1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Sự khác nhau trong các góc cột sống ở mặt phẳng đứng dọc giữa đối tượng đau cổ không đặc hiệu và đối tượng không đau quan sát cắt ngang ở nhiều tư thế

11 60 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 424,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đau cổ là vấn đề phổ biến ở những người trong lứa tuổi lao động. Hơn thế nữa, đau cổ ở tuổi thiếu niên cũng thường thấy và là nguyên nhân tiềm tàng cho các vấn đề giảm khả năng, tàn tật trong tương lai. Vì vậy, những nhà nghiên cứu lâm sàng rất quan tâm tìm hiểu những yếu tố gây ra đau cổ. Bên cạnh những bất thường được cho là có góp phần dẫn đến chứng đau cổ, tư thế đầu và cổ cũng thường được nhìn nhận là có liên quan đến sự giảm khả năng có thể có ở bệnh nhân đau cổ.

Trang 1

SỰ KHÁC NHAU TRONG CÁC GÓC CỘT SỐNG Ở MẶT PHẲNG ĐỨNG

DỌC GIỮA ĐỐI TƯỢNG ĐAU CỔ KHÔNG ĐẶC HIỆU

VÀ ĐỐI TƯỢNG KHÔNG ĐAU- QUAN SÁT CẮT NGANG Ở NHIỀU TƯ THẾ

Lê Thanh Vân*, Trần Thị Bích Hạnh*, Nguyễn Ngọc Minh*

TÓM TẮT

Tổng quan: Đau cổ là vấn đề phổ biến ở những người trong lứa tuổi lao động Hơn thế nữa, đau cổ ở tuổi

thiếu niên cũng thường thấy và là nguyên nhân tiềm tàng cho các vấn đề giảm khả năng, tàn tật trong tương lai

Vì vậy, những nhà nghiên cứu lâm sàng rất quan tâm tìm hiểu những yếu tố gây ra đau cổ Bên cạnh những bất thường được cho là có góp phần dẫn đến chứng đau cổ, tư thế đầu và cổ cũng thường được nhìn nhận là có liên quan đến sự giảm khả năng có thể có ở bệnh nhân đau cổ Mặt khác, có bằng chứng rằng các tư thế ngồi khác nhau sẽ ảnh hưởng đến tư thế đầu và cổ Tuy nhiên, kiến thức thức liên quan đến sự khác biệt trong góc độ cột sống (ngoài góc gập đầu và gập cổ) giữa những người đau và không đau cổ vẫn còn thiếu Thêm vào đó, chưa có nghiên cứu nào khảo sát các tư thế và cử động khác nhau có liên quan đến hoạt động sống hàng ngày

Phương pháp: 68 đối tượng được tuyển chọn và phân chia thành 3 nhóm, bao gồm: nhóm khỏe mạnh, nhóm

thực sự đau cổ và nhóm giảm chức năng Các góc độ gập đầu, gập cổ, cột sống cổ-ngực và gập cột sống ngực được

đo ở bốn tư thế đứng và bảy tư thế ngồi khác nhau bằng hình chụp kỹ thuật số từ mặt phẳng đứng dọc kết hợp với các đánh dấu phản quang

Kết quả: Nhóm giảm chức năng vùng cổ cho thấy có xu hướng đầu đưa ra trước nhiều hơn với sự khác biệt

mang ý nghĩa thống kê so với nhóm khỏe mạnh thông qua góc gập đầu trong hầu hết các tư thế, ngoại trừ tư thế đứng thông thường, ngồi thông thường, ngồi ưỡn lưng tối đa và ngồi gù lưng Nghiên cứu gợi ý vai trò của hoạt động vùng đai vai lên hoạt động của cột sống cổ dựa trên kết quả từ các tư thế đòi hỏi hoạt động của vùng này

Từ khóa: Đau cổ, góc cột sống

ABSTRACT

SAGITTAL SPINAL ANGLES DIFFERENCES BETWEEN NON-SPECIFIC NECK PAIN AND ASYMTOMATIC SUBJECTS: A CROSS SECTIONAL STUDY IN DIFFERENT POSTURES

Le Thanh Van, Tran Thi Bich Hanh, Nguyen Ngoc Minh

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 5 - 2016: 220 - 230

Background: Neck pain is a common musculoskeletal disorder with high prevalence in adults of working

age Furthermore, in adolescent neck pain is also frequently observed and a potential source of future disability Consequently, investigating the factors that cause neck pain is one of main concerns of the clinicians Among abnormalities that are considered to contribute to neck pain, head and neck posture is a commonly believed to associated with the possible disability in neck pain patients On the other hand, evidence has revealed that the different sitting postures influence on head and neck posture However, there is a lack of knowledge concerning the difference of other spinal angles (besides head flexion or neck flexion angle) between neck pain patients and pain-free persons In addition, no previous study has been examined these differences in postures and movements, which are related to daily living

Method: Sixty-eight subjects were recruited and divided into three subgroups, including “healthy group”,

“actual neck pain group” and “functional impairment group” Head flexion, neck flexion, cardiothoracic angle

Trang 2

and thoracic flexion were measured in four standing and five different positions of sitting by using sagittal digital photographs in combination with reflective markers

