Phần I: Tính cấp thiết của đề tài Thị trường chứng khoán việt nam mới ra đời đầu năm 2000, vì vậy thuật ngữ ”thịtrường chứng khoán còn khá mới mẽ đối với công chúng việt nam.Trong khi đó
Trang 1Đề tài : Thực Trạng THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM Mục lục :
Chương 1 : Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Mục đích , đối tượng
1.2 Cơ sở lý luận
Chương 2 : Những vấn đề cơ bản về thị trường chứng khoán
• 2.1 Chứng khoán và thị trường chứng khoán
2.1.1 Khái Niệm
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của cácTTCK trên thế giới:
2.1.3 Chức năng trò của TTCK ( lược bỏ bớt ý thừa , tóm gọn )
• 2.2 : Sự hình thành thị trường chứng khoán Việt Nam
2.2.1 Tính tất yếu của việc hình thành thị trường chứng khoán Việt nam : 2.2.1.1 Do yêu cầu của nhà nước
2.2.1.2 Do yêu cầu của nền kinh tế
2.2.2 Sự phát triển của TTCK Việt Nam và vai trò đối với nền Kinh Tế :
2.2.2.1 Sự phát triển của TTCK VN
2.2.2.2 Vai trò với nền kinh tế
2.2.3 Thực trạng thị trường chứng khoán ở Việt Nam hiện nay :
2.2.3.1 TTCK Việt Nam còn yếu và đang trong giai đoạn phát triển
2.2.3.2 Các tác động ảnh hưởng đến Thị trường chứng khoán
2.2.3.3 Thị trường UPCOM , OTC thực trạng và hiệu quả mang lại
2.2.3.4 Vai trò của các quỹ đầu tư hiện nay và sự tác động đến TTCK VN
• Chương 3 : Những vấn đề còn tồn tại và hạn chế :
3.1 Độ tín nhiệm, bất cân xứng thông tin ,tính minh bạch còn thấp
3.2 Cơ sở hàng hóa chưa đa dạng
3.3 Chất lượng niêm yết phát hành , sử dung vốn chưa cao
3.4 Thị trường còn yếu , niềm tin nhà đâu tư thấp , nhiều biến động.
3.5 Số lượng các tổ chức kinh doanh CK không đi đôi với chất lượng
3.6 TTCK vẫn đang trong giai đoạn tái cấu trúc và xây dựng
3.6.1 Quá trình tái cấu trúc nền kinh tế , hệ thống tài chính
3.6.2 Quá trình tái cấu trúc các công ty chứng khoán (CTCK)
3.7 Các hạn chế khác :
3.7.1 Bán khống (shortsell ) vẫn tràn lan
Trang 23.7.2 Cạnh tranh không lành mạnh giữa các MMs3.8 Chưa có biện pháp bảo vệ nhà đầu tư
Phần III :Định hướng và giải pháp để phát triển thị trường
chứng khoán ở Việt Nam :
1. Định hướng phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam
2. Giải pháp để khắc phục những hạn chế giải quyết vấn đề về hàng hoá trên thị trường chứng khoán
3. Kết luận
Tài liệu tham khảo:
Nhóm có tham khảo tài liệu , thông tin kinh tế , tài chính , luật pháp phục vụ việcnghiên cứu thực hiện đề tài tại một số trang sau :
Trang 3Phần I: Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường chứng khoán việt nam mới ra đời đầu năm 2000, vì vậy thuật ngữ ”thịtrường chứng khoán còn khá mới mẽ đối với công chúng việt nam.Trong khi đó ở nhiềunước trên thế giới, thị trường chứng khoán đã ra đời rất lâu và phát triển rất sôi động.Đầu
tư vào thị trường chứng khoán đã trở nên rất quan trọng đối với mọi người
để tham gia đầu tư vào thị trường chứng khoán thì mọi người phải có những hiểu biết vàkiến thức nhất định về thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán chỉ có thể pháttriển được khi có sự tham gia ngày càng đông , niềm tin về thị trường của những người
có đầy đủ kiến thức và hiểu biết về thị trường chứng khoán được nâng dần lên Do đókiến thức của mọi người dân về thị trường chứng khoán việt nam cân được nâng cao.Thịtrường chứng khoán có sự hấp dẩn vốn có của nó Nó không chỉ quan trọng đối với nếnkinh tế của một quốc gia, mà nó còn quan trọng hấp dẩn lôi cuốn mọi ngưởi bởi khả năngđầu tư sinh lời của nó Vì vậy tùy theo điều kiện và khả năng của mình phải thích ứng vàtiếp cận thật nhanh đễ tham gia đầu tư có hiệu quả vào thị trường chứng khoán Chínhcác hoạt đông này sẻ góp phần đưa thị trường chứng khoàn phát triển mạnh và góp phầnthúc đẩy phát triển kinh tế đất nước
1.Mục đích, đối tượng:
Lựa chọn chủ đề “thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam”, đề tài này đặt ra
3 nhiệm vụ:
Một, nghiên cứu một cách có hệ thống nền tảng của chứng khoán và thị trường
chứng khoán, phân tích từng bước sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam để
từ đó làm luận giải một cách khoa học những vấn đề lý luận và thực tiễn sự hình thành thịtrường chứng khoán Việt Nam
Hai, đánh giá thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam, từ đó đưa ra được
những vấn đề còn tồn đọng, yếu kém hay những tiềm năng của thị trường nhằm đưa raphướng hướng phát triển trong tương lai
Ba là đưa ra những giải pháp nhằm khắc phục những thiếu sót cũng như phát triển
