1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nhân hai trường hợp phù phổi cấp hậu sản

4 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 329,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phù phổi cấp hậu sản tương đối hiếm gặp nhưng là biến cố đe dọa đến tính mạng của người mẹ. Các yếu tố nguy cơ thường gặp bao gồm: Dùng thuốc chống co cơ tử cung, có bệnh lý tim mạch, truyền dịch nhiều gây quá tải tuần hoàn, tiền sản giật và sản giật, nhiễm trùng nặng và đa thai. Phù phổi cấp xảy ra khoảng 0,08% trong số các phụ nữ mang thai.

Trang 1

Y Học TP Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 19 * Số 5 * 2015 Nghiên cứu Y học

NHÂN HAI TRƯỜNG HỢP PHÙ PHỔI CẤP HẬU SẢN

Phan Văn Trực*, Nguyễn Thị Mộc Trân*, Hồ Thượng Dũng*, Nguyễn Đức Công*

TÓM TẮT

Phù phổi cấp hậu sản tương đối hiếm gặp nhưng là biến cố đe dọa đến tính mạng của người mẹ Các yếu tố nguy cơ thường gặp bao gồm: dùng thuốc chống co cơ tử cung, có bệnh lý tim mạch, truyền dịch nhiều gây quá tải tuần hoàn, tiền sản giật và sản giật, nhiễm trùng nặng và đa thai Phù phổi cấp xảy ra khoảng 0,08% trong số các phụ nữ mang thai

Chúng tôi ghi nhận hai trường hợp phù phổi cấp hậu sản: sản phụ thứ nhất 29 tuổi nhập viện ngày 16/12/2010 sau mổ bắt con so ngày thứ 6, có tiền căn hẹp khít van 2 lá hậu thấp đã nong van hai lá qua da bằng bóng Enoue cách

5 năm, hẹp nặng van động mạch chủ hậu thấp Sản phụ thứ hai 34 tuổi nhập viện ngày 12/6/2015 sau sinh thường con thứ hai ngày thứ 10, tiền căn hẹp van 2 lá hậu thấp

Từ khóa: phù phổi cấp hậu sản, hẹp van hai lá, hẹp van động mạch chủ

ABSTRACT

ACUTE POSTPARTUM PULMONARY EDEMA: TWO CASES’ REPORTS

Phan Van Truc, Nguyen Thi Moc Tran, Ho Thuong Dung, Nguyen Duc Cong

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 19 - No 5 - 2015: 315 - 318

Acute postpartum pulmonary edema is uncommon but life-threatening event The most common risk factors include the administration of tocolytic agents, underlying cardiac disease, iatrogenic fluid overload, preclampsia and clampsia, multiple gestation and severe infection We report two cases with acute postpartum pulmonary edema: the first is a 29 year - old female was admitted to hospital on the 6 th day after cesarean delivery, presented with acute dyspnea, her past history were rheumatic valve disease with severe mitral stenosis and severe aortic stenosis The second is a 34 years old female was admitted to hospital due to breathless after 10 days nomal varginal delivery, her past history was severe rheumatic mitral valve stenosis

Key words: acute postpartum pulmonary edema, mitral stenosis, aortic stenosis

TRƯỜNG HỢP THỨ NHẤT

Sản phụ 29 tuổi sống tại phường 8, quận Gò

Vấp, thành phố Hồ Chí Minh, vào viện ngày

15/12/2010 với lý do khó thở Sản phụ được mổ

bắt con vào tuần thứ 39 của thai kỳ, hậu phẫu

ngày 3 bệnh nhân có biểu hiện ho khan, mệt, khó

thở nhẹ, được ra viện vào ngày thứ 6 sau sinh mổ,

về nhà bệnh nhân thấy mệt và khó thở ngày càng

tăng đến tối gia đình đưa vào viện Bệnh nhân có

tiền căn hẹp khít van 2 lá hậu thấp đã nong van 2

lá qua da bằng bóng Enoue cách 5 năm, khi mang

thai đã phát hiện van 2 lá tái hẹp nặng, kèm hẹp

van động mạch chủ nặng, bệnh nhân tự ý ngưng

thuốc cách nhập viện 2 tháng, tiền sử sản khoa

PARA 1001 Bệnh nhân vào khoa cấp cứu trong tình trạng tỉnh, kích thích, khó thở nhiều, da có nhiều mồ hôi lạnh, miệng khạc ra bọt hồng, mạch: 120 lần/phút; huyết áp: 90/60 mmHg sau đó tụt xuống 60/40 mmHg; SpO2: 75-80%; nhịp thở: 28-30 lần/ phút Bệnh nhân được đặt nội khí quản, bóp bóng qua nội khí quản với oxy liều cao, thở máy xâm lấn với FiO2: 100% Bệnh nhân được điều trị với Dopamin, Dobutamin, lợi tiểu quai, kháng sinh X-quang tim phổi thẳng tại giường ghi nhận tình trạng ứ trệ tuần hoàn nặng cả hai phế trường (hình 1) Điện tâm đồ: nhịp xoang đều, tần số 120 lần/ phút, trục QRS trung gian

* Khoa Tim mạch cấp cứu can thiệp Bệnh viện Thống Nhất

Tác giả liên lạc: ThS BS Phan Văn Trực ĐT: 0918737699 Email: phanvantruc1992@yahoo.com.vn

Trang 2

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 19 * Số 6 * 2015

Hình 1- X-quang tim phổi thẳng

Những ngày sau bệnh nhân có biểu hiện suy

thận cấp với creatinin tăng cao nhất vào ngày thứ

4 sau nhập viện với kết quả, kèm theo có biểu

hiện tăng men gan, cao nhất vào ngày thứ 4 và

thứ 5 sau nhập viện, rối loạn chức năng đông máu

với tỉ lệ prothrombin giảm thấp nhất vào ngày thứ

2 sau nhập viện (bảng 1)

Bảng 1: Các kết quả xét nghiệm

Ngày 1 Ngày

2

Ngày 4 Ngày

5

Ngày 6- 8

Ngày 9- 11

Ure (mmol/l) 9,1 20,2 23,4 22,8 21,3 8,2

Creatinin(µmol

/l)

121 224 276 211 170 98

AST (u/l) 420 3500 1679 624 128 52

ALT (u/l) 150 1362 1841 1061 360 53

TQ (giây) 17,4 28,6 20 13,2

Prothrombin(

%)

58,5 27 45 97

INR 1,59 2,85 1,77 1,02

Từ ngày thứ 2 bệnh nhân được dùng thêm

hepasel truyền tĩnh mạch, dung dịch Neprosteril

7% truyền tĩnh mạch và Vitamin K1 tiêm tĩnh

mạch Sau đó giảm liều Dopamin và ngưng Đến

ngày thứ 4 sau nhập viện thì rút nội khí quản, tình

trạng lâm sàng và các thông số cận lâm sàng đều

cải thiện tốt

Siêu âm tim được thưc hiện ghi nhận hẹp van

2 lá và hẹp nặng van động mạch chủ (hình số 2 và

3)

Bệnh nhân được phẫu thuật thay van 2 lá, van

động mạch chủ cơ học vào ngày thứ 29 và ra viện

trong tình trạng ổn định vào ngày thứ 41, với đơn thuốc ra viện gồm có: digoxin, sintrom và furosemide, verospiron

Siêu âm tim lúc nhập viện

- EF: 45%, dầy đồng tâm thất trái, van 2 lá dày,

xơ hóa, hẹp van 2 lá với SM=1,4cm2, Gd: 6,9/3,2 (Hình 2), IM:1/4, bộ máy dưới van dày nhiều Van động mạch chủ 3 mảnh, dày, hẹp nặng SA=0,4-0,5 cm2, Gd: 100/56, IA: ¾ IT: 2/4, PAPs = 60 mmHg

Diện tích mở van 2 lá (1,4 cm2)

Van 2 lá mở hình đầu gối, van dày, xơ hóa

Hình 2 – Hẹp van 2 lá

TRƯỜNG HỢP THỨ HAI

Sản phụ 34 tuổi nhập viện ngày 05/6/2015 vì khó thở Sản phụ sinh con thứ 2, sinh thường ở tuần thứ 39, được ra viện vào ngày thứ 3 sau sinh Cách nhập viện 3 ngày bệnh nhân có mệt, khó thở nhẹ, ho khan, ho tăng khi nằm, sáng ngày nhập viện thấy khó thở nhiều, bệnh nhân lên cơn khó thở phải ngồi, vã mồ hôi nhiều, ho khạc ra bọt hồng nên nhập viện PARA: 2002 Hẹp hở van 2

lá, 3 lá hậu thấp

Thai kỳ lần trước bệnh nhân phải nhập viện vào ngày hậu sản thứ 7 vì suy tim cấp

Bệnh nhân nhập phòng cấp cứu trong tình trạng tỉnh, tiếp xúc được, khó thở nhiều, phải

Trang 3

Y Học TP Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 19 * Số 5 * 2015 Nghiên cứu Y học

ngồi, ho khạc ra ít bọt hồng; mạch: 90 lần/ phút,

huyết áp: 130/70 mmHg; nhiệt độ 36,60C; nhịp thở

26 lần/ phút Tim nhịp nhanh đều, thổi tâm thu

3/6 ở mỏm, phổi nhiều ran ẩm hai phế trường

Điện tâm đồ ghi nhận nhịp xoang đều tần số 90

lần/ phút trục QRS trung gian

Siêu âm tim: ghi nhận dãn lớn nhĩ trái, buồng

tim phải, EF: 63%, Van 2 lá dày, dính, hẹp khít

MVA: 0,72cm2, IM:4/4, IT: ¾, PAPs: 72 mmHg, IA: 2/4, van dày (hình số 4)

Bệnh nhân đã được điều trị thở BiPAP hỗ trợ, furosemide tiêm tĩnh mạch, nitroglycerin và dobutamin truyền qua bơm tiêm điện Sau đó tình trạng khó thở giảm dần, ngưng BiPAP, lâm sàng

ổn định và được ra viện sau 8 ngày điều trị

X-quang tim phổi thẳng: ghi nhận ứ trệ tuần

hoàn phổi hai bên (hình 3)

Hình 3- X-quang tim phổi thẳng Hình 4: Hẹp khít van 2 lá

BÀN LUẬN

Qua thăm khám và hỏi bệnh chúng tôi ghi

nhận cả hai bệnh nhân đều không có tiền căn

dùng thuốc chống co cơ tử cung, không truyền

dịch nhiều Không ghi nhận bệnh lý cường giáp

khi thăm khám và hỏi bệnh, cũng không ghi nhận

tiền sản giật hay sản giật trong quá trình mang

thai và chuyển dạ Cả hai đều không ghi nhận có

tăng mắc cơ sinh học tế bào cơ tim, với trường

hợp thứ nhất CK-MB: 19 U/L, và trường hợp thứ

hai troponin T-hs: 20 ng/ml và CK-MB: 17 U/L

Bệnh cơ tim chu sinh tương đối hiếm gặp, được

chẩn đoán dựa trên 4 tiêu chuẩn:

-Không tìm được rõ nguyên nhân gây phù

phổi

-Suy tim tiến triển trong thángcuối thai kỳ hay

trong vòng 5 ngày sau sinh

-Không có bệnh lý tim mạch nào được chẩn đoán trước tháng cuối của thai kỳ

-Có rối loạn chức năng tâm thu thất trái trên siêu âm tim

Theo A T Dennis(2), sản phụ có bệnh lý van tim là một trong các yếu tố nguy cơ gây phù phổi cấp sản khoa, các yếu tố nguy cơ khác như dùng thuốc chống co cơ tử cung, truyền dịch quá nhiều, tiền sản giật và sản giật Theo Anthony C Sciscione(4), trong tổng số 62,917 sản phụ nhập viện từ 01/01/1989 đến 01/06/1999 ghi nhận có 51

ca phù phổi cấp (chiếm tỉ lệ 0,08%) trong khi mang thai hay sau sinh, tuổi trung bình 27,6 ± 6,4, phù phổi cấp xảy ra ở thời kỳ trước khi sinh có 24

ca (47%), trong khi chuyển dạ có 7 ca (14%) và sau sinh có 20 ca (39%) Trong đó nguyên nhân thường gặp là sử dụng thuốc chống co cơ tử cung

có 13 ca (25,5%), bị bệnh lý tim mạch 13 ca (25,5%),

Trang 4

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 19 * Số 6 * 2015

truyền dịch nhiều 11 ca (21,5%) và tiền sản giật 9

ca (18%)

Theo Caitlin Dunne(3), phù phổi cấp ở sản phụ

thường đi kèm rối loạn chức năng các hệ cơ quan

khác, trong số 37 ca thì có 18 ca rối loạn chức năng

đông máu, 10 ca suy thận cấp, 6 ca tăng huyết áp

khó kiểm soát, 5 ca ngưng tim và 2 ca phù não

Khi mang thai có sự gia tăng 40% về khối

lượng máu và cung lượng tim Việc tăng cung

lượng tim làm tăng lưu lượng máu qua van 2 lá

Mức độ chênh áp qua van 2 lá bị hẹp sẽ gia tăng

đáng kể Nhĩ trái sẽ lớn dần kèm theo tăng áp tĩnh

mạch phổi và phù phổi, tiến triển dần tới tăng áp

động mạch phổi và quá tải thất phải, đặc biệt

trong tam cá nguyệt thứ ba, vì tại thời điểm đó

gánh nặng về huyết động học thời kỳ mang thai là

lớn nhất: thể tích huyết tương và nhịp tim tăng lên

tối đa Giai đoạn gặp nhiều nguy cơ biến chứng là

khichuyển dạ, sinh con và hậu sản Suy tim cầp có

thể được khởi phátdo sự gia tăng hồi lưu tĩnh

mạch về tim, vì tĩnh mạch chủ dưới giảm áp lực

rút dịch ngoại bào trở lại tuần hoàn hệ thống

nhiều hơn Sau sinh tuy gánh nặng thai sản lên

tim đã qua nhưng hậu quả của gánh nặng đó làm

đã làm dự trữ năng lượng của tim bị kiệt quệ Rối

loạnhuyết động trong cuộc sinh vẫn còn tồn tại

nên vẫn còn khả năng gây suy tim, phù phổi ở

những người mẹ đang nghỉ ngơi(5)

Theo khuyến cáo của ACC/AHA(1) về phân

loại tổn thương van tim ở thai phụ: hẹp van 2 lá có

mức độ khó thở NYHA II-IV, bệnh van 2 lá hay

van động mạch chủ có tăng áp động mạch phổi

nặng (áp lực động mạch phổi > 75% áp lực động mạch hệ thống), bệnh van 2 lá hay van động mạch chủ có giảm chức năng thất trái nặng (EF < 40%), hẹp nặng van động mạch chủ có hay không có triệu chứng là một trong những yếu tố tổn thương van gây biến chứng cao ở mẹ và thai nhi

KẾT LUẬN

Phù phổi cấp hậu sản tương đối hiếm gặp trong dân số chung, nhưng là một một cấp cứu nội khoa nặng Ở sản phụ có bệnh hẹp van hai lá, hẹp van động mạch chủ nặng thì trong quá trình mang thai, chuyển dạ và sau sinh cần được theo dõi sát, và có sự phối hợp giữa thầy thuốc sản khoa và tim mạch để phòng ngừa và điều trị kịp thời biến chứng phù phổi cấp

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bonow R, Carabello BA, Kanu C, et al (2006) “ACC/AHA 2006 guidelines for the management of patients with valvular heart

disease, Circulation; 114(5):e84-231

2 Dennis AT and Solnordal CB (2012), “Acute pulmonary oedema in

pregnant women” Anesthesia, 67; 646-659

3 Dunne C, Meriano A (2009) “Case report: Acute postartum pulmonary edema in a-23-year-old woman 5 days after cesarean

delivery” CJEM; 11(2): 178-181

4 Sciscione AC, Ivester T, Laroza M et al (2003) “Acute pulmonary

edema in pregnancy” Obset Gynecol; 101; 511-515

5 Võ Thành Nhân (2015) “Hẹp van hai lá hậu thấp: chẩn đoán và

điều trị” Nhà xuất bản y học TPHCM: tr.215-221

Ngày nhận bài báo: 06/09/2015 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 15/09/2015 Ngày bài báo được đăng: 20/10/2015

Ngày đăng: 15/01/2020, 21:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm