1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát các đặc điểm chuyển dạ giai đoạn hai của các thai phụ có gây tê ngoài màng cứng ở Bệnh viện Đa khoa Thiện Hạnh

5 72 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 291,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh các ưu điểm nổi trội được biết đến như làm giảm đau, giảm căng thẳng lo âu cho thai phụ do cơn gò tử cung trong chuyển dạ gây ra, thì GTNMC còn có thể là một trong những nguyên nhân gây chuyển dạ kéo dài và làm tăng nguy cơ sinh giúp ở thai phụ.

Trang 1

KHẢO SÁT CÁC ĐẶC ĐIỂM CHUYỂN DẠ GIAI ĐOẠN HAI CỦA CÁC THAI PHỤ CÓ GÂY TÊ NGOÀI MÀNG CỨNG

Ở BỆNH VIỆN ĐA KHOA THIỆN HẠNH

Trần Thị Thu Huyền*, Nguyễn Hồng Hoa**

TÓM TẮT

Mở đầu: Ngày nay nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật, việc sử dụng gây tê ngoài màng cứng

(GTNMC) đã trở thành một phương pháp giảm đau sản khoa phổ biến tại các bệnh viện Phụ sản trên thế giới và Việt Nam Bên cạnh các ưu điểm nổi trội được biết đến như làm giảm đau, giảm căng thẳng lo âu cho thai phụ do cơn gò tử cung trong chuyển dạ gây ra, thì GTNMC còn có thể là một trong những nguyên nhân gây chuyển dạ kéo dài và làm tăng nguy cơ sinh giúp ở thai phụ Tại Việt Nam, các nghiên cứu về GTNMTC và kết cục thai kỳ

đã từng được thực hiện nhưng có nghiên cứu nào tập trung khảo sát các đặc điểm của chuyển dạ giai đoạn II nên chúng tôi thực hiện nghiên cứu này tại Bệnh viện Đa khoa Thiện Hạnh, 1 bệnh viện tư nhân ở Đắklắk có tỉ lệ sử dụng GTNMC giảm đau cho thai phụ từ 40-60%

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm của chuyển dạ giai đoạn hai của các thai phụ có GTNMC

Phương pháp nghiên cứu: Báo cáo hàng loạt ca trong thời gian từ 01/01/2016 đến 31/12/2016

Kết quả: Trên 614 thai phụ bước vào giai đoạn hai chuyển dạ có gây tê ngoài màng cứng: thời gian trung

bình của chuyển dạ giai đoạn hai: đối với con so 1,4 ± 0,79 giờ, còn đối với con rạ là 0,8 ± 0,46 giờ; Tim thai dao động từ 110 - 160 lần/phút có tỷ lệ 98,05%; Có sử dụng oxytocin để tăng cơn gò tử cung chiếm 91,99%; Tỷ lệ sinh thường là 93,81%, sinh giúp: 2,12% và sinh mổ: 4,07%

Kết luận: GTNMC dường như không là nguyên nhân gây kéo dài giai đoạn hai của chuyển dạ cũng như

không là yếu tố tăng tỉ lệ sinh giúp Nhưng có tỉ lệ cao sử dụng oxytocin để tăng cơn co tử cung trong chuyển dạ giai đoạn II của các trường hợp có GTNMC

Từ khóa: Gây tê ngoài màng cứng trong chuyển dạ, chuyển dạ giai đoạn hai

ABSTRACT

DISCRIBING CHARACTERISTICS OF THE SECOND STAGE OF LABOR IN PREGEGNANCY

WOMEN USED EPIDURAL ANALGESIA IN THIEN HANH HOSPITAL

Tran Thi Thu Huyen, Nguyen Hong Hoa

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 22 - No 1- 2018: 75 - 79

Background: A retrospective review of 614 selected records of parturient labors used epidural analgesia

administration in order to describe the characteristics of the second stage of labor Labor management and outcomes were also collected

Methods: Case report

Results: The second-stage length in labor of nulliparasis 1.4 ± 0.79 (hours) and of multiparas is 0.8 ± 0.46

(hours); fetal heart rate during 110 – 160 BPM (98.05%); having induced by oxytocin with 91.99%; the rate of spontaneous vaginal delivery: 93.81%, instrumental vaginal delivery: 2.12%, and 4.07% cesarean deliveries

* Bệnh viện đa khoa Thiện Hạnh- ĐakLak **Bộ môn Phụ Sản, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: TS.BS Nguyễn Hồng Hoa ĐT: 0908285186 Email: drhonghoa73@gmail.com

Trang 2

Conclusions: The epidural analgesia is not either considered the related factor of longer mean length of the second stage or likely to experience instrument-assisted delivery However, labors in the epidural group were more likely

to have oxytocin induction or augmentation

Conclusion: Epidural analgesia did not increase the incidence of instrumental assisted delivery and was not

associated with prolonged second stage of labor

Keywords: Epidural analgesia in labor, the second stage of labor

ĐẶT VẤN ĐỀ

Gây tê ngoài màng cứng (GTNMC) là một

phương pháp giảm đau trong chuyển dạ được

áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới Hằng năm có

khoảng 60% thai phụ trong chuyển dạ lựa chọn

giảm đau sản khoa (2,4 tỉ thai phụ) theo thống kê

của Mỹ(10) Tại Việt Nam có rất nhiều bệnh viện

sản phụ khoa đã áp dụng phương pháp

GTNMC trong đó có bệnh viện Hùng Vương và

bệnh viện Từ Dũ từ những năm 1998 và 1999

GTNMC được đánh giá và công nhận là phương

pháp điều trị giảm đau hiệu quả và an toàn(8)

Tuy nhiên, GTNMC có thể là một trong những

nguyên nhân gây chuyển dạ giai đoạn hai kéo

dài dẫn tới sinh giúp(3,13) Nghiên cứu của Yancey

MK và cộng sự(11)ghi nhận ở bệnh viện Tripler

Army có tỷ lệ thai phụ gây tê ngoài màng cứng

tăng lên gần 60% nhưng tỷ lệ sinh giúp không

thay đổi (từ 11,1% lên 11,9%) Nghiên cứu mới

nhất của Anim S.M và cs lại khẳng định sản phụ

có gây tê ngoài màng cứng tăng nguy cơ sinh

giúp 1,42 lần (KTC 95% 1,28 đến 1,57) và kéo dài

giai đoạn hai chuyển dạ gấp 13,66 lần (KTC 95%:

6,67 - 20,66), tăng nguy cơ sử dụng oxytocin lên

1,19 lần (KTC 95% 1,03 đến 1,39)(1) Như vậy,các

nghiên cứu hiện nay vẫn còn tiếp tục thực hiện

để xác định GTNMC có làm thay đổi thời gian

chuyển dạ giai đoạn hai và tăng nguy cơ sinh

giúp hay không? Hiện tại có nhiều nghiên cứu

đánh giá về GTNMC trong sản khoa tại Việt

Nam nhưng chưa có nghiên cứu tập trung khảo

sát đặc điểm giai đoạn hai của chuyển dạ trong

các trường hợp sinh ngã âm đạo có GTNMC

Bệnh viện Đa Khoa Thiện Hạnh Đăk Lăk là một

bệnh viện đa khoa tư nhân ở khu vực Tây

Nguyên, khoa Sản áp dụng giảm đau sản khoa

từ đầu năm 2006, cho nên chúng tôi quyết định

tiến hành nghiên cứu với kỳ vọng mang lại những giá trị về chẩn đoán và xử trí giai đoạn hai của chuyển dạ cho các bác sỹ lâm sàng

Mục tiêu nghiên cứu

Mô tả đặc điểm của chuyển dạ giai đoạn hai trên các thai phụ có gây tê ngoài màng cứng (thời gian giai đoạn hai cuộc chuyển dạ, đặc điểm tim thai, cơn gò, vị trí của thai trong khung

chậu, cách sinh)

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Một nghiên cứu báo cáo hàng loạt ca từ 01/01/2016 đến 31/12/2016 trên 614 thai phụ có gây tê ngoài màng cứng bước vào giai đoạn hai chuyển dạ tại khoa sản bệnh viện Đa khoa Thiện Hạnh.Thu thập số liệu theo hồ sơ bệnh án lưu

Tiêu chuẩn chọn vào:

Những thai phụ có sử dụng giảm đau sản khoa bằng gây tê ngoài màng cứng thỏa các tiêu chuẩn: Các thai phụ đạt tiêu chuẩn ASA I – II và bước vào giai đoạn hai của cuộc chuyển dạ

Tiêu chuẩn loại trừ:

Không ghi đầy đủ các số liệu về cuộc sinh như: thời điểm giai đoạn hai chuyển dạ, cơn gò

tử cung, tim thai, ngôi thai, độ lọt, màu sắc nước

ối Thai chết lưu, thai dị tật bẩm sinh nặng có chỉ

định chấm dứt thai kỳ

KẾT QUẢ

Qua phân tích 614 trường hợp, chúng tôi thu được kết quả như sau:

Đặc điểm dịch tễ

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tuổi mẹ

trung bình là 26,27 ± 4,73 (Bảng 1) Thai phụ

nhỏ nhất là 16 tuổi và thai phụ lớn tuổi nhất là

44 tuổi Thai phụ con so chiếm tỷ lệ 67,92%;

Trang 3

thai phụ con rạ chiếm 32,08% Tuổi thai trung

bình 38,65 ± 1,02 tuần; tuổi thai nhỏ nhất trong

nghiên cứu là 30 tuần và tuổi thai lớn nhất là

41 tuần

Bảng 1 Đặc điểm dịch tễ đối tượng nghiên cứu

Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Tuổi mẹ (tuổi)

Trung bình 26,27 ± 4,73

Tiền thai

Tuổi thai (tuần)

Trung bình 38,65 ± 1,02

Thời gian chuyển dạ giai đoạn hai

Đối với con so thời gian trung bình của

chuyển dạ giai đoạn hai là 1,4 ± 0,79 giờ (Bảng

2) Trường hợp chuyển dạ giai đoạn hai nhanh

nhất là 5 phút (0,09 giờ) và dài nhất là 5 giờ Đối

với con rạ thời gian trung bình của chuyển dạ

giai đoạn hai là 0,8 ± 0,46 giờ Trường hợp

chuyển dạ giai đoạn hai nhanh nhất là 5 phút

(0,09 giờ) và dài nhất là 2 giờ 55 phút (2,92 giờ)

Bảng 2 Thời gian chuyển dạ giai đoạn hai:

Đặc điểm Trung bình Lớn nhất Nhỏ nhất

Thời gian giai đoạn: 2 (giờ)

Con so 1,4 ± 0,79 5,00 0,09

Con rạ 0,8 ± 0,46 2,92 0,09

Đặc điểm chuyển dạ giai đoạn hai

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tần số tim

thai 110-160 lần/phút của thai phụ bước vào

giai đoạn hai chuyển dạ chiếm 98,05%; tần số

tim thai < 110 lần/phút và tim thai > 160

lần/phút chiếm tỷ lệ thấp đều là 0,98% (Bảng

3) Trong giai đoạn hai chuyển dạ, thai phụ sử

dụng oxytocin chiếm tỷ lệ cao 91,69% Kiểu

thế trước tại thời điểm này chiếm 88,11%; kiểu

thế sau chiếm 11,40%; chỉ có 3 trường hợp là

kiểu thế ngang chiếm 0,49% Đa số sinh

thường chiếm tỷ lệ 93,81%; đối tượng tham gia

nghiên cứu sinh giúp cụ thể là sinh kềm chiếm

2,12% và sinh mổ chiếm 4,07%

Bảng 3 Đặc điểm chuyển dạ giai đoạn hai

Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Tim thai (lần/phút)

Sử dụng oxytocin (giọt/phút)

Kiểu thế

Cách sinh

BÀN LUẬN

Theo bảng 1, đối tượng tham gia nghiên cứu của chúng tôi là lứa tuổi sinh đẻ của người phụ nữ Việt Nam Và tuổi thai trung bình chủ yếu là thai đủ trưởng thành Bên cạnh đó trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ con so và con rạ tương tự như nghiên cứu của Phan Thị Thu Ba

và của Phan Thị Hằng(7,8) GTNMC được thai phụ con so chấp nhận nhiều hơn con rạ vì thời gian chuyển dạ kéo dài hơn ở những thai phụ sinh con so và họ chưa từng trải qua những cơn đau của cuộc chuyển dạ nên chưa có sự chuẩn

bị về tâm lý nhiều

Trong bảng 2, thời gian trung bình của chuyển dạ giai đoạn hai trong nghiên cứu của chúng tôi đối với con so (1,4 ± 0,79 giờ) Nghiên cứu của Rimaitis K là 0,9 ± 0,2 giờ và với nghiên cứu của Yee LM có thời gian trung bình của giai đoạn hai là 3,1 ± 0,02 giờ(10,13) Điều này được lý giải do các nghiên cứu khác nhau lựa chọn đối tượng nghiên cứu khác nhau, nồng độ thuốc GTNMC, liều lượng thuốc GTNMC khác nhau giữa các nghiên cứu Thời gian trung bình của chuyển dạ giai đoạn hai đối với con rạ trong nghiên cứu của chúng tôi (0,8 ± 0,46 giờ) tương đương so với nghiên cứu của Rimaitis K 1,1 ± 0,3 giờ(8) Thời gian trung bình của giai đoạn hai của chúng tôi ở con so và con rạ đều dưới 2 giờ, điều này ghi nhận cho thấy GTNMC không làm kéo

Trang 4

dài giai đoạn hai cuộc chuyển dạ, kết quả này

tương đương với nghiên cứu của Phan Thị Thu

Ba ghi nhận GTNMC không làm kéo dài giai

đoạn hai cuộc chuyển dạ(8)

Theo Bảng 3, nghiên cứu của chúng tôi chủ

yếu tim thai dao động từ 110 – 160 lần/phút đây

là biều hiện thai nhi chưa có dấu hiện thiếu oxy

Đa số các trường hợp có kiểu thế trước và kiểu

thế sau là kiểu thế thuận lợi tiên lượng sinh ngã

âm đạo thành công và phù hợp với tỷ lệ kiểu thế

trong dân số chung (kiểu thế ngang chiếm

5-10%) Trong nghiên cứu của chúng tôi có 3

trường hợp kiểu thế ngang đều mổ lấy thai trong

giai đoạn hai do đầu không lọt và tim thai suy

Tương tự nghiên cứu của tác giả Atanasova M(2)

Nghiên cứu của chúng tôi có tỷ lệ sử dụng

Oxytocin khá cao nên có thể là yếu tố dẫn tới

thời gian chuyển dạ giai đoạn hai của chúng tôi

không kéo dài (bảng 3) Kết quả của chúng tôi

tương đương với kết quả của tác giả Đỗ Văn Lợi

có truyền oxytocin tăng co với tổng dịch truyền

trong cuộc chuyển dạ dao động từ 150ml - 190

ml dung dịch Glucose 5%(5) Nhưng, khác với các

nghiên cứu của tác giả Cheng YW và tác giả

Singh SK có tỷ lệ sử dụng oxytocin trong nhóm

GTNMC thấp hơn(3,4,11) Điều này có thể do

nghiên cứu của chúng tôi chỉ ghi nhận sử dụng

oxytocin trong giai đoạn hai của chuyển dạ so

với các tác giả Cheng Y.W sử dụng oxytocin từ

giai đoạn một và không thấy có sự tương quan

giữa sử dụng oxytocin với thời gian chuyển dạ

Nghiên cứu của tác giả Phan Thị Thu Ba thực

hiện tạibệnh viện Từ Dũ cótỷ lệ sinh giúp là

17,20%(8), tác giả Phan Thị Hằng -bệnh viện

Hùng Vương là 19%(7) và tác giả Đỗ Văn Lợi

bệnh viện Phụ sản Trung Ương lại có tỷ lệ

12,2%(5); đều cao hơn nghiên cứu của chúng tôi

Có lẽ do các bác sỹ ở bệnh viện tuyến trên có

kinh nghiệm lâu năm nhiều hơn và kỹ thuật

thực hiện thủ thuật tốt hơn Tỷ lệ sinh giúp của

chúng tôi cũng thấp hơn nghiên cứu của Phùng

Quang Thủy nghiên cứu tại bệnh viện Trung

Ương Huế (sinh kềm 8,1%) nhưng cao hơn

nghiên cứu của tác giả Phạm Thiều Trung thực

hiện nghiên cứu ở bệnh viện Đa khoa Cần Thơ (tỷ lệ sinh giúp 1,49%)(6,9) Tác giả Rimaitis K có kết quả sinh giúp là 2,43% trong đó tỷ lệ sinh giác hút 2,16%, tương tự với nghiên cứu của chúng tôi và đều thấp hơn tác giả Singh SK có kết quả sinh giúp 9%(10,11) Điều này cho thấy GTNMC chưa chắc là yếu tố chính làm gia tăng mức độ sinh giúp

KẾT LUẬN

GTNMC dường như không là nguyên nhân gây kéo dài giai đoạn hai của chuyển dạ cũng như không là yếu tố tăng tỷ lệ sinh giúp nhưng

có tỷ lệ cao sử dụng oxytocin để tăng cơn co tử cung trong chuyển dạ giai đoạn II của các trường hợp có GTNMC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

non-epidural or no analgesia in labour” Cochrane Database Syst

Rev, 7(12):pp.CD000331 DOI: 10.1002/14651858.CD000331.pub3

2 Atanasova M, Nikolov A(2011) “Epidutal anagesia for vaginal delivery Influence over the delivery, fetal presentation, the

method of delivery and laction” Akush Ginekol (Sofiia), 50

(6):pp.28-36

3 Cheng YW, Hopkins LM, Laros RK Jr, Caughey AB (2007)

“Duration of the second stage of labor in multiparous women:

maternal and neonatal outcomes” American Journal of Obstetrics

and Gynecology , 196(6) DOI:10.1016/j.ajog.2007.03.021

4 Cheng YW, Shaffer BL, Nicholson JM, et al ( 2014) “Second Stage

of Labor and Epidural Use: A Larger Effect Than Previously

Suggested” Obstet Gynecol, 123(3):pp.527–535

5 Đỗ Văn Lợi (2017) “Nghiên cứu hiệu quả giảm đau trong chuyển dạ của phương pháp gây tê ngoài màng cứng do và

không do bệnh nhân tự điều khiển” Luận án tiến sĩ y học,

pp.89-90 Đại học Y Hà nội

dạ bằng gây tê ngoài màng cứng liên tục tại bệnh viện đa khoa

TP Cần Thơ” Luận án CK cấp II, pp.39-45 Đại học Y Cần Thơ

7 Phan Thị Hằng, Huỳnh Nguyễn Khánh Trang (2015) “Bí tiểu sau sinh và các yếu tố nguy cơ trên thai phụ có giảm đau sản

khoa” Tạp Chí Phụ Sản, 14(03):pp.59-62

8 Phan Thị Thu Ba (2013) “So sánh kết cục sinh ngả âm đạo giữa

có và không giảm đau bằng gây tê ngoài màng cứng" Tạp chí Y

học TP HCM, 17(01):pp.141-148

9 Phùng Quang Thủy, Cao Ngọc Thành, Lê Quang Vinh (2012)

“Nghiên cứu ứng dụng phương pháp đẻ không đau bằng

phương pháp gây tê ngoài màng cứng” Y Học Thực Hành,

12(854):pp.29-32

10 Rimaitis K, Klimenko O, Rimaitis M, et al ( 2015) “Labor

epidural analgesia and the incidence of instrumental assisted

delivery” Medicina, 51(2):pp.76-80

11 Singh SK, Yahya N, Misiran K, et al (2016) "Combined

spinal-epidural analgesia in labour: its effects on delivery outcome"

Revista Brasileira De Anestesiologia, 66(3):pp.259-264

Trang 5

12 Yancey MK, Pierce B, Schweitzer D, et al (1999) “Observations

on labor epidural analgesia and operative delivery rates” Am J

Obstet Gynecol, 180(2Pt1):pp.353-9

13 Yee LM, Sandoval G, Bailit J, et al (2016) “Maternal and

Neonatal Outcomes With Early Compared With Delayed

Pushing Among Nulliparous Women” The American College of

Obstetricians and Gynecologists, 128(5):pp.1039-1047

Ngày đăng: 15/01/2020, 21:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w