những điểm mạnh để thị trường chứng khoán Việt Nam là kênh huy động vốn hiệu quảcho doanh nghiệp cũng như kênh đầu tư tối ưu cho nhà đầu tư trong và ngoài nước
2.Cơ sở lý luận :
Để hoàn thành đề tài này, ngoài các phương pháp nghiên cứu truyền thống (duyvật biện chứng, duy vật lịch sử, diễn dịch, quy nạp), đề tài còn sử dụng các phươngpháp nghiên cứu phương pháp phân tích hệ thống, phương pháp mô hình hoá, phươngpháp kinh tế lượng
Phần II: Những vấn đề cơ bản về thị trường
chứng khoán
Chương 1 : Chứng khoán và thị trường chứng khoán
Trang 41. Khái niệm :
Thị trường chứng khoán là một bộ phận quan trọng của Thị trường vốn, hoạt động
của nó nhằm huy động những nguồn vốn tiết kiệm nhỏ trong xã hội tập trung thànhnguồn vốn lớn tài trợ cho doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và Chính phủ để phát triểnsản xuất, tăng trưởng kinh tế hay cho các dự án đầu tư
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán các loại chứng khoán Việc mua bán được tiến hành ở hai thị trường sơ cấp và thứ cấp do vậy thị
trường chứng khoán là nơi chứng khoán được phát hành và trao đổi
2. Lịch sử hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán trên thế giới:
Thị trường chứng khoán ban đầu phát triển một cách tự phát và rất sơ khai, xuấtphát từ một sự cần thiết đơn lẻ của buổi ban đầu Vào giữa thế kỷ 15 ở tại những thànhphố trung tâm buôn bán ở phương Tây, các thương gia thường tụ tập tại các quán cà phê
để trao đổi việc mua bán trao đổi các vật phẩm hàng hoá Lúc đầu chỉ một nhóm nhỏ, dầndần sau đó tăng dần và hình thành một khu chợ riêng Cuối thế kỷ 15, để thuận tiện hơncho việc làm ăn, khu chợ trở thành “thị trường” với việc họ thống nhất các quy ước vàdần dần các quy ước được sửa đổi hoàn chỉnh thành những quy tắc có giá trị bắt buộcchung cho mọi thành viên tham gia ” thị trường”
Phiên chợ riêng đầu tiên được diễn ra vào năm 1453 tại một lữ điếm của gia đìnhVanber ở Bruges Bỉ, tại đó có một bảng hiệu hình ba túi da với một tiếng Pháp là
“Bourse” tức là “mậu dịch thị trường” hay còn gọi là “Sở giao dịch”
Vào năm 1547, thành phố ở Bruges Bỉ mất đi sự phồn thịnh do eo biển Even bị cátlấp nên mậu dịch thị trường ở đây bị sụp đổ và được chuyển qua thị trấn Auvers Bỉ, ở đâythị trường phát triển rất nhanh và giữa thế kỷ 16 một quan chức đại thần của Anh quốc đãđến quan sát và về thiết lập một mậu dịch thị trường tại London Anh, nơi mà sau nàyđược gọi là Sở giao dịch chứng khoán London Các mậu dịch thị trường khác cũng lầnlượt được thành lập tại Pháp, Đức và Bắc Âu
Sự phát triển của thị trường ngày càng phát triển cả về lượng và chất với số thànhviên tham gia đông đảo và nhiều nội dung khác nhau Vì vậy theo tính chất tự nhiên nólại được phân ra thành nhiều thị trường khác nhau như: Thị trường giao dịch hàng hoá,thị trường hối đoái, thị trường giao dịch các hợp đồng tương lai và thị trường chứngkhoán… với đặc tính riêng của từng thị trường thuận lợi cho giao dịch của người thamgia trong đó
Quá trình các giao dịch chứng khoán diễn ra và hình thành như vậy một cách tựphát cũng tương tự ở Pháp, Hà Lan, các nước Bắc Âu, các nước Tây Âu và Bắc Mỹ Các phương thức giao dịch ban đầu được diễn ra sơ khai ngay cả khi ở ngoài trời vớinhững ký hiệu giao dịch bằng tay và có thư ký nhận lệnh của khách hàng Ở Mỹ cho đếnnăm 1921, khu chợ này được chuyển từ ngoài trời vào trong nhà, Sở giao dịch chứngkhoán chính thức được thành lập
Ngày nay, theo sự phát triển của công nghệ khoa học kỹ thuật, cácphương thứcgiao dịch ở các Sở giao dịch chứng khoán cũng được cải tiến dần theo tốc độ và khốilượng yêu cầu nhằm đem lại hiệu quả và chất lượng cho giao dịch, các Sở giao dịch đã
Trang 5dần dần sử dụng máy vi tính để truyền các lệnh đặt hàng và chuyền dần từ giao dịch thủcông kết hợp \/ói máy vi tính sang sử dụng hoàn toàn hệ thống giao dịch điện tử thay chothủ công trước kia
Lịch sử phát triển các thị trường chứng khoán Thế giới trải qua một sự phát triểnthăng trầm lúc lên, lúc xuống, vào những năm 1875-1913, thị trường chứng khoán Thếgiới phát triển huy hoàng cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế Thế giới lúc đó, nhưngrồi đến “ngày thứ năm đen tối ” tức ngày 29/10/1929 đã làm cho thị trường chứng khoánTây, Bắc Âu và Nhật bản khủng hoảng mất lòng tin Cho mãi tới chiến tranh thế giới thứ
2 kết thúc, các thị trường chứng khoán cũng hồi phục dần và phát triển mạnh và rồi chođến năm 1987 một lần nữa đã làm cho các thị trường chứng khoán
Thế giới điên đảo với “ngày thứ hai đen tối” do hệ thống thanh toán kém cỏikhông đảm đương được yêu cầu của giao dịch, sụt giá chứng khoán ghê gớm, mất lòngtin và phản ứng dây chuyền mà hậu quả của nó còn nặng hơn cuộc khủng hoảng năm
1929 Theo quy luật tự nhiên, sau gần hai năm mất lòng tin, thị trường chứng khoán Thếgiới lại đi vào giai đoạn ổn định và phát triển đến ngày nay Cứ mỗi lần khủng hoảng nhưvậy, giá chứng khoán của tất cả các thị trường chứng khoán trên Thế giới sụt kinh khủngtuy ở mỗi khu vực và mỗi nước ở những mức độ khác nhau gây ra sự ngừng trệ cho thịtrường chứng khoán toàn cầu và cũng ảnh hưởng trực tiếp tới nền kinh tế mỗi nước
Cho đến nay, phần lớn các nước trên Thế giới đã có khoảng trên 160 Sở giao dịchchứng khoán phân tán khắp các châu lục bao gồm cả các nước trong khu vực Đông nam
Á phát triển vào những năm 1960 -1970 vào ở các nước ở Đông Âu như Balan,Hunggari, Séc, Nga, và Châu Á như Trung quốc vào những năm 1980 - đầu năm 1990
Lịch sử hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán trên Thế giới cho thấythời gian đầu, thị trường hình thành một cách tự phát, đối tượng tham gia chủ yếu là cácnhà đầu cơ, dần dần về sau mới có sự tham gia ngày càng đông đảo của công chúng Khithị trường bắt đầu xuất hiện sự trục trặc và bất ổn, chính phủ buộc phải can thiệp bằngcách thành lập các cơ quan quản lý nhằm bảo vệ quyền lợi của công chúng đầu tư và sau
đó dần dần hệ thống pháp lý cũng bắt đầu được ban hành Kinh nghiệm đối với những thịtrường mới hình thành về sau này cho thấy thị trường sau khi thiết lập chỉ có thể hoạtđộng có hiệu quả, ổn định và nhanh chóng nếu có sự chuẩn bị chu đáo về mọi mặt vềhàng hoá, luật pháp, con người, bộ máy quản lý và đặc biệt sự giám sát và quản lýnghiêm ngặt của Nhà nước
Có thể nói, Thị trường chứng khoán là một định chế tài chính không thể thiếuđược trong đời sống kinh tế của những nước theo cơ chế thị trường và nhất là nhữngnước đang phát triển đang cần thu hút luồng vốn lớn dài hạn cho nền kinh tế quốc dân
3. Chức năng của thị trường chứng khoán bao gồm:
Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế:
Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗicủa họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sảnxuất xã hội Thông qua TTCK, Chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy
Trang 6động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế,phục vụ các nhu cầu chung của xã hội.
Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng:
TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hộilựa chọn phong phú Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thờihạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn loại hàng hoá phù hợp với khảnăng, mục tiêu và sở thích của mình
Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán:
Nhờ có TTCK các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thànhtiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn Khả năng thanh khoản là mộttrong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với người đầu tư Đây là yếu tố chothấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư TTCK hoạt động càng năng động và có hiệuquả thì tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường càng cao
Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp:
Thông qua chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh một cáchtổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của doanh nghiệpđược nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnhnhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sảnphẩm
Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô:
Các chỉ báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén vàchính xác Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế tăngtrưởng; ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh
tế Vì thế, TTCK được gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọnggiúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô Thông qua TTCK, Chính phủ cóthể mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách vàquản lý lạm phát Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháptác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nềnkinh tế
2.1 Thị trường sơ cấp
Là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành Trên thị trường này, vốn
từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua cácchứng khoán mới phát hành
2.2 Thị trường thứ cấp
Là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp.Thịtrường thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành
2.3 Sở giao dịch chứng khoán
Sở Giao dịch Chứng khoán là một pháp nhân được thành lập theo quy định của
pháp luật thực hiện việc tổ chức giao dịch chứng khoán cho các chứng khoán của tổ chứcphát hành đủ điều kiện niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán
Trang 7Theo tính chất tổ chức thị trường, Sở Giao dịch Chứng khoán là thị trường chứng khoán tập trung; trong đó việc giao dịch chứng khoán được thực hiện tại một địa điểm tập trung
là sàn giao dịch hay qua hệ thống mạng thông tin máy tính điện tử do các thành viên của
Sở Giao dịch Chứng khoán thực hiện Các chứng khoán được giao dịch tại Sở Giao dịchChứng khoán thông thường là chứng khoán của các công ty có uy tín, công ty lớn đápứng đủ điều kiện hay tiêu chuẩn niêm yết Gồm các chức năng cơ bản:
• Cung cấp, đảm bảo cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc giao dịch chứng khoán (địađiểm và hệ thống giao dịch) Đảm bảo việc giao dịch chứng khoán được diễn rathông suốt, đúng pháp luật và công khai kể cả giá cả
• Tổ chức niêm yết và giám sát các chứng khoán niêm yết, các tổ chức niêm yết
• Tổ chức và giám sát chặt chẽ quá trình giao dịch chứng khoán
• Giám sát chặt chẽ những người tham dự vào quá trình giao dịch
Trên thế giới có 3 hình thức sở hữu sở giao dịch chứng khoán phổ biến là sở hữu nhànước, thành viên và công ty cổ phần Riêng ở Việt Nam, sở giao dịch chứng khoán là một
tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật (Luật chứng khoán và luật doanhnghiệp Việt Nam)
2.4 Chủ thể tham gia thị trường chứng khoán
-Nhà đầu tư có tổ chức: là các định chế đầu tư thường xuyên mua bán chứng khoán với
số lượng lớn trên thị trường
Các định chế này có thể tồn tại dưới các hình thức sau: công ty đầu tư, công ty bảo hiểm,Quỹ lương hưu, công ty tài chính, ngân hàng thương mại và các công ty chứng khoán
Các công ty chứng khoán:
Là những công ty hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, có thể đảm nhận mộthoặc nhiều trong số các nghiệp vụ chính là môi giới, quản lý quỹ đầu tư, bảo lãnh pháthành, tư vấn đầu tư chứng khoán và tự doanh
Các tổ chức có liên quan đến TTCK:
- Uỷ ban chứng khoán Nhà nước: là cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản
lý nhà nước đối với TTCK ở Việt nam
- Sở giao dịch chứng khoán: là cơ quan thực hiện vận hành thị trường và ban hành nhữngquyết định điều chỉnh các hoạt động giao dịch chứng khoán trên Sở phù hợp với các quyđịnh của luật pháp và UBCK
- Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán: là tổ chức phụ trợ, phục vụ các giao dịch chứngkhoán
Trang 8- Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm: là công ty chuyên cung cấp dịch vụ đánh giá năng lựcthanh toán các khoản vốn gốc và lãi đúng thời hạn và theo những điều khoản đã cam kếtcủa công ty phát hành đối với một đợt phát hành cụ thể
2.5 Hàng hoá ở thị trường chứng khoán ( chi tiết)
Hàng hóa giao dịch trên Thị trường chứng khoán bao gồm: các cổ phiếu, trái phiếu và một số công cụ tài chính khác có thời hạn trên 1 năm
2.6 Những nguyên tắc cơ bản về hoạt động của thị trường chứng khoán
Nguyên tắc cạnh tranh:
Theo nguyên tắc này, giá cả trên TTCK phản ánh quan hệ cung cầu về chứngkhoán và thể hiện tương quan cạnh tranh giữa các công ty Trên thị trường sơ cấp, các nhàphát hành cạnh tranh với nhau để bán chứng khoán của mình cho các nhà đầu tư, các nhàđầu tư được tự do lựa chọn các chứng khoán theo các mục tiêu của mình Trên thị trườngthứ cấp, các nhà đầu tư cũng cạnh tranh tự do để tìm kiếm cho mình một lợi nhuận caonhất, và giá cả được hình thành theo phương thức đấu giá
Nguyên tắc công bằng:
Công bằng có nghĩa là mọi người tham gia thị trường đều phải tuân thủ những quiđịnh chung, được bình đẳng trong việc chia sẻ thông tin và trong việc gánh chịu các hìnhthức xử phạt nếu vi phạm vào những qui định đó
Nguyên tắc công khai:
Chứng khoán là loại hàng hoá trừu tượng nên TTCK phải được xây dựng trên cơ
sở hệ thống công bố thông tin tốt Theo luật định, các tổ chức phát hành có nghĩa vụ phảicung cấp thông tin đầy đủ theo chế độ thường xuyên và đột xuất thông qua các phươngtiện thông tin đại chúng, Sở giao dịch, các công ty chứng khoán và các tổ chức có liênquan
Nguyên tắc trung gian:
Nguyên tắc này có nghĩa là các giao dịch chứng khoán được thực hiện thông qua
tổ chức trung gian là các công ty chứng khoán Trên thị trường sơ cấp, các nhà đầu tưkhông mua trực tiếp của nhà phát hành mà mua từ các nhà bảo lãnh phát hành Trên thịtrường thứ cấp, thông qua các nghiệp vụ môi giới, kinh doanh, các công ty chứng khoánmua, bán chứng khoán giúp các khách hàng, hoặc kết nối các khách hàng với nhau quaviệc thực hiện các giao dịch mua bán chứng khoán trên tài khoản của mình
Trang 9A./ Tính tất yếu của việc hình thành thị trường chứng khoán tại Việt Nam
1. Do yêu cầu phát triển của nền kinh tế :
Sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán có tác động tích cực tới sựphát triển của các quốc gia Thực tế cho thấy thị trường chứng khoán đã thúc đẩyphát triển kinh tế ở nhiều nước một cách có hiệu quả thông qua việc góp phần tạo ra vốnkhả dụng Thực vậy, đa số các dự án đầu tư cần phải sử dụng vốn dài hạn thì mới đạthiệu quả cao trong khi các nhà tiết kiệm lại không muốn mất quyền kiểm soát móntiết kiệm của họ trong thời gian dài Thị trường chứng khoán hoạt động trôi chảy sẽcho phép khắc phục được mâu thuẫn này khiến cho các hoạt động đầu tư trên thịtrường hấp dẫn, thuận tiện và có lãi suất cao hơn so với gửi tiết kiệm vì người tiếtkiệm có thể mua một loại chứng khoán nào đó rồi lại đem bán một cách nhanh chóng ítphí tổn khi cần tiền mặt hoặc để đầu tư vào một loại chứng khoán khác mà họ thích.Việc trao đổi này diễn ra trên thị trường thứ cấp trong khi đó các doanh nghiệp vẫnđược sử dụng nguồn vốn dài hạn thường xuyên và ổn định Như vậy, thông qua việctạo điều kiện thuận lợi cho các khoản đầu tư dài hạn phát triển, làm cho các khoảnđầu tư sinh lợi nhiều hơn mà thị trường chứng khoán khuyến khích được nhiều vốnhơn vào nền kinh tế góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế Thị trườngchứng khoán cũng hỗ trợ cho hệ thống ngân hàng trong nhiều lĩnh vực Về cơ bản,thị trường chứng khoán bổ sung cho hệ thống ngân hàng trong việc cung cấp vốn vaytrung và dài hạn Hệ thống ngân hàng với chức năng chủ yếu là "tạm ứng" vốn cho nềnkinh tế thông qua hoạt động tín dụng: Nhân tố tiền gửi của dân cư mà học nhân đượclên nhiều Tiền được cho vay qua các hoạt động tín dụng cần được thu về Tuy vậybao giờ cũng có phần vốn vay kém hiệu quả không thu hồi được vẫn nằm trong lưuthông, làm cho mức gia tăng tiền tệ cao hơn tỷ lệ tăng trưởng kinh tế Điều đó có nghĩa
là một lượng tiền tăng thêm không có lượng hàng hoá dịch vụ tăng theo tương ứngngày càng gây ra lạm phát trong nền kinh tế Do vậy hệ thống ngân hàng chỉ có thể cấptín dụng trung và dài hạn cho nền kinh tế một cách hạn chế nếu không sẽ dẫn đến tìnhtrạng chuyển hoá vốn quá mức, không những đe doạ an toàn của các ngân hàng mà còngây nguy cơ lạm phát
Trong bối cảnh đó, thị trường chứng khoán là nơi bổ sung nguồn vốn trung vàdài hạn quan trọng cho các khoản đầu tư phát triển Trên thị trường sơ cấp vốn đượcchuyển trực tiếp từ người có vốn sang người cần vốn thông qua việc phát hành lầnđầu các loại chứng khoán Trên thị trường thứ cấp sau đó, chứng khoán đã pháthành có tác dụng như "gây tiếp sức" để người đầu tư mới tiếp sức cho người đầu tưcũng thông qua việc mua bán lại chứng khoán
Như vậy thị trường chứng khoán hỗ trợ cho hệ thống ngân hàng trong việc cấpcác khoản tín dụng trung và dài hạn góp phần làm giảm áp lực lạm phát, sự phân tích
ở trên đã chỉ ra rằng thị trường chứng khoán có vai trò tích cực
và không thể thiếu trong nền kinh tế Thực tế cho thấy ở tất cả các nước có thị trườngchứng khoán, khi nền kinh tế thị trường ra đời thì chưa có thị trường chứng khoán
Trang 10Thị trường chứng khoán chỉ ra đời khi nền kinh tế thị trường đã phát triển ở mức độnhất định và đòi hỏi phải hình thành một tổ chức nào đó có khả năng tiếp thêm sứcmạnh cho thị trường - đó là thị trường chứng khoán với việc cung cấp vốn cho nền kinh
tế Có thể nói nền kinh tế hàng hoá phát triển làm nảy sinh thị trường chứng khoán vàthị trường chứng khoán đến lượt nó lại tiếp thêm nguồn lực để thúc đẩy nền kinh tếhàng hoá phát triển
"Trong nền kinh tế nước ta hiện nay, chủ yếu mới có hình thức giao lưu vốn giáptiếp nên chưa huy động và thu hút có hiệu quả tối ưu nguồn vốn còn khá tiềm tàng củađất nước Do đó, cùng với sự phát triển, hoàn thiện thị trường liên ngân hàng, nângcao trình độ giao lưu vốn gián tiếp, cần phải thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ hình thứcgiao lưu vốn trực tiếp"
