1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kích thước các cấu trúc của tai trong ở người trưởng thành trên chụp cắt lớp vi tính

6 67 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 293 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc xác định chính xác các dị dạng của tai trong ảnh hưởng trực tiếp đến chẩn đoán, tiên lượng và điều trị bệnh nhân điếc do thần kinh thính giác. Tuy nhiên, trừ những trường hợp dị dạng rõ ràng về hình thái, nếu chỉ quan sát đơn thuần và không đo kích thước (KT) cụ thể, có thể bỏ sót đến một phần ba trường hợp dị dạng xương nhỏ.

Trang 1

KÍCH THƯỚC CÁC CẤU TRÚC CỦA TAI TRONG

Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH TRÊN CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH

Nguyễn Ngọc Thanh Huyền*, Trần Minh Hoàng*

TÓM TẮT

Mở đầu: Việc xác định chính xác các dị dạng của tai trong ảnh hưởng trực tiếp đến chẩn đoán, tiên lượng

và điều trị bệnh nhân điếc do thần kinh thính giác Tuy nhiên, trừ những trường hợp dị dạng rõ ràng về hình thái, nếu chỉ quan sát đơn thuần và không đo kích thước (KT) cụ thể, có thể bỏ sót đến một phần ba trường hợp dị dạng xương nhỏ

Mục tiêu: Xác định KT các cấu trúc tai trong ở người trưởng thành trên chụp cắt lớp vi tính (CLVT) Phương pháp nghiên cứu: Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang Hình ảnh CLVT vùng xương thái dương

của những đối tượng từ 18 tuổi trở lên được thu thập, tái tạo đa mặt phẳng và đo đạc Thời gian thực hiện từ tháng 10/2014 đến tháng 03/2015

Kết quả: Có 794 hình ảnh tai của 397 đối tượng nghiên cứu (214 nam, 183 nữ, tuổi từ 18 đến 99 tuổi, tuổi

trung bình là 45) Chiều cao, chiều dài, chiều ngang và đường kính (ĐK) lòng xoắn nền ốc tai lần lượt là 4,06 ± 0,20 mm, 8,74 ± 0,37 mm, 6,50 ± 0,33 mm và 2 ± 0,17 mm ĐK lòng ống và chiều rộng đảo xương của ống bán khuyên (OBK) trên là 1,1 ± 0,12 mm và 5,41 ± 0,46 mm; ĐK lòng ống và chiều rộng đảo xương của OBK ngoài

là 1,23 ± 0,15 mm và 3,54 ± 0,40 mm; ĐK lòng ống và chiều rộng đảo xương của OBK sau là 1,16 ± 0,13 mm và

5,18 ± 0,58 mm Chiều dài và chiều rộng tiền đình là 5,32 ± 0,30 mm và 3,39 ± 0,27 mm Chiều rộng và chiều dài

ống thần kinh ốc tai là 2,17 ± 0,24 mm và 0,97 ± 0,12 mm Ống tai trong có chiều dài, ĐK trước sau, ĐK lỗ mở lần lượt là 11,78 ± 1,58 mm, 4,44 ± 0,77 mm và 7,55 ± 1,58 mm Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nam và nữa ở các KT: chiều cao, chiều dài và chiều ngang ốc tai, chiều rộng đảo xương OBK trên, ĐK lòng OBK ngoài,

ĐK lòng ống và chiều rộng đảo xương OBK sau, chiều dài và chiều rộng tiền đình, chiều dài và chiều rộng ống thần kinh ốc tai, ĐK trước sau ống tai trong

Kết luận: Nghiên cứu phần nào cung cấp giá trị KT các cấu trúc tai trong bình thường ở người Việt Nam

trưởng thành Ngoài ra, cần nghiên cứu trên những bệnh nhân có bệnh lý như điếc do thần kinh thính giác để có thể đưa ra các ngưỡng KT bất thường của các cấu trúc của tai trong

Từ khóa: hình ảnh tai, ốc tai, ống bán khuyên, ống bán khuyên ngoài, ống bán khuyên sâu, tiền đình, ống

thần kinh ốc tai, ống tai trong

ABSTRACT

NORMATIVE INNER – EAR MEASUREMENTS OF ADULTS ON COMPUTED TOMOGRAPHY

SCANS

Nguyen Ngoc Thanh Huyen, Tran Minh Hoang

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 20 - Supplement of No 1 - 2016: 51 - 56

Background: The acurrate indentification of inner ear malformations will have a direct impact on the

diagnosis, prognosis, and management of patients with sensorineural hearing loss Nearly one third of less severe inner ear dysplasia are missed by simple visual inspection without exactly measuring of the radiologic images

Objective: We describe the normative inner – ear mearsurements of Vietnamese adults on 64 - slice

computed tomography (CT) imaging.

