhuận
SSIAM, công ty quản lý quỹ nội địa lớn nhất thị trường là quỹ Thành Viên SSI (vốn 1.700tỷ) cũng chỉ ghi nhận doanh thu 37 tỷ và 5,1 tỷ lợi nhuận trước thuế Doanh thu của
SSIAM năm 2011 tăng 10% so với năm 2010
Lợi nhuận của 10 công ty quản lý quỹ năm 2011, đơn vị tính: tỷ
đồng