Giao lưu vốn trực tiếp là hình thức giao lưu vốn chủ yếu thông qua phương thứcthu hút vốn bằng phát hành các phương tiện tín dụng, như trái phiếu, cổ phiếu Phươngthức giao lưu vốn trực tiếp có nhiều ưu điểm nổi bật hơn phương thức giao lưu vốngián tiếp Do vậy, trong điều kiện nước ta hiện nay, cùng với việc hoàn thiện tổ chứcgiao lưu vốn gián tiếp phải đồng thời phát triển mạnh giao lưu vốn trực tiếp nhằmlàm phong phú thị trường tiền vốn và đổi mới cơ chế giao lưu vốn theo hướng hiệnđại Chỉ khi nào cả hai hình thức giao lưu vốn trên cùng tồn tại, phát triển và bổ sungcho nhau thì thị trường tiền tệ - tín dụng mới từng bước được cải tiến, thị trườngchứng khoán mới xuất hiện và hoạt động có hiệu quả trong một thị trường tiền tệ -tín dụng hoàn chỉnh, nhờ đó mà thu hút được mọi nguồn vốn tiềm tàng trong và ngoàinước cho đầu tư phát triển
2. Do yêu cầu của nhà nước :
Để hoàn thiện nhiệm vụ của mình nhà nước luôn phải chi tiêu mà nguồn thu chủyếu của nhà nước từ thuế thường không trang trải hết các hoạt động của nhà nước.Nhà nước buộc phải vay vốn trong dân cư và các tổ chức tín dụng bằng cách pháthành kỳ phiếu Thị trường chứng khoán ra đời sẽ giúp cho quá trình phát hành nàyđược thuận lợi hơn
Như ở phần trên em đã trình bày, thị trường chứng khoán cũng có tác động tíchcực trong việc giảm áp lực lạm phát Đặc biệt từ năm 1993, nhà nước ta đã có chủtrương cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước tức là chuyển các doanh nghiệp quốcdoanh sang hình thức cổ phần Quá trình này diễn ra còn chậm nếu thị trường chứngkhoán hình thành thì sẽ thúc đẩy quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước diễn
ra nhanh hơn
Nhu cầu về một thị trường chứng khoán tại Việt Nam ngày càng trở nên bức thiết
do những lý do mà em đã nêu trên nên chắc chắn trong tương lai gần Việt Nam sẽ cómột thị trường chứng khoán theo đúng ý nghĩa của nó để đáp ứng các nhu cầu của nềnkinh tế
B Sự phát triển của TTCK ở Việt Nam và vai trò với nền kinh tế :
1. Sự phát triển của TTCK ở Việt Nam :
Trang 11Thị trường chứng khoán tuy hoạt động 12 năm nhưng vẫn là ngành kinh doanh mới,chứa đựng nhiều khó khăn, rủi ro 12 năm nhìn lại, thị trường chứng khoán Việt Nam
đã thực sự có sự trưởng thành sau khi nỗ lực vượt qua nhiều gian khó, qua đó đạtđược những thành tựu đáng khích lệ
Sự trưởng thành của thị trường được thể hiện sinh động qua nhiều con số So với cáchđây 12 năm, quy mô thị trường hiện tăng trên 50 lần, vốn hoá năm đầu tiên dưới 1%GDP, nhưng cuối năm 2011 đạt gần 27% Khối lượng giao dịch cũng tăng 30- 40 lần sovới năm đầu tiên giao dịch Công ty niêm yết trong năm đầu tiên thị trường hoạt động chỉhơn 10 doanh nghiệp, nay tăng lên gần 800 doanh nghiệp
Huy động vốn thực sự là điểm đáng chú ý hơn cả, với gần 700.000 tỷ đồng huyđộng cho nền kinh tế qua 12 năm, đỉnh cao là năm 2007 đạt 127.000 tỷ đồng Luồng vốnđầu tư gián tiếp nước ngoài có thời điểm cao nhất lên đến 12 tỷ USD, nay khoảng 6,7 tỷUSD, góp phần cân bằng cán cân thanh toán, cũng như gia tăng sức hấp dẫn của môitrường đầu tư Việt Nam trong con mắt nhà đầu tư quốc tế
Các tổ chức kinh doanh chứng khoán đã có những bước phát triển về quy mô,mạng lưới công nghệ và trở thành một tổ chức trung gian phục vụ cho hoạt động tư vấn,
cổ phần hóa kết nối cung cầu trên thị trường chứng khoán
Về số lượng tài khoản nhà đầu tư cũng ngày một gia tăng, khi mới có thị trườngchứng khoán chỉ có khoảng 3.000 tài khoản, nhưng đến hiện nay đã có 1,2 triệu tàikhoản Lượng vốn huy động qua thị trường, đặc biệt là từ khối nhà đầu tư nước ngoài đếnnay danh mục của khối này khoảng 8 tỷ USD
Các tổ chức thị trường như Sở, Trung tâm Lưu ký cũng ngày càng phát triển, côngnghệ thông tin đã được cải thiện, nhiều dịch vụ, nghiệp vụ, sản phẩm mới cũng đã đượctriển khai đảm bảo cho hoạt động thị trường được thông suốt, không xảy ra đổ vỡ Khungpháp lý cho thị trường cũng ngày càng được hoàn thiện và từng bước tiếp cận với tiêuchuẩn quốc tế
Kết quả này có được là bởi ngay từ đầu thị trường chứng khoán đã có cơ quanquản lý, có hệ thống luật pháp điều chỉnh tương đối đồng bộ và đặc biệt là sự quan tâmchỉ đạo của Chính phủ Trong đó, có sự đóng góp quan trọng của nhà đầu tư, họ đã bền bỉtham gia thị trường ngay vào những thời điểm khó khăn nhất
2. Vai trò của TTCK đối với nền kinh tế :
Thị trường chứng khoán đang đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với nền kinh
tế các nước trên thế giới nói chung và việt nam nói riêng Khi nền kinh tế hàng hóa thịtrường phát triển đến một mức độ nhất định sẻ cần đến thị trường chứng khoán để hổ trợcho quá trình phát triển
TTCK là một thành phần quan trong của thị trường tài chính, là nơi mà mọi thànhphần kinh tế - xả hội có thể tham gia đầu tư một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào hoạtđộng kinh doanh cảu doanh nghiệp, là nơi mà chính phủ có thể huy động vốn cho nhu cầuđấu tư phát triển kinh tế TTCK có thể xem là kênh dẩn vốn quan trọng chuyển vốn từkhu vực tiết kiệm sang khu vực đầu tư, tăng cường minh bạch trong sản xuất kinh doanh,góp phần phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng quản lý trong nền kinh tế
Góp phần phát triển Thị Trường Tài Chính (TTTC)
Trang 12Sự phát triển của TTCK đã đóng góp vào sự phát triển chung của TTTC ViệtNam , là hệ thống các loại hình định chế như NHTM (NHTM Nhà nước, NHTMCP, ngânhàng liên doanh…), công ty tài chính , công ty đầu tư tài chính, công ty chứng khoán Cho đến thời điểm giữa năm 2011, có thể nói, TTTC Việt Nam đã phát triển khá sâu rộng
và có sự hội nhập quốc tế Số lượng các định chế tài chính đã tăng lên tới con số hàngngàn và tổng tài sản có gấp nhiều lần GDP Việt Nam
TTCK là công cụ chỉ báo hữu hiệu cho nền kinh tế Việt Nam
Khi nền kinh tế phát triển tốt, công chúng đầu tư tin tưởng vào các doanh nghiệp khuvực sản xuất, tin vào môi trường kinh doanh tốt thì các dòng vốn sẽ chảy vào nền kinh
tế đó, do đó, giá chứng khoán sẽ cao, chỉ số chứng khoán sẽ tăng mạnh; và ngược lại,TTCK sẽ giảm sút Các diễn biến đó đã làm cho TTCK được coi là hàn thử biểu của nềnkinh tế và là chỉ báo quan trọng cho các nhà đầu tư và cho các nhà điều hành chính sách
có các điều chỉnh phù hợp Đối với TTCK Việt Nam hiện nay, rõ ràng, khi giá chứngkhoán giảm liên tục, đang phản ánh tình hình kinh tế có biểu hiện mất cân đối: ít nhất làlạm phát gia tăng, thâm hụt thương mại nhiều hoạt động ngân sách và khu vực DNNNyếu kém thất thoát nhiều
TTCK tăng cường quản trị quản lý nền kinh tế vĩ mô và vi mô
TTCK Việt Nam góp phần tăng cường tính minh bạchquản trị điều hành kinh tế (vĩ mô)
và kinh doanh (vi mô) Đánh giá về đóng góp này, như đã nêu, các chỉ số chứng khoánphản ánh rất nhanh tình hìnhkinh tế vĩ mô - phản ánh chất lượng, năng lực điều hànhkinh tế vĩ mô và cũng phản ánh chất lượng quản lý điều hành, kết quả kinh doanh của cácdoanh nghiệp Quá trình phát hành chứng khoán của Chính phủ (trái phiếu)và của doanhnghiệp (cổ phiếu và trái phiếu công ty) và trong quá trình niêm yết cũng phải thực hiệnchế độ công bố thông tin hoạt động, tăng cường quản lý
Tạo kênh huy động vốn đa dạng cho nền kinh tế, cho các doanh nghiệp
Số liệu về huy động vốn qua TTCK cho thấy, thị trường này đã cùng với hệ thống NHTMtạo các kênh vốn đa dạng dài hạn và ngắn hạn cho nền kinh tế, mà nơi được hưởng lợitrực tiếp là các doanh nghiệp đang thiếu nghiêm trọng về vốn trung và dài hạn Số liệu vềphát hành lần đầu (huy động vốn qua TTCK) ở Việt Nam vừa qua cho thấy TTCK đã cótác động khơi thông vốn rất lớn cho TTTC Việt Nam và cũng như khơi thông dòng vốn từnước ngoài chảy vào Việt Nam
C Thực trạng thị trường chứng khoán ở Việt Nam hiện nay :
1. Thị trường chứng khoán Việt Nam còn yếu và đang trong giai đoạn phát triển :
Tổng quan 2 chỉ số VN Index và HNX Index :Trong 5 tháng đầu năm 2012, thị
trường chứng khoán Việt Nam đã có sự hồi phục với khoảng 20% Tuy nhiên , sau nhiềuđợt điều chỉnh và cú sốc bán tháo “Bầu Kiên” ngày 21/8/2012 , thị trường đã đánh mấtthành quả tăng điểm từ đầu năm và đang trong giai đoạn lình xình , chưa rõ xu hướngtrên cả 2 sàn , thanh khoản sụt giảm mạnh
Trang 13
VNINDEX đến 26/10/2012
HNXINDEX đến 26/10/2012
Theo nhóm , có thể xuất phát từ 4 nguyên nhân chính:
Thứ nhất, mặc dù kinh tế vĩ mô đã có nhiều cải thiện hơn, ngay báo cáo Chính phủ
cũng đã đề cập là kinh tế Việt Nam đã đi qua giai đoạn khó khăn nhất, lạm phát giảm,thanh khoản ngân hàng có sự cải thiện, lãi suất có xu hướng giảm, dự trữ ngoại tệ tănglên Nhưng đó chỉ là những mặt tích cực ,nền kinh tế nhìn chung vẫn còn rất nhiều mảngtối , kinh tế vĩ mô vẫn còn rất nhiều khó khăn Trong khi đó, diễn biến thị trường chứng
Trang 14khoán còn phụ thuộc rất lớn vào thực trạng hoạt động của doanh nghiệp và dòng tiền.Thực trạng doanh nghiệp lại cho thấy doanh nghiệp hiện vẫn đang gặp rất nhiều khó khănđặc biệt là vấn đề hàng tồn kho, nợ xấu, đầu ra cho doanh nghiệp; chi phí lãi vay tăng; sốlượng doanh nghiệp niêm yết thua lỗ tăng hơn trước (cuối năm 2011 có 72 công ty thua
lỗ, quý I-2012 là 113 công ty và quý 2 dự báo số lượng này sẽ tăng lên), hơn 60 công tychứng khoán thua lỗ Con số trên cho thấy nền tảng doanh nghiệp đang gặp nhiều khókhăn hơn là thời điểm trước
Thứ hai, tình hình quốc tế cũng đã tiềm ẩn nhiều rủi ro Đầu năm 2012 thì vấn đề
nợ châu Âu rất căng thẳng và đến tháng 6 này tiếp tục căng thẳng; dự báo tăng trưởngtoàn cầu cũng giảm; các chỉ số niềm tin, sản xuất tại Mỹ, châu Âu, Nhật Bản đều sụtgiảm Diễn biến đó khiến cho dòng tiền cũng có sự điều chỉnh Dòng tiền đầu tư nướcngoài vào Việt Nam 6 tháng qua thấp hơn nhiều nếu so với con số của năm 2011 (năm
2011 có 240 triệu USD, 2010 là 1 tỷ USD, trong khi 6 tháng khoảng 50-60 triệu USD)
Trong tháng 5 thì dòng tiền lại có xu hướng rút ra Rõ ràng, khi kinh tế châu Âu vàtoàn cầu có khó khăn thì tái cơ cấu lại danh mục đầu tư xảy ra và dòng tiền có sự điềuchỉnh, ảnh hưởng đến tâm lý thị trường Gần đây thị trường không tăng mạnh như nhữngtháng đầu năm mà có xu hướng giảm, đi ngang Điều này cũng là phù hợp với thực tếđang diễn ra
Thứ ba, lãi suất tuy giảm nhưng tiếp cận vốn ngân hàng khó khăn, tín dụng ra 6
tháng đầu năm ở mức thấp nên dòng tiền cho thị trường cũng còn những điểm hạn chế.Chính phủ đã đề ra nhiều giải pháp cho vấn đề này nhưng các giải pháp cũng cần phải cóthời gian Các biện pháp hỗ trợ thị trường cũng đã được đưa ra như xây dựng chỉ số, kéodài thời gian giao dịch, đưa lệnh thị trường vào, tính toán điều chỉnh biên độ để cải thiệnthanh khoản Tuy nhiên, những biện pháp đó chỉ mang tính nghiệp vụ, kỹ thuật thôi còncái chính vẫn là nền tảng kinh tế vĩ mô
Thứ tư , niềm tin vào thị trường đã bị sụt giảm một cách trầm trọng ,TTCK không
là sân chơi bình đẳng mà trở nên thiếu công bằng đối với các nhà đầu tư
2. Các tác động ảnh hưởng đến TTCK :
Các yếu tố ảnh hưởng ngắn hạn:
Trong ngắn hạn, TTCK lên xuống do những sự kiện hàng ngày, các thông tin cập nhật vềdoanh nghiệp , kể cả do những tin đồn gây nên Trạng thái tâm lý trên thị trường cũng góp phần khiến giá chứng khoán lên xuống Đôi khi nhà đầu tư phản ánh một cách hốt hoảng, thái quá, ngược với mọi logic thường nhật hay các luận cứ kinh tế Điều này có thể dẫn đến thị trường tăng giảm vô căn cứ.Một ví dụ rõ nhất là sự ảnh hưởng mạnh vào ngày 21/8/2012 khi tin Bầu Kiên , một trong những nhân vật trong ngành tài chính bị bắt , kéo theo đó TTCK bị một đợt bán tháo mạnh của các nhà đầu tư , bất kể cổ phiếu tốt hay xấu đều giảm sàn hết biên độ
Các yếu tố ảnh hưởng trung hạn:
Yếu tố lãi suất đóng vai trò quan trọng Việc tăng hay giảm lãi suất của hệ thống tổ chức tín dụng đôi khi còn phát huy tác dụng lên TTCK, vượt trước tác động vào nền kinh tế một thời gian
Tiền và tâm lý cũng là những yếu tố có tính quyết định đến xu hướng thị trường trong trung hạn Nếu chỉ có một trong hai yếu tố tích cực, còn yếu tố kia không có thì thị
Trang 15trường vẫn chưa thể đi lên Một khi tiền cộng với tâm lý phấn khích, TTCK sẽ theo xu hướng đi lên, phát triển nhanh một cách bùng nổ
Các yếu tố ảnh hưởng dài hạn :
Quá trình phát triển nền kinh tế , tình hình chính trị, các chính sách vĩ mô , chính sách tíndụng, tiền tệ , tài khóa luôn rất quan trọng và tác động mạnh tới thị trường chứng
khoán Quá trình kinh doanh của các ngành cũng như từng doanh nghiệp, triển vọng sinh lời của chúng là những yếu tố ảnh hưởng tới TTCK trong một khoảng thời gian dài.Ngoài
ra, vấn đề đối nội, đối ngoại, chủ trương phát triển kinh tế của nhà nước ,, sự phát triển thị trường bất động sản, thị trường vàng, thị trường tiền tệ,… cũng có ảnh hưởng trực tiếpđến TTCK
3 Thị trường UPCoM , OTC thực trạng và hiệu quả mang lại :
Thị Trường UPCOM :
Ngày 24/6/2009 , cùng với việc Sở Giao Dịch Chứng Khoán Hà Nội (HNX) chínhthức đi vào hoạt động , thị trường UPCom cũng bắt đầu mở cửa Trong bối cảnh giaodịch tự do bùng phát mạnh và tiềm ẩn rủi ro hệ thống , UPCom đã được xây dựng với
mục tiêu tăng cường thị trường có tổ chức và quản lý nhà nước Bản chất sàn UPCom
là trạm trung chuyển của các cổ phiếu trước khi niêm yết tại sàn HNX và HOSE
UPCoM áp dụng hai hình thức giao dịch là thỏa thuận thông thường và thỏa thuậnđiện tử với mục tiêu biến các công ty chứng khoán trở thành các nhà tạo lập thị trường.Đến tháng 7/2010, HNX đã thay đổi phương thức giao dịch trên thị trường UPCoM vàchuyển sang áp dụng 2 phương thức giao dịch là khớp lệnh liên tục và thỏa thuận, tương
tự như đối với thị trường cổ phiếu niêm yết .Sau 3 năm ra đời , thị trường UPCoM cóhơn 130 doanh nghiệp đăng ký giao dịch
Các thông tin liên quan đến báo cáo tài chính quý, năm của doanh nghiệp đềukhông có, nên nhà đầu tư phải tự tìm kiếm và đó chính là điều nhà đầu tư cần phải cânnhắc thật kỹ trước quyết định đầu tư dài hạn Đây là thị trường tập dượt cho doanh