* Bộ môn Chẩn đoán Hình ảnh, khoa Y, Đại học Y Dược TPHCM

Tác giả liên lạc: BS Nguyễn Ngọc Thanh Huyền ĐT: 0973831055 E-mail: drnguyenhuyen@gmail.com

Trang 2

Materials and Methods: We performed cross - sectional study and inner – ear images obtained from

temporal computed tomography scans of subjects from 18 years old were reconstructed and analyzed during the time from 10/2014 to 3/2015

Results: 794 inner – ear images wre obtained from the scan of 397 subjects (214 males and 183 females, aged

18 – 99 years old, mean = 45 years) The results showed that the mean cochlear height measured 4.06 ± 0.20 mm, length 8.74 ± 0.37 mm, width 6.50 ± 0.33 mm, basal turn width 2 ± 0.17 mm; superior semicircular canal: canal lumen 1.1 ± 0.12 mm, bony island width 5.41 ± 0.46 mm; lateral semicircular canal: canal lumen 1.23 ± 0.15 mm, bony island width 3.54 ± 0.40 mm; posterior semicircular canal: canal lumen 1.16 ± 0.13 mm, bony island width 5.18 ± 0.58 mm; vestibule: length 5.32 ± 0.30 mm, width 3.39 ± 0.27 mm; cochlear nerve bony canal: length 0.97

± 0.12 mm, width 2.17 ± 0,24 mm; internal auditory canal: length 11.78 ± 1.58 mm, vertical diameter 4.44 ± 0.77

mm, opening width 7.55 ± 1.58 mm There are significantly differences between male and female about cochlea height, length and width, bony island width of superior semicircular canal, canal lumen of lateral semicircular canal, bony island width and canal lumen of posterior semicircular canal, vestibular length and width, length and width of cochlear nerve bony canal, vertical diameter of internal auditory canal

Conclusion: This investigation has supplied normative inner – ear mearsurements of Vietnamese adults

Further studies of inner – ear dimensions in patients with diseases such as sensorineural hearing loss are recommended to determine other physiologic correlations

Key words: inner ear, cochlear, superior semicircular canal, lateral semicircular anal, posterior semicircular

canal, vestibule, cochlear nerve bony canal, internal auditory canal

ĐẶT VẤN ĐỀ

Việc xác định chính xác các dị dạng của tai

trong ảnh hưởng trực tiếp đến chẩn đoán, tiên

lượng và điều trị bệnh nhân điếc do thần kinh

thính giác(2) Chụp cắt lớp vi tính (CLVT) là

phương tiện rất tốt để đánh giá những bất

thường bẩm sinh của vùng xương thái dương,

nhất là những dị dạng tai trong như bất thường

mê đạo, dị dạng ốc tai, hẹp ống tai trong…(3,8,22)

Tuy nhiên, trừ những trường hợp dị dạng rõ

ràng về hình thái, nếu chỉ quan sát đơn thuần và

không đo kích thước (KT) cụ thể, thường có thể

bỏ sót đến một phần ba trường hợp dị dạng

xương rất nhỏ như loạn sản ống bán khuyên

ngoài hay thiểu sản ốc tai(4,18)

Trên thế giới đã có các nghiên cứu về KT tai

trong cho thấy có nhiều ý nghĩa lâm sàng Vì

vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với các

mục tiêu sau:

- Khảo sát KT ốc tai, các ống bán khuyên,

tiền đình, ống thần kinh ốc tai và ống tai trong

-So sánh sự khác biệt về KT các cấu trúc của

tai trong giữa nam và nữ

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Tiêu chuẩn chọn mẫu

Người Việt Nam trưởng thành không kể giới tính, đến từ phòng khám ngoại chẩn hoặc điều trị tại các khoa, trại nội viện, được chụp CLVT vùng xương thái dương tại khoa Chẩn đoán hình ảnh bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 10/2014 đến tháng 03/2015

Tiêu chuẩn loại trừ

Những bệnh nhân được chỉ định chụp CLVT

vì bệnh lý tai và những trường hợp phát hiện có tổn thương tai (u, viêm, chấn thương, dị dạng bẩm sinh…) trên hình chụp CLVT

Thiết kế nghiên cứu

Mô tả cắt ngang

Phương pháp thu thập số liệu

Địa điểm nghiên cứu: khoa Chẩn đoán hình ảnh bệnh viện Chợ Rẫy

Kỹ thuật chụp CLVT đa lát cắt xương thái dương được thực hiện với tư thế bệnh nhân nằm ngửa, hai tay dọc theo thân Chụp xoắn ốc với các thông số: hiệu điện thế 120 kV, cường độ dòng điện 230 mAs, độ dày lát cắt 0,6 mm, ma

Trang 3

trận 512 x 512, bước bàn 0,85, trường khảo sát 70

mm, độ rộng và trung tâm cửa sổ 4000 và 700

đơn vị Hounsfield

Dựa vào dữ liệu thô trên máy tính chủ, thực

hiện tái tạo đối với từng tai bên phải và bên trái

để được hình cắt ngang có độ dày tái tạo 0,6

mm, trường khảo sát 50 mm, độ rộng và trung

tâm của sổ 4000 và 700 đơn vị Hounsfield Từ

đó, bằng phần mềm tái tạo đa mặt phẳng, tiếp

tục dựng hình các mặt phẳng đứng dọc chếch

đơn và đứng dọc chếch đôi qua các cấu trúc của

tai trong cần khảo sát với độ dày mặt phẳng tái

tạo là 0,6 mm, theo phương pháp của tác giả

Lane và cộng sự(7) Cuối cùng, thực hiện phóng

đại hình ảnh lên gấp hai lần, đo các thông số với

đơn vị là mm và ghi vào bảng thu thập số liệu

KẾT QUẢ

Có 794 hình ảnh tai của 397 đối tượng

nghiên cứu (214 nam, 183 nữ, tuổi từ 18 đến 99

tuổi, tuổi trung bình là 45)

Trung bình (mm) Độ lệch chuẩn

(mm)

Ốc tai

Ống bán khuyên trên

Chiều rộng đảo

Ống bán khuyên ngoài

Chiều rộng đảo

Ống bán khuyên sau

Chiều rộng đảo

Tiền đình

Ống thần kinh ốc tai

Ống tai trong

* ĐK: đường kính

Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nam và nữa ở các KT sau: chiều cao, chiều dài và chiều ngang ốc tai, chiều rộng đảo xương OBK trên, ĐK lòng OBK ngoài, ĐK lòng ống và chiều rộng đảo xương OBK sau, chiều dài và chiều rộng tiền đình, chiều dài và chiều rộng ống thần kinh ốc tai, ĐK trước sau ống tai trong

BÀN LUẬN

Về mặt lâm sàng, việc thiết lập giá trị bình thường của chiều cao ốc tai rất quan trọng nhằm tạo điều kiện chẩn đoán thiểu sản hoặc những dị dạng bẩm sinh khác của ốc tai Việc tìm ra những bất thường đặc trưng về giải phẫu liên quan đến điếc có thể giúp ích cho điều trị, chẳng hạn trong lập kế hoạch phẫu thuật cấy ghép ốc tai cho bệnh nhân và khảo sát những nguyên nhân dẫn đến điếc bẩm sinh(14)

Một nghiên cứu của tác giả Fernando và cộng sự khảo sát chiều cao và chiều dài ốc tai của người Philippines cho kết quả khác biệt

so với chúng tôi, cụ thể là số đo của tác giả Fernando nhỏ hơn so với của chúng tôi(2) Ngoài ra, nghiên cứu của tác giả Hassan và cộng sự ở Sudan, Châu Phi vào năm 2014 cũng cho kết quả chiều cao, chiều dài và ĐK lòng xoắn nền ốc tai nhỏ hơn so với nghiên cứu của chúng tôi(2) Sự khác biệt này có thể

do mặt phẳng khảo sát để đo KT và chủng tộc khác nhau Tác giả Fernando sử dụng các lát cắt ở mặt phẳng ngang qua ốc tai để phân tích, còn tác giả Hassan đo các KT ở mặt phẳng ngang song song với ống bán khuyên ngoài, chiều dài ốc tai được đo ở ngang mức vòng xoắn thứ hai nên nhỏ hơn so với đo ở mức vòng xoắn nền Chúng tôi đo chiều cao

ốc tai ở mặt phẳng đứng dọc chếch đơn, đo chiều dài ốc tai ở mặt phẳng đứng ngang chếch đôi qua vòng xoắn nền để thể hiện rõ nhất hình ảnh ốc tai, vì trục của ốc tai (từ đáy đến đỉnh ốc tai) nghiêng về phía trước ngoài nên không thể xem tốt nhất ở mặt phẳng ngang hay đứng ngang thông thường(7)

Trang 4

Một nghiên cứu khác của tác giả Nemzek và

cộng sự ở Mỹ khảo sát 8 mẫu xác người lớn và

18 mẫu bào thai được cố định bằng formalin,

được chụp X quang, chụp CLVT và cộng hưởng

từ Sau khi phân tích hình ảnh, tác giả có kết quả

chiều dài ốc tai của mẫu xác người lớn và bào

thai lần lượt là 8,81 mm và 7,86 mm(15) Kết quả ở

nhóm xác người lớn khá tương đồng với KT

trong nghiên cứu của chúng tôi (8,74 mm), mặc

dù số lượng mẫu của tác giả Nemzek là khá nhỏ

Ngoài ra, chiều dài ốc tai của nhóm mẫu bào thai

nhỏ hơn so với nhóm mẫu xác người lớn trong

nghiên cứu của Nemzek và nhỏ hơn so với kết

quả trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi

Nguyên nhân có thể do trong nghiên cứu của tác

giả Nemzek, các mẫu bào thai có độ tuổi từ 13,5

đến 24,4 tuần thai, trong khi đó thời điểm bao tai

cốt hóa nhanh và hoàn thiện là từ tuần 18 đến 24

của thai kỳ để đạt được KT xương như người

trưởng thành Do đó, kết quả thu được từ nhóm

mẫu này nhỏ hơn nhóm mẫu xác người lớn và

mẫu của chúng tôi

Những tiến bộ ngày nay của kỹ thuật hình

ảnh chụp CLVT có thể hiển thị ở mức độ phân

giải đủ để khảo sát những cấu trúc giải phẫu cơ

bản của tai trong, giúp xác định KT các chi tiết

phức tạp, những biến thể và bất thường cấu

trúc(17) Việc sử dụng chụp CLVT có thể tiến

hành kết hợp với các nghiên cứu hoặc khảo

nghiệm khác về chức năng hay đo thính lực đồ,

trong khi điều này rất khó làm được khi nghiên

cứu trên mẫu xác

Trong lô nghiên cứu của mình, tác giả

Purcell ghi nhận tất cả bệnh nhân loạn sản ống

bán khuyên ngoài đều có bất thường về KT

đảo xương đo trên mặt phẳng ngang(16) Loạn

sản ống bán khuyên ngoài thường xảy ra đơn

độc và gặp nhiều hơn so với ống bán khuyên

trên và ống bán khuyên sau Ngược lại, rất

hiếm gặp loạn sản ống bán khuyên trên hay

sau mà không kèm bất thường ống bán

khuyên ngoài Điều này do giai đoạn hình

thành của ống bán khuyên ngoài muộn hơn so với ống bán khuyên trên và sau, nên bất kỳ bất thường nào của ống bán khuyên trên cũng có thể dẫn đến bất thường ống bán khuyên ngoài(3) Vì vậy, tác giả Purcell cho rằng nếu ống bán khuyên ngoài có dị dạng, nên đánh giá cẩn thận ống bán khuyên trên và sau(4) Chúng tôi ghi nhận chiều rộng đảo xương của ống bán khuyên ngoài có giá trị tương đồng với báo cáo của tác giả Lan và cộng sự, nhưng khác về các KT còn lại Sự khác biệt này có thể ảnh hưởng bởi chủng tộc và cỡ mẫu nghiên cứu khác nhau