Result: “functional impairment group” showed greater forward head posture in compare to “healthy group”

through significant difference in head flexion angle in most of postures, except usual standing, usual sitting, sitting with maximal lumbar extension and slump sitting Finding from this research suggested the role of scapular posture in altering cervical posture

Key words: non-specific neck pain, spinal angle

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đau cổ là một triệu chứng cơ xương phổ

biến, gây giảm chất lượng cuộc sống và tạo ra

gánh nặng đáng kể cho xã hội(10) Thêm nữa, đau

cổ cũng được nhìn nhận là triệu chứng bị tái đi

tái lại với tần suất rất cao(12,18), càng làm tốn kém

nhiều hơn về mặt kinh tế(22) Một nghiên cứu

tổng quan hiện thống đã chỉ ra rằng đến 71%

dân số trải qua ít nhất một lần đau cổ trong

đời(35) Hơn nữa, đau cổ cũng thường được quan

sát thấy ở trẻ vị thành niên và là nguyên nhân

tiềm tàng của các vấn đề giảm khả năng, tàn tật

trong tương lai(30).Vì vậy, tìm hiểu những yếu tố

liên quan đến đau cổ trở thành một yêu cầu cần

thiết nhằm giảm thiểu triệu chứng này trong

cộng đồng Bên cạnh những thay đổi về mặt cơ

xương khớp, hội chứng sử dụng quá tải hay yếu

tố tâm lý đã được khẳng định trong y văn(2), tư

thế đầu cổ được cho rằng có liên quan đến

chứng đau cổ(34) Hơn thế nữa, những nghiên

cứu trước đó đã chỉ ra rằng thay đổi nhỏ trong tư

thế của đầu ở mặt phẳng đứng dọc làm tăng

hoạt động của cơ vùng cổ và tăng đáng kể lực tải

lên những cấu trúc chống đỡ xung quanh(4,14,29)

Lý do đó đã khiến cho các nhà nghiên cứu rất

quan tâm khảo sát mặt phẳng này để tìm ra các

mối liên quan đến đau cổ(27,29,34) Đã có rất nhiều

nghiên cứu tìm hiểu sự khác biệt trong tư thế

đầu giữa các đối tượng đau và không đau cổ

Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu không báo cáo

được kết quả có ý nghĩa về mặt thống kê(13,15)

Ngoại lệ, trong nghiên cứu năm 2008, Yip đã mô

tả mối liên hệ trung bình giữa tư thế đầu đưa ra

trước và mức độ giảm khả năng trong đau cổ(34)

Nghiên cứu của họ cho thấy một số giới hạn khi

họ chỉ sử dụng một góc để khảo sát tư thế của

đầu Bên cạnh đó họ đã không khảo sát tư thế đầu trong mối tương quan với những góc khác của cột sống Tương tự như vậy, Silva trong nghiên cứu năm 2009 đã kết luận rằng bệnh nhân đau cổ có tư thế đầu đưa ra trước nhiều hơn so với đối tượng bình thường(27) Trong nghiên cứu này, nhiều góc của đầu và cổ đã được sử dụng hơn so với những nghiên cứu trước đó Tuy nhiên, họ chỉ chú trọng đến góc gập đầu và gập cổ trong khi chứng cứ đã chỉ ra rằng sự khác biệt trong tư thế ngồi ảnh hưởng đến các góc khác của cổ cũng như cơ vùng cổ(4,9) Trước đó, Straker cũng đã sử dụng nhiều góc độ cột sống(30) Dù vậy kết quả không cho thấy mối liên hệ rõ ràng giữa tư thế ngồi và đau cổ Thêm vào đó, nghiên cứu được nghiên cứu trên đối tượng trẻ vị thành niên Có thể nói cho đến nay

ít nghiên cứu về người lớn được thực hiện để đánh giá sự khác biệt trong góc độ cột sống khi khảo sát mối quan hệ với đau cổ

Mặt khác, tư thế được sử dụng trong các nghiên cứu trước đó không đồng nhất Trong một vài nghiên cứu, tư thế đứng được chọn

tố thường làm trầm trọng thêm chứng đau cổ(31) Một số nghiên cứu đã sử dụng tư thế ngồi, đơn

cử như nghiên cứu của Hanten trong năm 2000

đã gợi ý rằng khảo sát chỉ một tư thế ngồi thông thường có thể dẫn đến thiếu thông tin(13) Sự thật

là các tư thế và hoạt động khác nhau đã được sử dụng trong nghiên cứu của MacLean trong năm

2005(23) Thế nhưng kết quả tìm được là tác động của việc chỉnh sửa tư thế lên hoạt động của cơ vùng cổ vai và nghiên cứu này được tiến hành trên các đối tượng khỏe mạnh, thay vì khảo sát góc và tiến hành cả trên đối tượng đau cổ

Trang 3

Tóm lại, khảo sát sự khác biệt các góc độ cột

sống giữa các đối tượng đau và không đau cổ

trên nhiều tư thế hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề

bỏ ngỏ Vì vậy, mục tiêu chính của nghiên cứu

này nhằm để xác định giữa hai đối tượng này có

khác biệt về mặt các góc cột sống khác nhau (góc

gập đầu, góc gập cổ, góc cổ cột sống ngực và góc

gập cột sống ngực) trong mặt phẳng đứng dọc

trong bốn tư thế đứng và bảy tư thế ngồi khác

nhau Các tư thế này cố gắng tái hiện lại các hoạt

động thường nhật của đối tượng

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

67 đối tượng, bao gồm 21 nam và 67 nữ được

tuyển chọn theo phương pháp lấy mẫu thuận

tiện dựa trên thông báo và quảng cáo ở Bộ môn

Vật lý trị liệu, Đại học Y dược thành phố Hồ Chí

Minh (70 Bà Huyện Thanh Quan, Q.3, Tp Hồ Chí

minh) và Bệnh viện Đại học Y dược cơ sở 2 (201

Nguyễn Chí Thanh, Q.5, Tp Hồ Chí Minh) Các

đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu được giải

thích chi tiết rõ ràng và ký vào bản thỏa thuận

tham gia (Phụ lục I)

Các đối tượng được khám xét loại trừ nếu có

các tình trạng sau: (1) tiền sử chấn thương, gãy

xương hoặc phẫu thuật; (2)dị tật bẩm sinh liên

quan đến cột sống (vẹo cổ, vẹo cột sống); (3) có

dấu hiệu bất thường ở cộtung thư xương; (4)

viêm khớp hệ thống; (5) khiếm khuyết về nghe

đòi hỏi phải sử dụng dụng cụ trợ thính; (6)

Khiếm khuyết thị giác không được đeo kính; (7)

Có khó khăn về hô hấp liên tục trong vòng 5

năm vừa qua; (8) Có bệnh của thần kinh trung

ương hoặc rối lọan vận động liên quan đến thần

kinh; (9) rối lọan tâm thần Quá trình tuyển chọn

này được thực hiển bởi những chuyên viên

thuộc Bộ môn Vật lý trị liệu dựa trên kết quả tìm

được trong y văn cho thấy tư thế đầu chịu ảnh

hưởng bởi những rối lọan về mặt hô hấp(28), thần

kinh(1), khiếm khuyết về thính giác và thị giác

cũng như ảnh hưởng của hệ thống cơ xương(3)

Nghiên cứu nhận được sự chấp thuận của phòng nghiên cứu khoa học Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh

Phương pháp nghiên cứu

Đầu tiên, các đối tượng được phát các bảng câu hỏi bao gồm: Neck Disability Index (NDI) (3)

để đo lường mức độ tàn tật (Phụ lục 2); Numeric Pain Rating Scale (NPRS) hay còn gọi “Thang điểm đau cổ” để đo lường mức độ đau của các đối tượng (Phụ lục 3)

Sau đó, các đối tượng được lên lịch hẹn chụp ảnh kỹ thuật số bốn tư thế đứng và bảy tư thế ngồi tại Bộ môn Vật lý trị liệu Ảnh được chụp phía bên phải của đối tượng, trong mặt phẳng đứng dọc Để đảm bảo độ chính xác và đồng nhất, máy chụp ảnh được thống nhất đặt trên giá

đỡ cao 80cm và cách đối tượng 250 cm, áp dụng cho tất cả đối tượng Cách đặt máy ảnh này đã được kết luận có độ tin cậy rất cao (chỉ số ICCs

>0.9) trong nghiên cứu của Perry năm 2008(25) Trong ngày chụp, các đối tượng được gắn các các đánh dấu dạ quang tại 4 vị trí: cạnh bên mắt (D1), trên mặt ngay phía trước và giữa tai (D2), mấu gai của đốt sống cổ C7 (D3), mấu gai của đốt sống ngực T12 (D4)

Tiếp theo, đối tượng được đặt trước một bảng trắng Vị trí chân được chuấn hóa bằng đánh dấu trên mặt sàn, sao cho 2 chân cách nhau 10cm Đối với tư thế đứng tập trung, đứng viết bảng, các đối tượng được tự điều chỉnh khoảng cách đối với bảng trắng trước mặt sao cho thoải mái nhất Đối với tư thế ngồi, đối tượng được chọn cho ngồi trên các loại ghế phù hợp sao cho góc của hông và gối luôn ở 900 Tay trái thả tự nhiên dọc theo thân mình, tay phải gập khủyu

900 với bàn tay đặt áp sát bụng.Riêng đối với tư thế ngồi tập trung, đối tượng ngoài đảm bảo các nguyên tắc trên thì được tự điều chỉnh khoảng cách đối với bảng trắng trước mặt Đối tượng được yêu cầu nhìn thẳng trong mọi vị thế Sau đó, các đối tượng được yêu cầu thực hiện các tư thế sau đây, mỗi tư thế được chụp ảnh lại

Trang 4

- Đứng thông thường: đối tượng đứng với tư

thế mà mình cảm thấy thỏai mái nhất vẫn đảm

bảo nguyên tắc nêu trên

- Đứng đọc sách báo: đối tượng được cung

cấp một bài báo và được yêu cầu đọc hiểu nội

dung

- Đứng tập trung: đối tượng được yêu cầu

giải trò chơi mê cung được dán trên bảng trước

mặt

- Đứng viết bảng: đối tượng được yêu cầu

viết tên mình lên bảng trước mặt

- Ngồi thông thường: đối tượng ngồi với tư

thế mình cảm thấy thoải mái nhất (vẫn đảm bảo

nguyên tắc nêu trên)

- Ngồi đọc sách báo: đối tượng được cung

cấp một bài báo và được yêu cầu đọc hiểu nội

dung

- Ngồi tập trung: đối tượng được yêu cầu

giải trò chơi mê cung khác được dán trên bảng

trước mặt

- Ngồi với đầu kéo ra trước tối đa: đối tượng

được yêu cầu tịnh tiến đầu ra trước xa hết mức

có thể

- Ngồi với đầu kéo ra sau tối đa: đối tượng

được yêu cầu tịnh tiến đầu ra sau hết mức có thể

- Ngồi với lưng ưỡn tối đa: đối tượng được

yêu cầu nghiêng xương chậu ra trước tối đa ở vị

thế ngồi

- Ngồi gù lưng: đối tượng được yêu cầu

nghiêng chậu ra sau tối đa ở vị thế ngồi

Các góc được đo dựa trên những nghiên cứu

trước đó Các góc độ này đều có độ tin cậy khá

(chỉ số ICCs từ 0.4 đến 0.7), ngoại trừ góc cổ-cột

sống ngực có độ tin cậy tốt(11,29) Mô tả chi tiết các

góc độ như sau

- Góc gập đầu: Góc giữa D1D2 và đường

thẳng đứng

- Góc gập cổ: Góc giữa D2D3 và đường thẳng

đứng

- Góc cổ-cột sống ngực: Góc giữa D2D3 và

D3D5

- Góc gập cột sống ngực: Góc giữa D3D5 và đường thẳng đứng

Tất cả hình ảnh về tư thế và đánh dấu được trình bày ở Phụ lục IV và V

Dựa theo các bảng câu hỏi, các đối tượng

được chia làm 3 nhóm “Nhóm khỏe mạnh”

(Nhóm 1) bao gồm những người có chỉ số NPRS bằng 0 và chỉ số NDI nhỏ hơn 6 Đối tượng trong nhóm 2 có chỉ số NPRS từ 1 trở lên và có chỉ số

NDI lớn hơn 6 Nhóm này được đặt tên là “nhóm thực sự đau cổ” Nhóm cuối cùng là “nhóm giảm chức năng” (nhóm 3) bao gồm những người có

chỉ số NPRS bằng 0 và chỉ số NDI lớn hơn 6

Nhóm “thực sự đau cổ” được định nghĩa là đau

cổ không đặc hiệu, tức là không có dấu hiệu bệnh lý và nguyên nhân rõ ràng

Thu thập và phân tích số liệu

Tên và thông tin về đối tượng sau đó được

mã hóa Tất cả ảnh kỹ thuật số đều được phân tích bằng phần mềm GIMP 2.8 (GNU Image Manipulation Program) để tính 4 góc độ cột sống nêu trên Người phụ trách mảng này không

được cho biết về các chỉ số của đối tượng

Phân tích thống kê bằng sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 20.0 Thử nghiệm Shapiro-Wilk được thực hiện đã chỉ ra các biến của nghiên cứu không phân phối chuẩn Do đó, các thử nghiệm phi tham số sẽ được áp dụng cho tất cả các so sánh Phân tích phương sai bằng thứ hạng của Kruskal-Wallis được sử dụng để xác định sự khác biệt ở góc cột sống giữa 3 nhóm Sau đó, thử nghiệm Mann-Whitney U test được thực hiện để xác định sự khác nhau giữa từng cặp nhóm nếu phân tích Kruskal Wallis có ý nghĩa thống kê Kết quả được xem là có ý nghĩa thống

kê nếu giá trị p <0,05

KẾT QUẢ

68 đối tượng còn lại được chia làm 3 nhóm với số lượng nhóm 1 gồm 13 đối tượng, nhóm 2 gồm 48 đối tượng và nhóm 3 gồm 7 đối tượng

Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê xảy ra ở các góc khác nhau trong tư thế đứng đọc sách báo,

Trang 5

đứng tập trung, đứng viết bảng, ngồi đọc sách

báo, ngồi tập trung, ngồi đưa đầu ra trước tối đa

và ngồi kéo đầu ra sau tối đa Phần lớn khác biệt

giữa ba nhóm trong góc gập cột sống ngực (Bảng 1) So sánh post-hoc cho tất cả sự khác biệt trên xảy ra giữa nhóm 1 và nhóm 3 (Bảng 2)

Bảng 1 So sánh góc độ cột sống giữa các nhó

Góc độ cột sống (độ) Nhóm 1 (n=13) (Trung

bình ± Độ lệch chuẩn)

Nhóm 2 (n=48) (Trung bình ± Độ lệch chuẩn)

Nhóm 3 (n=7) (Trung bình ± Độ lệch chuẩn)

Kruskal-Wallis test

ĐỨNG

Đứng

thông

thường

Gập đầu 61,27 ± 6,89 64,56 ± 8,09 71,33 ±10,54 0,116 Gập cổ 39,20 ± 4,79 38,32 ± 6,22 38,03 ± 5,64 0,884 Góc cột sống cổ-ngực 143,06 ± 4,08 145,07 ± 6,41 146,80±5,78 0,382 Góc gập cột sống ngực 2,29 ± 2,96 3,32 ± 2,80 4,73 ± 1,48 0,139 Đứng

đọc sách

báo

Gập đầu 73,40 ± 8,39 81,30 ± 10,89 91,33 ±13,48 0,009** Gập cổ 44,52 ± 6,25 46,88 ± 6,60 47,87 ± 6 0,428 Góc cột sống cổ-ngực 135,17 ± 5,11 134,99 ± 6,37 136,33±5,82 0,858 Góc gập cột sống ngực 0,31 ± 3,30 1,91 ± 2,83 4,11 ± 2,29 0,028*

Đứng

tập trung

Gập đầu 54,45 ± 10,86 55,69 ± 12,47 69,5 ± 8,38 0,013* Gập cổ 37,18 ± 4,56 36,79 ± 5,39 39,2 ± 6,7 0,374 Góc cột sống cổ-ngực 144,96 ± 5,21 146,20 ± 5,59 144,97± 6,65 0,667 Góc gập cột sống ngực ± 2,56 2,87 ± 3,01 4,54 ±1,88 0,100

Đứng

viết bảng

Gập đầu 52,82 ± 12,02 57,96 ± 10,98 66,29± 8,94 0,076 Gập cổ 33,47 ± 5,48 33,93 ± 6,23 35,36 ± 7,27 0,800 Góc cột sống cổ-ngực 147,68 ± 5,26 149,66 ± 5,89 149,57±9,03 0,631 Góc gập cột sống ngực 1,04 ± 1,72 3,42 ± 2,88 4,86 ± 3,68 0,007**

NGỒI

Ngồi

thông

thường

Gập đầu 60,35 ± 9,78 62,78 ± 10,14 70,14 ± 3,36 0,275 Gập cổ 43,28 ± 6,39 41,06 ± 6,61 43,34 ± 6,78 0,529 Góc cột sống cổ-ngực 148,91 ± 6,24 152,50 ± 6,90 154,71 ±,89 0,370 Góc gập cột sống ngực 12,25 ± 4,34 13,58 ± 5,56 17,80 ± 6,77 0,089

Ngồi đọc

sách báo

Gập đầu 74,59 ± 9,52 83,50 ± 10,38 91,69 ±13,17 0,012* Gập cổ 48,70 ± 7,40 51,98 ± 6,99 53,43 ± 8,05 0,339 Góc cột sống cổ-ngực 141,95 ± 6,13 140 ± 6,41 142,24±11,39 0,762 Góc gập cột sống ngực 10,48 ± 4,20 13,89 ± 9,89 12,96 ± 7,62 0,326

Ngồi tập

trung

Gập đầu 57,13 ± 8,63 61,75 ± 9,87 69,05 ± 10,05 0,082 Gập cổ 42,49 ± 5,11 45,87 ± 15,92 43,96 ± 7,45 0,729 Góc cột sống cổ-ngực 149,59 ± 5,15 149,11 ± 19,94 154,82 ±0,25 0,495 Góc gập cột sống ngực 12,57 ± 3,61 15,46 ± 6,46 19 ± 5,35 0,038* Ngồi

đưa đầu

ra trước

tối đa

Gập đầu 58,68 ± 9,97 64,64 ± 10,32 75,45 ± 13,68 0,024* Gập cổ 51,59 ± 6,52 56,88 ± 8,24 63,21 ± 10,90 0,023* Góc cột sống cổ-ngực 145,40 ± 7,74 141,68 ± 10,11 141,37±11,43 0,357 Góc gập cột sống ngực 16,82 ± 5,59 18,34 ± 7,24 24,61 ± 9,23 0,196 Ngồi kéo

đầu ra

sau tối

đa

Gập đầu 68,89 ± 9,00 71,75 ± 11,36 83,64 ± 12,20 0,035* Gập cổ 36,65 ± 8,03 35,42 ± 6,50 38,69 ± 6,49 0,622 Góc cột sống cổ-ngực 149,39 ± 6,60 153,93 ± 6,70 154,87 ±8,80 0,151 Góc gập cột sống ngực 6,22 ± 3,32 9,51 ± 5,34 13,38 ± 8,21 0,023* Ngồi

ưỡn

lưng tối

đa

Gập đầu 60,67 ± 12,09 64,04 ± 11,75 69,30 ± 16,55 0,565 Gập cổ 35,44 ± 6,73 34,27 ± 7,17 31,84 ± 8,27 0,683 Góc cột sống cổ-ngực 146,73 ± 4,34 147,81 ± 8,59 153,40 ±0,93 0,522 Góc gập cột sống ngực 2,04 ± 5,23 1,97 ± 6,25 5,37 ± 4,99 0,373

Ngồi gù

lưng

Gập đầu 69,14 ± 15,44 71,84 ± 13,39 86,89 ± 18,98 0,76 Gập cổ 57,54 ± 9,16 54,04 ± 12,75 60,12 ± 9,57 0,171 Góc cột sống cổ-ngực 148,03 ± 6,76 153,44 ± 8,53 149 ± 6,13 0,059 Góc gập cột sống ngực 25,25 ± 5,22 28,13 ± 6,95 29,16 ± 8,2 0,383

Trang 6

Bảng 2 - Đa so sánh post-hoc góc độ cột sống giữa các

cặp nhóm

Góc độ cột sống Nhóm Mann-Whitney test

Đứng đọc

sách báo

Gập đầu

1 2 0,025*

1 3 0,011*

2 3 0,049*

Góc gập cột

sống ngực

1 2 0,163

1 3 0,019*

2 3 0,033*

Đứng tập

trung Gập đầu

1 2 0,705

1 3 0,002**

2 3 0,004**

Đứng viết

bảng

Góc gập cột

sống ngực

1 2 0,006**

1 3 0,014*

2 3 0,216 Ngồi đọc

sách báo Gập đầu

1 2 0,022*

1 3 0,008**

Ngồi tập

trung

Góc gập cột

sống ngực

1 3 0,019*

2 3 0,131

Ngồi đưa

đầu ra trước

tối đa

Góc gập đầu

1 3 0,011*

2 3 0,052 Gập cổ

1 2 0,026*

1 3 0,019*

2 3 0,189

Ngồi kéo đầu

ra sau tối đa

Gập đầu

1 2 0,509

1 3 0,011*

2 3 0,017*

Gập cột

sống ngực

1 3 0,019*

*: có ý nghĩa thống kê, chỉ số p <0,05

**:có ý nghĩa thống kê, chỉ số p<0,0

BÀN LUẬN

Phát hiện đầu tiên của nghiên cứu này là ở

tất cả các tư thế mô phỏng hoạt động thường

nhật đều xuất hiện các góc cột sống khác biệt

mang ý nghĩa thống kê giữa ba nhóm Tư thế

đọc sách báo, viết bảng và các hoạt động đòi hỏi

sự tập trung từng được nhìn nhận là yếu tố nguy

cơ dẫn đến hội chứng đau cổ liên quan đến nghề

nghiệp(6) Ở tư thế đứng và ngồi đọc sách báo,

kết quả cho thấy có sự khác biệt khá lớn ở góc

gập đầu (lần lượt p=0.009 và p=0,012) giữa đối

tượng khỏe mạnh và đối tượng có vấn đề vùng

cổ (đau hay giảm chức năng), gợi ý rằng cách

thức điều khiển vùng cột sống cổ cao của cả hai loại đối tượng có sự khác biệt Cụ thể, góc gập đầu ở nhóm đối tượng khỏe mạnh nhỏ hơn hai nhóm đối tượng còn lại Dựa vào quy ước đo góc gập đầu, có thể thấy góc gập đầu càng lớn sẽ dẫn đến cột sống cổ cao phải duỗi càng nhiều Nói cách khác, những người có góc gập đầu lớn sẽ có

xu hướng đưa đầu ra trước nhiều hơn(5,21,32), hay còn gọi là cổ rùa(7,33) Điều này đồng nhất với các nghiên cứu trước đó bệnh nhân đau cổ được mô

tả với tư thế đầu đưa ra trước nhiều hơn người bình thường(9,27,34) Nghiên cứu gần đây của Ernst

đã kết luận rằng giới hạn gập cột sống cổ trên có liên quan đến cường độ và tần suất đau vùng đầu cổ(8) Tương tự, ở tư thế đứng tập trung, góc gập đầu giữa nhóm giảm chức năng có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê so với hai nhóm còn lại Tuy nhiên, sự khác biệt này không được thể hiện giữa nhóm khỏe mạnh và nhóm thực sự đau cổ Điều này có thể lý giải bằng việc yếu tố đau có vai trò trong việc điều chỉnh tư thế trong các hoạt động tĩnh Đáp ứng vận động đối với đau đã được mô tả dẫn đến sự thích nghi bất thường của tư thế do quá tải tư thế(31) Mặt khác, nghiên cứu trước đây cũng đã chỉ ra vai trò của

tư thế ở vùng vai đối với hoạt động cũng như cảm giác vùng cổ(17,24) Do tư thế đọc sách báo có liên quan đến hoạt động vùng đai vai, không thể loại trừ sự ảnh hưởng từ yếu tố này Tuy nhiên, trong khuôn khổ của nghiên cứu này, không có kết luận nào về vấn đề có thể rút ra

Bên cạnh góc gập đầu, ở tư thế đứng đọc sách báo, góc gập cột sống ngực của các đối tượng nhóm 3 lớn hơn đáng kể (p=0.028) so với hai nhóm còn lại Nói cách khác nhóm giảm chức năng có cột sống ngực gù nhiều hơn so với hai nhóm còn lại Tương tự đối với tư thế đứng viết bảng, góc gập cột sống ngực ở nhóm khỏe mạnh cũng nhỏ nhất, khác biệt mang ý nghĩa thống kê (p=0.007) so với hai nhóm còn lại Số liệu này phù hợp các nghiên cứu trước đó, khi kết luận người khỏe mạnh (không đau cổ) luôn

có độ gù ít hơn so với nhóm có vấn đề vùng

cổ(16) Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ hỗ trợ kết

Trang 7

quả từ tư thế đứng viết bảng mà không lý giải

được lý do góc gập cột sống ngực không có khác

biệt giữa nhóm khỏe mạnh và nhóm thực sự đau

cổ ở tư thế đứng đọc sách báo Điều này lại một

lần nữa đặt ra câu hỏi về vai trò của hoạt động

vùng vai đối với vùng cột sống cổ Đây là sẽ là

đối tượng gợi ý cho những nghiên cứu trong

tương lai

Nếu như ở tư thế đứng tập trung, góc gập

đầu cho thấy sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê

(p=0.013) thì khi chuyển qua tư thế ngồi, điều

này lại thể hiện ở góc gập cột sống ngực

(p=0.038) Đây có thể do việc điều chỉnh tư thế

của vùng cột sống còn lại dẫn đến sự thay đổi

Tuy nhiên, không thể loại bỏ khả năng thiên lệch

do mục tiêu tập trung của hai tư thế khác nhau

về vị trí và tính chất Đây cũng là gợi ý cho việc

điều chỉnh khi tiến hành nghiên cứu tương tự

Trong các tư thế mô phỏng hoạt động

thường ngày, hai tư thế đưa cột sống đến cuối

tầm vận động là tịnh tiến đầu ra trước tối đa và

ra sau tối đa Ở hai tư thế này, hoạt động của cột

sống cổ cao (thể hiện qua góc gập đầu) và cột

sống cổ thấp (thể hiện qua góc gập cổ hoặc gập

cột sống ngực)(7,33) luôn có sự khác biệt giữa

nhóm 3 và nhóm 1 Do định nghĩa của nhóm 3

tương đồng với định nghĩa của chứng đau cổ

mãn tính, kết quả này tương đồng với kết luận

của Rudolfsson trong nghiên cứu năm 2012 Ho

cho rằng tầm vận động duỗi cột sống cổ cao và

gập cột sống cổ thấp giảm ở đối tượng này vì

những người đau cổ mãn tính vốn đã đưa cổ về

cuối tầm vận động(26) Hiện tượng này có thể bắt

nguồn từ sự mất cân bằng giữa yếu tố ổn định ở

phần sau cổ, cụ thể là nhóm cơ gập cổ sâu(20) Thêm vào đó, việc tăng áp lực bất thường lên các cấu trúc nâng đỡ cuối tầm ở vùng cổ lâu dài cũng có vai trò làm trầm trọng thêm triệu chứng

ở vùng giải phẫu này Phát hiện này hỗ trợ cho quan điểm tập luyện nhóm cơ gập cổ sâu nhằm duy trì ổn định, từ đó giảm đau và cải thiện chức năng cho cột sống cổ(19)

Bên cạnh tư thế đứng thông thường và tư thế ngồi thông thường, hai tư thế ngồi kết hợp việc di chuyển chậu cho thấy không có sự khác biệt thống kê giữa các góc độ cột sống Điều này một lần nữa khẳng định góc độ thực

sự của cột sống giữa các đối tượng không thay đổi Sự khác biệt chỉ bắt nguồn từ việc điều chỉnh tư thế qua các hoạt động Y văn cũng đã chứng minh tác động của cột sống thắt lưng lên hoạt động của cột sống cổ(4) Điều này cũng

dễ hiểu khi cột sống vốn là một thể đồng nhất

Do vậy thay đổi ở phần này sẽ dẫn đến sự thay đổi của các phần còn lại Đây chính là gợi

ý cho việc điều trị đau cổ trên lâm sàng

KẾT LUẬN

Nhóm giảm chức năng vùng cổ cho thấy có

xu hướng đầu đưa ra trước nhiều hơn với sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê so với nhóm khỏe mạnh trong hầu hết các tư thế, ngoại trừ tư thế đứng thông thường, ngồi thông thường, ngồi ưỡn lưng tối đa và ngồi gù lưng Nghiên cứu gợi

ý vai trò của hoạt động vùng đai vai lên hoạt động của cột sống cổ dựa trên kết quả từ các tư thế đòi hỏi hoạt động của vùng này

Trang 8

PHỤ LỤC IV: CÁC GÓC ĐỘ CỘT SỐNG ĐƯỢC KHẢO SÁT

Góc cổ- cột sống ngực Góc gập cột sống ngực

Trang 9

PHỤ LỤC V: CÁC TƯ THẾ ĐƯỢC KHẢO SÁT

Đứng thông thường

Đứng đọc sách báo

Trang 10

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Berger M, Prob R, IIg U, Karnath H-O (2006).Deviation of

eyes and head in acute cerebral stroke MBC Neurol, 6: 23

2 Borenstein DG, Wiesel SW, Boden SD (1996) Neck pain:

medical diagnosis and comprehensive management

W.B.Saunders Company

3 Bricot B Posture normale et posture pathologique (2004)

Kinesitherapie Scientifique, 440: 5-14

4 Caneiro JP, O’Sullivan PB, Burnett A, Barach A, O’Neil D,

Tveit O, Olafsdottir K (2010) The influence of different

sitting postures on head/neck posture and muscle activity

Manual Therapy, 15:54-60

5 Chiou WK, Chou WY, Chen BH Notebook computer use

with different monitor tilt angle: effects on posture, muscle

activity and discomfort of neck pain users Work

2012;41(Suppl 1):2591–2595

6 Chiu TT, Lam PK (2007) The prevalence of and risk

factors for neck pain and upper limb pain among

secondary school teachers in Hong Kong Journal of

Occupational Rehabilitation, 17(1):19-32

7 Cho WH, Lee WY, Choi HK An investigation on the

biomechanical effects of turtle neck syndrome through EMG

analysis; Proceedings of the Korean Society of Precision

Engineering Conference; 2008 Nov; pp 195–196

8 Ernst MJ, Crawford RJ, Schelldorfer S, Rausch-Osthoff

AK, Barbero M, Kool J, Bauer CM (2014) Extension and

flexion in the upper cervical spine in neck patients

Manual Therapy Article in press (30/12/2014)

9 Falla D, Jull GA, Russell T, Vicenzino B, Hodges P (2007)

Effect of neck exercise on sitting posture in patients with

chronic neck pain Physical Therapy, 87:408-17

10 Ferrari R, Russell AS (2003) Regional musculoskeletal

conditions: neck pain Practice Research Clinical

Rheumatology, 17(1):57-70

11 Fleiss JL The design and analysis of clinical experiments,

1 New York: John Wiley; 1986.p.7

12 Ghaffari M, Alipour A, Farshad A, Yensen I, Vingard E

Incidence and recurrence of disabling low back pain and

neck-shoulder pain Spine 2006; 31(21): 2500-6

13 Hanten WP, Olson SL, Russel JL, Lucio RM, Campell AH

(2000) Total head excursion and resting head posture:

normal and patient comparison Archives of Physical

Medicine and Rehabilitation, 81: 62-6

14 Harms-Ringdahl K, Ekholm J, Schuldt K, Nemeth G,

Arborelius UP (1986) Load moments and myoelectric

activity when the cervical spine is held in full flexion and

extension Ergonomics, 29: 1539-52

15 Harrison AL, Barry-Greb T, Wojtowicz G (1996) Clinical

measurement of head and shoulder posture variables

Journal Orthopedic Sports Physiocal Therapy,23: 353-61

16 Harrison DD, Harrison DE, Janik TJ, Cailliet R, Ferrantelli

JR, Haas JW, et al (2004) Modeling of the sagittal cervical

spine as a method to discriminate hypolordosis: results of

lliptical and circular modeling in 72 asymptomatic

subjects, 52 acute neck pain subjects, and 70 chronic neck

pain subjects Spine,29(22):2485-92

17 Ha SM, Kwon OY, Yi CH, Jeon HS, Lee WH (2011).Effects

of passive correction of scapular position on pain,

proprioception, and range of motion in neck-pain patients

with bilateral scapular downward-rotation syndrome Manual

Therapy;16(6):585-9

18 Holmberg SA, Thelin AG (2006) Primary care consultation, hospital admission, sick leave and disability pension owing to neck and low back pain: a 12-year

prospective cohort study in a rural population BMC

Musculoskeletal Disorders; 7: 66

19 Iqbal ZA, Rajan R, Khan SA, Alghadir AH (2013).Effect of deep cervical flexor muscles training using pressure biofeedback on pain and disability of school teachers with

neck pain J Phys Ther Sci 25(6):657-61

20 Janda V (1994) Muscles and motor control in cervicogenic

disorders: assessment and Management In: Physical therapy of

the cervical and thoracic spine 2nd ed New York: Churchill

Livingstone, pp 195–216

21 Kang JH, Park RY, Lee SJ, Kim JY, Yoon SR, Jung KI (2012) The effect of the forward head posture on postural balance in

long time computer based worker Ann Rehabil Med; 36:98–104

22 Korthals-de Bos IBC, Hoving JL, Tulder MW, Molken MPMHR, Adèr HJ, de Vet HCW, Koes BW, Vondeling H, Bouter LM (2003) Cost effectiveness of physiotherapy, manual therapy, and general practitioner care for neck pain: economic evaluation alongside a randomized

controlled trial BMJ Journal; 326(7395): 1-6

23 McLean L (2005) The effect of postural correction on muscle activation amplitudes recorded from the

cervicobrachial region Journal of electromyography and

Kinesiology; 15: 527-535

24 Park SY, Yoo WG (2013) Effect of sustained typing work on changes in scapular position, pressure pain sensitivity and

upper trapezius activity Journal Occup Health;55(3)

25 Perry M, Smith AJ, Straker LM, Coleman JL, O’Sullivan

PB (2008) Reliability of sagittal photographic spinal posture assessment in adolescents Advances in Physiotherapy; 10(2): 66-75

26 Rudolfsson T, Bjorklund M, Djupsjobacka M (2012) Range of motion in the upper and lower cervical spine in people with

chronic neck pain Manual Therapy, 17(1):53-9

27 Silva AG, Punt TD, Sharples P, Vilas-Boas JP, Johnson MI (2009) Head posture and neck pain of chronic nontraumatic origin: a comparison between patients and

pain free persons Archives of Physical Medicine and

Rehabilitation,90:669-74

28 Solow B, Ovesen J, Nielsen PW, Wildschiodtz G, Tallgren

A (1993) Head posture in obstructive sleep apnoea

European Journal of Orthodontics, 15: 107-14

29 Straker L, Jones KJ, Miller J (1997) A comparison of postures assumed when using laptop computers and DT

computers Applied Ergonomics,28:263-9

30 Straker LM, O’Sullivan PB, Smith AJ, Perry MC (2009) Rel++ationships between prolonged neck/shoulder pain and sitting spinal posture in male and female adolescents

Manual Therapy,14:321-329

31 Szeto G, Straker L, O’Sullivan P (2005) A comparison of symptomatic and asymptomatic office workers performing monotonous keyboard work-2: neck and

shoulder kinematics Manual therapy,10:270-80

32 Yoo WG, An DH (2009) The relationship between the active cervical range of motion and changes in head and neck

posture after continuous VDT work Ind Health;47:183–188

Ngày đăng: 15/01/2020, 21:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w