1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát diễn tiến lâm sàng, cận lâm sàng trẻ bệnh tay chân miệng nặng được lọc máu tại Nhi Đồng 2

6 73 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 364,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bệnh Tay chân miệng số mắc cao, tử vong nhiều dù đã sử dụng đầy đủ các biện pháp điều trị theo phác đồ. Lọc máu liên tục lần đầu được ứng dụng trong bệnh Tay chân miệng. Khảo sát diễn tiến lâm sàng, cận lâm sàng trẻ bệnh Tay chân miệng nặng được lọc máu liên tục tại bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 06/2011 – 12/2015 giúp chúng tôi có cái nhìn khách quan sau thời gian ứng dụng.

Trang 1

KHẢO SÁT DIỄN TIẾN LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG

TRẺ BỆNH TAY CHÂN MIỆNG NẶNG ĐƯỢC LỌC MÁU TẠI NHI ĐỒNG 2

Đỗ Châu Việt*, Nguyễn Trần Nam*, Trần Thị Kim Vân *Hà Mạnh Tuấn*

TÓM TẮT

Mở đầu: Bệnh Tay chân miệng số mắc cao, tử vong nhiều dù đã sử dụng đầy đủ các biện pháp điều trị theo

phác đồ Lọc máu liên tục lần đầu được ứng dụng trong bệnh Tay chân miệng Khảo sát diễn tiến lâm sàng, cận lâm sàng trẻ bệnh Tay chân miệng nặng được lọc máu liên tục tại bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 06/2011 – 12/2015 giúp chúng tôi có cái nhìn khách quan sau thời gian ứng dụng

Phương pháp: nghiên cứu hồi cứu, mô tả hàng loạt các trường hợp 38 trường hợp bệnh Tay chân

miệng nặng được xác định bằng lâm sàng và PCR EV71 trong phết họng, trực tràng được lọc máu theo phương thức CVVHDF

Kết quả: Kết quả cho thấy cải thiện về thân nhiệt, phù phổi, mạch, huyết áp, lượng bạch cầu, tiểu cầu, đường

huyết sau 16 giờ lọc máu Riêng lactate, troponin I cải thiện chậm sau 24 giờ lọc Tỉ lệ tử vong là 21%, di chứng 50% ở nhóm sống

Kết luận: Lọc máu liên tục giúp cải thiện huyết động và giảm tỉ lệ tử vong ở nhóm bệnh tay chân

miệng nặng

Từ khoá: bệnh tay chân miệng, lọc máu liên tục

ABSTRACT

EVALUATING CLINICAL AND SUBCLINICAL PROGRESSION

IN SEVERE HAND FOOT AND MOUTH DISEASE CASES TREATED WITH CRRT

AT NHI DONG 2 HOSPITAL

Do Chau Viet, Nguyen Tran Nam, Tran Thi Kim Van, Ha Manh Tuan

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 21 - No 3 - 2017: 125 - 130

Background: Hand, foot and mouth disease has a high morbidity and high mortality despite many

treatments Continuous renal replacement therapy (CRRT) was first applied in hand, foot and mouth disease Evaluating clinical and subclinical progressions in severe cases treated with CRRT at Nhi Dong 2 hospital from 6/2011 to 12/2015 gives us an objective view after a application period

Methods: retrospective study, case series 38 severe hand, foot and mouth cases determined by clinical signs

and PCR EV71 in throat and rectal swabs were treated with CVVHDF mode

Results: improved in body temperature, pulmonary edema, heart rate, blood pressure, white blood cells,

platelets, glucosemia after 16 hours of dialysis Serum lactate, troponin I improved slowly after 24 hours of filtration The mortality rate is 21%, sequelae rate is 50% in alive group

Conclusion: CRRT helps improve hemodynamic state and reduce mortality in severer Hand foot and mouth

disease group

Key words: Hand, foot and mouth disease, Continuous renal replacement therapy

*Bệnh viện Nhi Đồng 2

Tác giả liên lạc: Đỗ Châu Việt ĐT: 0903779576 Email: dochauviet@yahoo.com

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh tay chân miệng do virus đường ruột

thuộc họ Picornaviridae, thường gặp Coxackie

A16 và Enterovirus 71(1,3) Bệnh hay gặp ở trẻ em

từ 1 – 3 tuổi và chủ yếu lây truyền qua dịch tiết,

nước bọt hoặc phân Trên thế giới đã có những

đợt dịch bệnh Tay chân miệng bùng phát và gây

tử vong rất nhiều trẻ em(2,8)

Năm 2011, tại Việt Nam, dịch bệnh Tay chân

miệng bùng phát khiến 110.897 trẻ phải nhập

viện, 700 trường hợp diễn tiến thành độ 3, độ 4

và 166 trường hợp tử vong (0.15%) Tỉ lệ EV 71

dương tính ở trẻ có biến chứng nặng là 80%(3)

Phác đồ điều trị quốc gia đã được ban hành với

các biện pháp điều trị khác nhau tương ứng với

từng giai đoạn bệnh(1) Lọc máu liên tục mới áp

dụng cho bệnh Tay chân miệng, bước đầu cho

thấy cải thiện tỉ lệ tử vong ở nhóm bệnh nhân

nặng Cho đến nay, lọc máu trong điều trị bệnh

Tay chân miệng chỉ dừng ở mức “ý kiến chuyên

gia” Việc “Khảo sát diễn tiến lâm sàng và cận

lâm sàng ở nhóm trẻ bệnh tay chân miệng nặng

được lọc máu liên tục” thật sự cần thiết, nhằm

rút ra một số nhận xét, những kinh nghiệm thực

tiễn khi mà các biện pháp hồi sức khác đã thất

bại Câu hỏi nghiên cứu của chúng tôi là lọc máu

liên tục có giúp cải thiện tình trạng lâm sàng, cận

lâm sàng của bệnh nhi bệnh Tay chân miệng

nặng không?

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát

Khảo sát diến tiến lâm sàng, cận lâm sàng ở

trẻ bệnh tay chân miệng nặng được lọc máu liên

tục tại bệnh viện Nhi Đồng 2

Mục tiêu cụ thể

Mô tả đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và cận lâm

sàng của những trẻ bệnh TCM cần lọc máu

Mô tả diễn tiến lâm sàng, cận lâm sàng của

trẻ bệnh TCM trong quá trình lọc máu

Mô tả kết quả điều trị của trẻ bệnh TCM

được lọc máu liên tục

PHƯƠNG PHÁP - ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Hồi cứu mô tả hàng loạt trường hợp

Bệnh nhi Tay chân miệng có chỉ định lọc máu liên tục(1,7)

Lọc máu bằng máy Prisma flex, quả lọc M60 – M100, dung dịch lọc Hemosol, catheter 2 nòng

số 6,5F – 8F Sử dụng mode lọc CVVHDF(4,5) Theo dõi bệnh nhi bằng phiếu ra y lệnh của bác sĩ và phiếu theo dõi của điều dưỡng mỗi giờ trong suốt quá trình lọc

Xét nghiệm: huyết học, sinh hoá, chức năng gan, thận, men tim, điện giải đồ, chức năng động máu, đường huyết nhanh lúc nhập viện, chuyển

độ, có chỉ định lọc máu, sau lọc máu mỗi 8 giờ trong 24 – 48h

Thu thập bằng phiếu thu thập số liệu

Cỡ mẫu

Lấy tất cả hồ sơ thoả tiêu chuẩn chọn vào và loại ra

Tiêu chuẩn chọn vào

Thoả tất cả các tiêu chí sau(1,7): Xác định bệnh Tay chân miệng theo phác đồ

Bộ Y tế

Phân độ 3, độ 4 theo phác đồ của Bộ Y tế Không đáp ứng với các biện pháp điều trị độ

3 theo phác đồ Bộ Y tế

Hồ sơ có đủ dữ liệu để phân tích theo bệnh

án nghiên cứu

Không có bệnh lý mãn tính kèm

Tiêu chuẩn loại ra

Không phải bệnh Tay chân miệng theo hướng dẫn BYT(1)

Bệnh Tay chân miệng có kèm bệnh lý mãn tính

Hồ sơ không đủ dữ liệu phân tích

Thu thập số liệu

Bằng phiếu thu thập số liệu lấy từ phiếu theo dõi chăm sóc bệnh nhân và y lệnh điều trị của

Trang 3

bác sĩ

Xử lý số liệu

Số liệu được xử lý bằng phần mềm Stata

14.0 Thống kê mô tả: tỉ lệ, tần số, trung bình

Thống kê phân tích: phân tích đơn biến với phép

kiểm chi bình phương (so sánh 2 tỉ lệ), phép

kiểm student (so sánh 2 số trung bình)

KẾT QUẢ

Trong thời gian 4 năm 6/2011 – 12/2015

Chúng tôi thu thập được 38 hồ sơ bệnh án thoả

các tiêu chí nghiên cứu và tiến hành phân tích

Kết quả có được như sau:

Dịch tễ

Trẻ nam/nữ: 60/40%,

Tuổi trung bình 25,3 tháng Trẻ < 3 tuổi

chiếm 87%

Số ca nặng chủ yếu ở Bình Dương, Đồng Nai

và tp HCM

Về mức độ lây truyền thì chưa thấy khác biệt

giữa trẻ đi học hay ở nhà

Tác nhân gây bệnh cảnh nặng là

Enterovirus 71 (92%)

Ngày bệnh khi lọc máu N3 – N4

Tỉ lệ giật mình do thân nhân ghi nhận khác

bác sĩ khoảng 50% Tỉ lệ run chi (38% và 32%) và

loạng choạng (22% và 24%) được ghi nhận gần

tương đồng từ 2 phía Ngoài ra còn có thêm thở

nhanh, da nổi bông, lơ láo Không có sự khác biệt giữa nhóm sống và tử vong

Hình 1 Triệu chứng lâm sàng khi nhập viện

Hình 2 Triệu chứng lâm sàng trước lọc máu

Nhận xét: có sự chuyển dịch tỉ lệ % triệu chứng thần kinh từ nhẹ sang nặng Lừ đừ 42%

 90%; run chi 32%  34%, loạng choạng 24%

 37%, lơ láo 11%  21% Xuất hiện triệu chứng

hô hấp với tỉ lệ 45% cơn ngừng thở, 24% phù phổi (tăng 50%)

Bảng 1 Dấu hiệu sinh tồn

Dấu hiệu sinh tồn Tử vong (11) Sống (27) Chung (38) P

đến 180 lần/phút, Huyết áp tâm thu tăng > 120

Trang 4

mmHg, nhiệt độ > 390C Không so sánh được ở 2

nhóm sống và chết do không đủ cỡ mẫu

Hình 3 Diễn tiến nhiệt độ trong 48 giờ lọc máu

Nhận xét: trong quá trình lọc máu có sự

biến thiên nhiệt độ Lúc nhập viện nhiệt độ

khoảng 38,80C, tăng dần 390C khi chuyển độ

và kéo dài đến lúc bắt đầu lọc máu Sau lọc

máu 4 giờ thì nhiệt độ giảm # 10C và ổn định

từ 12 giờ sau lọc máu

Hình 4 Diễn tiến mạch trong 48 giờ lọc máu

Nhận xét: Mạch tăng dần khi chuyển độ và đạt đỉnh điểm trước khi bắt đầu lọc máu 180 lần/phút Tại mốc 4 giờ mạch giảm được 10 nhịp tương ứng với nhiệt độ giảm 10C Tần số mạch

ổn định ở mốc 16 giờ sau lọc

Hình 5 Diễn tiến huyết áp trong 48 giờ lọc máu

Nhận xét: huyết áp tâm thu tăng cao 120 mmHg ở thời điểm bắt đầu lọc máu Sau 2 giờ lọc thì HATT giảm 10 mmHg và sau 8 giờ huyết

áp về bình thường theo tuổi nhưng chỉ ổn định sau mốc 16 giờ

Triệu chứng cận lâm sàng

Bảng 2 Triệu chứng cận lâm sàng

Kết quả xét nghiệm Tử vong (11) Sống (27) Chung (38) P

Trang 5

Kết quả xét nghiệm Tử vong (11) Sống (27) Chung (38) P

Phép kiểm T Test

Nhận xét: bạch cầu máu tăng cao ở thời điểm

nhập viện và bắt đầu lọc máu 16.100/mm3, giảm

dần sau lọc Hemoglobin trước và sau lọc chênh

nhau 2g/dl Tiểu cầu trước lọc 382.000/mm3 và

sau lọc giảm dần Đường huyết nhanh tăng cao

và kéo dài cho đến sau 16 giờ lọc máu thì ổn

định Troponin I tăng 3,9 khi bắt đầu lọc và kéo

dài đến sau 16 giờ Lactate máu tăng khi bắt đầu

lọc và kéo dài, ổn định sau 24 giờ Mg máu ở giới

hạn thấp khi bắt đầu lọc máu và càng thiếu hụt

sau lọc

Thời gian chuyển độ và thời gian chuẩn bị

lọc máu

Bảng 3 Thời gian chuyển độ và thời gian chuẩn bị

lọc máu

Thời gian theo dõi và

chuẩn bị lọc máu

Tử vong (11)

Sống (27)

Chung (38)

Thời gian từ nhập viện đến

19,5  13,0

19,0  14,0 Thời gian từ chuyển độ đến

Thời gian từ có chỉ định đến

8,3 

Nhận xét: thời gian từ lúc nhập viện đến lúc

có chỉ định lọc > 24 giờ, đủ thời gian để theo dõi

và điều trị Tuy nhiên thời gian từ lúc có chỉ định

đến lúc được lọc máu kéo dài 6 giờ

Kết quả điều trị

Tỉ lệ sống trong nhóm nghiên cứu 71%

nhưng phân nửa là có di chứng 29% số

trường hợp tử vong nhưng liên quan lọc máu

là 21%

14 37%

11 29%

13 34%

Sống hồi phục hoàn toàn

Tử vong

Hình 6 Kết quả điều trị

BÀN LUẬN

Trong thời gian 4 năm có 38 trường hợp bệnh TCM nặng được lọc máu liên tục thoả các tiêu chí đưa vào nghiên cứu Trong 38 trường hợp này thì độ 3 còn tiến triển/độ 4 là 74%/26%, khác với tác giả Nguyễn Minh Tiến khi độ 3/độ 4 là 15%/85%(6) Chúng tôi có thời gian theo dõi diễn tiến bệnh từ khi nhập viện đến lúc chuyển độ nặng, không đáp ứng với các biện pháp can thiệp trước đó nên có lẽ can thiệp lọc máu sớm hơn Lứa tuổi trung bình là

25 tháng cũng phù hợp với y văn(1,2,3,8), tuổi nhỏ nhất là 11 tháng Tỉ lệ nam/nữ là 60/40 Điều đáng lưu ý là số trẻ đi học lại ít mắc bệnh hơn ở nhà Về ngày bệnh khi nhập viện tập trung trong khoảng ngày thứ 2 – 3, nhưng diễn tiến nặng cần lọc máu lại sau đó 24 giờ 30% các trường hợp bệnh TCM không điển hình nên rất khó cho việc phát hiện bệnh nặng Chẩn đoán khi nhập viện 36% là độ 2a, 34% là độ 2b sau đó diễn tiến thành độ 3, độ 4 cho thấy việc theo dõi rất quan trọng Triệu chứng sốt 100%, luôn luôn có ở nhóm bệnh nhân nặng Nhận

Trang 6

định biểu hiện giật mình rất khác nhau giữa

nhân viên y tế và người dân Triệu chứng lừ đừ

(90%), giật mình chới với (42%), loạng choạng

(37%) và run chi (34%) chiếm tỉ lệ khá cao Cơn

ngưng thở 45%, phù phổi 24% tăng cao trong

nhóm nghiên cứu

Tại thời điểm trước lọc máu: sốt > 390C đáp

ứng kém với các biện pháp hạ nhiệt Nhịp tim

nhanh > 180 lần/phút, Huyết áp tăng > 120

mmHg kéo dài trên 12 giờ dù đã điều trị đúng

phác đồ Bạch cầu tăng > 16.000/mm3, tiều cầu >

400.000/mm3, đường huyết tăng 150 mg/dl,

troponin I > 3,9 ng/ml, lactate > 2,2 mmol/l cân

nhắc cho chỉ định lọc máu sớm hơn so với

Nguyễn Minh Tiến và phác đồ Bộ Y tế(1,6,7) Thời

gian từ lúc có chỉ định đến khi lọc máu kéo dài 6

giờ trong nhóm nghiên cứu

Nhiệt độ giảm 10C sau 4 giờ và về bình

thường sau 12 giờ lọc máu Nhịp tim giảm 10 –

15 nhịp sau 4 giờ lọc máu và ổn định ở 16 giờ

Huyết áp tâm thu sau lọc máu 2 giờ giảm 10

mmHg và ổn định sau 16 giờ Cột mốc 16 giờ sau

lọc máu, với thông số sinh hiệu: nhiệt độ, nhịp

tim, huyết áp về giới hạn bình thường và ổn

định thì tăng khả năng sống của trẻ

Tỉ lệ tử vong tại thời điểm lọc máu là 21%

Có vài trường hợp sau khi đã qua giai đoạn

nặng nhưng di chứng lệ thuộc máy thở, tử

vong sau đó 6 tháng do nhiễm trùng bệnh

viện Tuy vậy, trong nhóm sống có 50% di chứng nhẹ cần theo dõi

KẾT LUẬN

Lọc máu có hiệu quả trong điều trị bệnh Tay chân miệng nặng Thể hiện đáp ứng rõ khi thay đổi dấu hiệu sinh tồn theo chiều hướng thuận lợi

Cải thiện tỉ lệ tử vong nhưng không cải thiện

di chứng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

bệnh Tay chân miệng

Saunders, An Imprint of Elsevier, chapter 229

Việt, Đạng Lê Như Nguyệt, Nguyễn Phúc Thuỳ Dương.(2014) Đặc điểm bệnh Tay chân miệng biến chứng suy hô hấp – tuần

hoàn nặng điều trị tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 – năm 2011 Tạp

chí Y học TPHCM chuyên đề nhi khoa, tập 18 phụ bản số 3

chống độc Lọc máu liên tục – nhà xuất bản y học –, tr 11 – 20

replacement therapy Oxford University Press, Inc; 3: 181 – 188

Các yếu tố liên quan đến kết quả lọc máu liên tục trong điều trị

bệnh Tay chân miệng biến chứng nặng Tạp chí Y Học Tp HCM

Tay chân miệng ở trẻ em

ở trẻ nhập viện tại bệnh viện Nhi Đồng 1 Luận văn nội trú nhi

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 13/02/2017 Ngày bài báo được đăng: 20/04/2017

Ngày đăng: 15/01/2020, 21:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w