Kết quả của chúng tôi tương đồng với chiều dài và chiều rộng ống thần kinh ốc tai trong báo cáo của Fatterpekar ở Mỹ trên hình chụp CLVT của 50 đối tượng(1), nhưng khác so với nghiên cứu của Hassan thực hiện ở Sudan với số lượng mẫu là 200 người(2) Sự khác biệt này có thể ảnh hưởng bởi cỡ mẫu hoặc chủng tộc khác nhau Điếc do thần kinh thính giác là tình trạng bệnh lý liên quan đến bất thường ốc tai (phần nhận cảm) hoặc sau ốc tai (phần thần kinh), trong khi cơ chế dẫn truyền, cơ bản gồm có màng nhĩ và chuỗi xương con, đa phần là bình thường Mặc dù nguyên nhân vẫn chưa được chắc chắn, trước đây người ta vẫn cho rằng viêm

mê đạo màng là cơ chế bệnh sinh quan trọng ở nhiều bệnh nhân, không liên quan đến mê đạo xương bao bên ngoài(19) Tuy nhiên, những nghiên cứu ngày nay đã khảo sát được các bất thường xương của tai trong chưa từng được phát hiện trước đây, đặc biệt là những cấu trúc nhỏ như ống xương thần kinh ốc tai, trụ ốc tai(1,7) Khi so sánh với nghiên cứu của tác giả Marques và cộng sự ở Brazil phân tích hình ảnh ống tai trong trên chụp CLVT của 60 người trưởng thành, chúng tôi nhận thấy ĐK trước sau ống tai trong trong nghiên cứu của chúng tôi khá tương đồng, nhưng chiều dài và

ĐK lỗ mở lại lớn hơn so với tác giả Marques(5)

Sự khác biệt về chủng tộc, cỡ mẫu có thể ảnh

Trang 5

hưởng đến kết quả, ngoài ra, tác giả Marques

và một số nghiên cứu khác còn cho rằng hình

dạng của ống tai trong rất thay đổi, cụ thể cơ

bản có ba loại là dạng phễu, dạng trụ và dạng

nụ, do đó có sự biến thiên khá rộng về KT của

ống tai khi đo KT(6,20) Có khoảng 40% bệnh

nhân điếc do thần kinh thính giác bẩm sinh có

dị dạng cấu trúc tai trong được phát hiện trên

hình ảnh học nói chung và 25% được xác định

trên hình chụp CLVT vùng xương thái dương

nói riêng Trong đó, dị dạng ống tai trong

hiếm gặp và chỉ chiếm khoảng 12% các bất

thường bẩm sinh vùng xương thái dương(11,13)

Hầu hết các nghiên cứu trước đây đều cho

rằng ĐK ống tai trong từ 2 đến 8 mm, trung

bình khoảng 4 mm KT nhỏ hơn 2 mm được

xem là hẹp ống tai trong theo y văn(21)

Kết quả của chúng tôi tương đối phù hợp với

nghiên cứu của tác giả Mori và cộng sự về chiều

cao ốc tai(14) Khi phân tích hình ảnh chụp CLVT

của 211 bệnh nhân từ 1 tháng đến 23 tuổi, tác giả

Mori nhận thấy có sự khác biệt giữa nam và nữ

về chiều cao ốc tai, cụ thể là 5,5 mm ở nam, cao

hơn so với 5,3 mm ở nữ Tác giả cho rằng sự

khác biệt này không có vai trò chức năng đáng

kể nhưng có thể sử dụng để thiết lập chiều cao

ốc tai bình thường theo giới, hỗ trợ việc chẩn

đoán thiểu sản ốc tai Những thông số bình

thường theo giới này có thể được sử dụng cho

mọi lứa tuổi để chẩn đoán thiểu sản ốc tai

KẾT LUẬN

Nghiên cứu phần nào cung cấp giá trị KT các

cấu trúc tai trong bình thường ở người Việt Nam

trưởng thành Ngoài ra, cần nghiên cứu trên

những bệnh nhân có bệnh lý như điếc do thần

kinh thính giác để có thể đưa ra các ngưỡng giới

hạn KT bất thường của các cấu trúc của tai trong

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Fatterpekar GM, Mukherji SK, Alley J, Lin Y (2000)

Hypoplasia of the Bony Canal for the Cochlear Nerve in

Patients with Congenital Sensorineural Hearing Loss: Initial

Observations.Radiology, 215 (1): 243-246

2 Fernando AF, De Jesus BJ, Opulencia AP, Maglalang GM (2011) An Anatomical Study of the Cochlea among Filipinos using High-Resolution Computed Tomography Scans.Philipp

J Otolaryngol Head Neck Surg, 26 (1): 6-9

3 Jackler RK, Luxford WM, House WF (1987) Congenital malformations of the inner ear: a classification based on embryogenesis.Laryngoscope, 97 (3): 2-14

4 Johnson J, Lalwani AK (2000) Sensorineural and conductive hearing loss associated with lateral semicircular canal malformation.Laryngoscope, 110 (10): 1673-1679

5 Kesser BW, Raghavan P, Mukherjee S, Carfrae M (2010) Duplication of the internal auditory canal: radiographic imaging case of the month.Otol Neurotol, 31(8): 1352-1353

6 Kobayashi H, Zusho H (1987) Measurements of internal auditory meatus by polytomography 1 Normal subjects.Br J Radiol, 60(711): 209-214

7 Lane JI, Lindell EP, Witte RJ, DeLone DR (2006) Middle and Inner Ear: Improved Depiction with Multiplanar Reconstruction of Volumetric CT Data.RadioGraphics, 26(1): 115-124

8 Lemmerling M, Vanzieleghem B, Dhooge I, Van Cauwenberge P, Kunnen M (2001) CT and MRI of the semicircular canals in the normal and diseased temporal bone.European Radiology, 11(7): 1210-1219

9 Lemmerling MM, Mancuso AA, Antonelli PJ, Kubilis PS (1997) Normal modiolus: CT appearance in patients with a large vestibular aqueduct.Radiology, 204 (1): 213-219

10 Lubna AH, Caroline EA, Hussein AH (2014) Normative Sudanese Cochlea Measurements Using High Resolution Computerized Tomography.Global Advanced Research Journal of Medicine and Medical Science, 3 (6): 117-123

11 Mafong Derek D, Shin Edward J, Lalwani AK (2002) Use of Laboratory Evaluation and Radiologic Imaging in the Diagnostic Evaluation of Children With Sensorineural Hearing Loss.The Laryngoscope, 112 (1): 1-7

12 Marques SR, Ajzen S, D´Ippolito G, Alonso L, Isotani S, et al (2012) Morphometric Analysis of the Internal Auditory Canal

by Computed Tomography Imaging.Iran J Radiol, 9 (2): 71-78

13 McClay JE, Booth TN, Parry DA, Johnson R, Roland P (2008) Evaluation of pediatric sensorineural hearing loss with magnetic resonance imaging.Arch Otolaryngol Head Neck Surg, 134 (9): 945-952

14 Mori MC, Chang KW (2012) CT Analysis Demonstrates That Cochlear Height Does Not Change with Age American Journal of Neuroradiology, 33 (1): 119-123

15 Nemzek W R, Brodie H A, Chong B W, Babcook C J (1996) Imaging findings of the developing temporal bone in fetal specimens.American Journal of Neuroradiology, 17(8):

1467-1477

16 Purcell D, Johnson J, Fischbein N, Lalwani AK (2003) Establishment of normative cochlear and vestibular measurements to aid in the diagnosis of inner ear malformations.Otolaryngology - Head and Neck Surgery, 128(1): 78-87

17 Purcell DD, Fischbein NJ, Patel A, Johnson J (2006) Two Temporal Bone Computed Tomography Measurements Increase Recognition of Malformations and Predict Sensorineural Hearing Loss.The Laryngoscope, 116(8):

1439-1446

18 Purcell DD, Fischbein N, Lalwani AK (2003) Identification of previously "undetectable" abnormalities of the bony labyrinth

Trang 6

with computed tomography measurement Laryngoscope,

113(11): 1908-1911

19 Shusterman D, Handler SD, Marsh RR, Bilaniuk L, Tom LW

(1992) Usefulness of computed tomographic scan in the

evaluation of sensorineural hearing loss in children.Arch

Otolaryngol Head Neck Surg, 118 (5): 501-503

20 Thomsen J, Reiter S, Borum P (1981) Tomography of the

internal acoustic meatus A critical evaluation of the

radiological appearance in normals and in patients with

acoustic neuromas.J Laryngol Otol, 95 (12): 1191-1204

21 Valvassori GE, Pierce RH (1964) The normal internal auditory

canal.Am J Roentgenol Radium Ther Nucl Med, 92:

1232-1241

22 Yiin RS, Tang PH, Tan TY (2011) Review of congenital inner ear abnormalities on CT temporal bone.Br J Radiol, 84 (1005): 859-863

Ngày nhận bài báo: 29/10/2015 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 05/11/2015 Ngày bài báo được đăng: 10/02/2016

Ngày đăng: 15/01/2020, 22:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm