1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

So sánh phương pháp sinh học phân tử MTBDRplus với phương pháp kháng sinh đồ trong việc phát hiện Mycobacterium tuberculosis kháng Isoniazid và Rifampicin

7 89 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 344,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá tính chính xác của phương pháp sinh học phân tử MTBDRplus trong việc xác định tính kháng thuốc ở bệnh nhân nghi ngờ lao trong năm 2015 - 2016 trên cở sở phương pháp tham chiếu là kháng sinh đồ trên môi trường lỏng BACTEC MGIT 960 và khảo sát tần suất của các loại đột biến kháng thuốc Rifampicin và Isoniazid.

Trang 1

SO SÁNH PHƯƠNG PHÁP SINH HỌC PHÂN TỬ MTBDRplus

VỚI PHƯƠNG PHÁP KHÁNG SINH ĐỒ TRONG VIỆC PHÁT HIỆN MYCOBACTERIUM TUBERCULOSIS KHÁNG ISONIAZID VÀ RIFAMPICIN

Trương Thiên Phú*, Trần Thị Thanh Nga*, Ngô Minh Quân*, Nguyễn Đào Ngọc Lan*, Phan Thanh Tùng*, Lê Thị Kiều*, Huỳnh Thị Mỹ Nga*, Phạm Thị Phương Mai*, Nguyễn Thị Xuân Hỷ*, Lê Thị Kim Cúc*, Nguyễn Thị Ngọc Thảo*, Lê Nguyễn Hoàng Vũ*,

Nguyễn Phong Phú*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá tính chính xác của phương pháp sinh học phân tử MTBDRplus trong việc xác định

tính kháng thuốc ở bệnh nhân nghi ngờ lao trong năm 2015 - 2016 trên cở sở phương pháp tham chiếu là kháng sinh đồ trên môi trường lỏng BACTEC MGIT 960 và khảo sát tần suất của các loại đột biến kháng thuốc Rifampicin và Isoniazid

Vật liệu và phương pháp: Tổng số 17.158 bệnh phẩm bao gồm: đàm, dịch dạ dày, dịch rửa phế quản…

được gửi đến phòng Xét nghiệm Lao, Khoa Vi sinh Lâm sàng, bệnh viện Chợ Rẫy trong năm 2015 và 2016 theo quy trình chẩn đoán thường qui Quy trình xét nghiệm bao gồm soi AFB, cấy và định danh những cụm khuẩn mọc trên môi trường lỏng MGIT và môi trường đặc LJ bằng phương pháp sinh học phân tử assay Mẫu cấy MTB dương tính được thực hiện kháng sinh đồ hàng 1 trên môi trường lỏng BACTEC MGIT 960 Kết quả xác định tính kháng thuốc của phương pháp sinh học phân tử được đối chiếu với phương pháp chuẩn kháng sinh đồ

Kết quả: Trong tổng số 17.158 bệnh phẩm có 1819 mẫu bệnh phẩm (10,6%) (gồm mẫu trực tiếp (n = 71) và

mẫu cấy (n = 1748)) được thực hiện với phương pháp MTBDRplus Có 681 mẫu cấy dương tính MTB được thực hiện kháng sinh đồ hàng 1 Độ tương đồng giữa kết quả của phương pháp MTBDRplus và phương pháp kháng sinh đồ trong việc phát hiện lao đa kháng thuốc (MDR-TB), kháng Rifampicin (RIF) và Isoniazid (INH) là 98,8%; 99,0% và 97,1% Độ nhạy và độ đặc hiệu của MTBDRplus trong việc xác định tính kháng RIF là 96,6%

và 99,1%, xác định tính kháng INH là 92,1% và 98,2% Đột biến thường xuất hiện ở gene rpoB (kháng thuốc RIF) là S531L (58,8%); ở gene katG (kháng thuốc INH) là S315T1 (75,4%) Sự khác biệt giữa phương pháp kháng sinh đồ và phương pháp sinh học phân tử có thể giải thích bởi sự hiện diện của một số đột biến hiếm ở quần thể hỗn hợp vi khuẩn nhạy và kháng thuốc

Kết luận: Phương pháp sinh học phân tử Genotype MTBDRplus là phương pháp sàng lọc nhanh số lượng

lớn bệnh phẩm với độ nhạy và độ đặc hiệu cao và thời gian thực hiện ngắn Kết quả từ nghiên cứu này góp phần vào chính sách phát triển của Tổ chức y tế thế giới (TCYTTG - WHO) trong việc sử dụng phương pháp sinh học phân tử sàng lọc nhanh lao đa kháng thuốc (MDR-TB) cũng như góp phần vào dữ liệu dịch tễ học về tần suất gen kháng thuốc của vi khuẩn lao

Từ khóa: Genotype MTBDRplus, MDR-TB, isoniazid, rifampicin

*Khoa Vi sinh, Bệnh viện Chợ Rẫy

Tác giả liên lạc: TS.BS Trương Thiên Phú, ĐT: 0906355534, Email: truongthienphu78@yahoo.com

Trang 2

ABSTRACT

COMPARISION OF GENOTYPE MTBDRplus MOLECULAR ASSAY WITH CONVENTIONAL DRUG SUSCEPTIBILITY TESTING METHOD FOR ISONIAZID AND RIFAMPICIN RESISTANCE IN

TUBERCULOSIS PATIENTS

Truong Thien Phu, Tran Thi Thanh Nga, Ngo Minh Quan, Nguyen Đao Ngoc Lan, Phan Thanh Tung,

Le Thi Kieu, Huynh Thi My Nga, Pham Thi Phuong Mai, Nguyen Thi Xuan Hy, Le Thi Kim Cuc,

Nguyen Thi Ngoc Thao, Le Nguyen Hoang Vu, Nguyen Phong Phu

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 22 - No 5- 2018: 155 – 161

Objectives: To evaluate the Genotype MTBDRplus kit with the conventional standard drug susceptibility

testing of isoniazid and rifampicin by BACTEC MGIT 960 method

Materials and methods: A total of 17,158 diagnosis clinical specimens (sputum samples, gastric aspirate,

bronchoscopy aspirate…) sent to Mycobacteriology Laboratory, Department of Clinical Microbiology of Cho Ray Hospital in 2015 and 2016 during the clinical routine Laboratory algorithms included AFB smear, culture, and commercial Genotype MTBDRplus assay was implemented on MTB identification of positive growth on MGIT and Lowenstein-Jensen media The performance of Genotype molecular assay was compared to phenotypic DST method and analyzed the genetic of drug resistance patterns

Results: Overall 1819 valid results were obtained for 17,158 clinical specimens (10.6%) with MTBDRplus

681 MTB positive cultures have been made drug susceptibility testing row 1 The overall of concordance between

the results of MTBDRplus assay and those of the drug susceptibility testing for the assessment of MDR-TB, RIF and INH resistance were 98.8%, 99.0% and 97.1%, respectively For specimens positive for M tuberculosis by MTBDRplus, this assay’s sensitivity and specificity for rifampin resistance were 96.6%, 99.1% For isoniazid resistance, they were 92.1% and 98.2% The frequency of rpoB mutations in RIF resistance strains were S531L (58.8%) Of INH resistant strains, the most prevalence resistance mutation was S315T1 (75.4%) in the katG gene Disagreement between phenotypical and molecular test results could be explained by the presence of rare mutations in strains caused the presence of mixed bacterial populations

Conclusion: The Genotype MTBDRplus assay is a useful tool for screening large numbers of specimens

rapidly with high sensitivity, specificity and short turnaround time Data of this study contributed to the development of WHO policy on the utility of this molecular assay for MDR-TB screening and the important of mutant distribution in epidemiology data

Keywords: Genotype MTBDRplus, MDR-TB, isoniazid, rifampicin

ĐẶT VẤN ĐỀ

Vi khuẩn lao (Mycobacterium tuberculosis -

MTB) là một trong những nguyên nhân gây nên

số tử vong cao nhất trong những bệnh truyền

nhiễm trên toàn cầu Việt Nam đứng thứ 12

trong 22 nước có tỉ lệ nhiễm lao cao trên thế giới,

với hơn 100.000 ca mới được phát hiện hàng

năm; và đứng thứ 14 trên tổng số 27 nước có tỉ lệ

lao đa kháng thuốc (MDR-TB, kháng đồng thời 2

loại thuốc hàng 1 là Isoniazid (INH) và

Rifampicin (RIF)) Theo báo cáo của TCYTTG

năm 2015, tỉ lệ nhiễm lao ở Việt Nam là 137 trên

100.000 dân Tỉ lệ lao đa kháng thuốc trong nhóm bệnh nhân mới là 4,1% và trong nhóm bệnh nhân lao đã điều trị là 25%(12) Thêm vào

đó, bệnh lao càng trở nên nghiêm trọng hơn khi việc điều trị lao đa kháng thuốc và kháng thuốc phổ rộng (Extensively Drug Resistance –XDR) gặp nhiều khó khăn do việc điều trị tốn kém trong thời gian dài cùng với việc điều trị thất bại

và tái nhiễm

Hiện nay, việc chẩn đoán lao và lao đa kháng thuốc dựa trên phương pháp xác định kiểu hình là nuôi cấy vi khuẩn và thực hiện

Trang 3

kháng sinh đồ trong thời gian từ 4 – 8 tuần Hơn

nữa để đạt được qui trình tối ưu cho kỹ thuật

nuôi cấy và kháng sinh đồ phòng xét nghiệm

cần có đủ trang thiết bị và đào tạo nhân lực đạt

chuẩn Do đó, các nước có kinh tế kém và đang

phát triển gặp nhiều khó khăn trong việc tầm

soát bệnh lao Vì vậy, việc chẩn đoán sớm lao đa

kháng thuốc và kháng thuốc phổ rộng từ bệnh

phẩm lâm sàng là việc có ý nghĩa lớn và cấp thiết

cho việc rút ngắn thời gian chẩn đoán và điều trị

lao sớm, đúng hướng, góp phần giảm tỉ lệ tử

vong cũng như việc giảm tỉ lệ truyền nhiễm của

vi khuẩn lao kháng thuốc

Trong những năm gần đây, một số phương

pháp sinh học phân tử đã được phát triển và

ứng dụng rộng rãi trong việc phát hiện vi khuẩn

lao và xác định kiểu gene kháng thuốc bao gồm

Line probe assays (Genotype MTBDRplus; Hain

Lifescience GmbH, Germany, INNO LIPA

Rif.TB, Belgium) và real-time PCR (Xpert;

Cepheid, USA) Với phương pháp xác định kiểu

gene, Genotype MTBDRplus được ứng dụng xác

định gene kháng RIF và INH trong mẫu bệnh

phẩm cấy và bệnh phẩm lâm sàng đã được đánh

giá có độ tương đồng cao với phương pháp

kháng sinh đồ(3,5,13) Một nghiên cứu hồi cứu về

dữ liệu của các bài nghiên cứu cho thấy độ nhạy

và độ đặc hiệu của Genotype MTBDRplus trong

việc phát hiện gene kháng RIF là 99% (95%

confidence interval (CI), 96% - 100%) và 99%

(95% CI, 98% - 100%); đối với kháng INH là 96%

(93 - 98%) và 100% (99 - 100%) Vì vậy, TCYTTG

hướng đến việc sử dụng rộng rãi phương pháp

sinh học phân tử trong việc tầm soát lao đa

kháng thuốc từ tháng 6 năm 2008, và Genotype

MTBDRplus assay đã được ứng dụng trong chẩn

đoán thường qui ở nhiều nơi trên thế

giới(2,6,9,10,13)

Mục tiêu hướng đến của nghiên cứu này là

đánh giá việc ứng dụng Genotype MTBDRplus

assay trong việc chẩn đoán nhanh bệnh lao và

các gene kháng thuốc trong bệnh phẩm lâm sàng

và mẫu nuôi cấy Kết quả của Genotype

MTBDRplus assay sẽ được so sánh với kết quả từ

phương pháp kháng sinh đồ để đánh giá độ tương đồng, độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đóan kháng và nhạy của hai phương pháp chẩn đoán Đồng thời, tần suất xuất hiện của các đột biến được phân tích để phản ánh mối tương quan giữa kiểu gen và sự đa kháng thuốc thể hiện ở kiểu hình vi khuẩn trong kháng sinh đồ

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

Quy trình xét nghiệm và bệnh phẩm lâm sàng

Tất cả xét nghiệm chẩn đóan bệnh lao được thực hiện tại Phòng xét nghiệm lao, khoa Vi sinh Lâm sàng, bệnh viện Chợ Rẫy Nghiên cứu được phân tích dựa trên dữ liệu xét nghiệm thực hiện

từ tháng 1 năm 2015 đến tháng 12 năm 2016 Tổng số 17.158 bệnh phẩm bao gồm mẫu đàm, mẫu dịch dạ dày, dịch rửa phế quản… đã được gửi đến phòng xét nghiệm thực hiện cấy và định danh trực tiếp

Bệnh phẩm lâm sàng được khử nhiễm và cô

đặc bằng phương pháp sử dụng

N-acetyl-L-cystein (NALC) và NaOH Đối với bệnh phẩm

có chỉ định cấy, cặn lắng sau khi li tâm được huyền phù trong 2 ml nước cất 500 µL dịch huyền phù được cấy vào môi trường lỏng MGIT

và cấy 4 - 5 giọt lên ống môi trường đặc LJ Bệnh phẩm trực tiếp cũng được xử lý như trên và phần huyền phù 2 ml được chứa vào tube để trữ đông -20oC dùng cho việc tách DNA

Định danh vi khuẩn lao từ môi trường cấy và kháng sinh đồ

Vi khuẩn nghi ngờ lao mọc trên môi trường cấy sẽ được định danh bằng Genotype

MTBDRplus assay (Version 2.0) Kháng sinh đồ

được thực hiện theo chỉ định trên chủng vi khuẩn MTB đã được định danh

Kháng sinh đồ hàng 1 được thực hiện trên môi trường lỏng bằng máy BACTEC MGIT 960 theo hướng dẫn của nhà sản xuất(7,8) Nồng độ thuốc INH và RIF được sử dụng lần lượt là 0,1 µg/ml và 1,0 µg/ml Kết quả được trả là kháng thuốc khi có hơn 1% vi khuẩn mọc trong ống chứa thuốc so sánh với ống chuẩn

Trang 4

Xét nghiệm Genotype MTBDRplus assay

Xét nghiệm Genotype MTBDRplus assay

được thực hiện theo hướng dẫn của nhà sản

xuất để định danh MTB và xác định các đột

biến trên các gene rpoB, katG, và inhA tương

ứng với kháng thuốc RIF và INH ở nồng độ

cao và nồng độ thấp Tóm tắt phương pháp là

DNA được tách chiết bằng Genolyse kit (Hain

Lifesciences, Germany) từ 1 ml bệnh phẩm

trực tiếp đã xử lý hoặc 1 ml mẫu cấy Phản

ứng khuếch đại PCR được thực hiện trên 50

µL phản ứng bao gồm 45 µL master-mix do

nhà sản xuất cung cấp cùng 5 µL DNA tách

chiết Sau đó, sản phẩm PCR được lai với

DNA trên que lai và phân tích kết quả trực

tiếp trên que lai ghi nhận vào file thống kê dữ

liệu excel

KẾT QUẢ

Nuôi cấy vi khuẩn và định danh MTB

Tổng số 17.158 đã được gửi đến phòng xét

nghiệm lao, trong đó có 17.087 mẫu bệnh phẩm

được chỉ định thực hiện soi AFB, cấy, định danh

và 71 mẫu trực tiếp làm xét nghiệm MTBDRplus

(hình 1) Có 1748 mẫu cấy có cụm khuẩn soi

dương tính dưới dạng cuộn thừng được định

danh MTBDRplus, trong đó 906 mẫu dương tính

với MTB nhưng chỉ có 681 mẫu được chỉ định

làm kháng sinh đồ

Bảng 1: Các loại mẫu được chẩn đoán bằng kít

Genotype MTBDRplus assay trong năm 2015 – 2016

Loại mẫu

Mẫu nghi ngờ lao phổi

(phức hợp MTB dương

tính/ tổng số mẫu thực

hiện)

Mẫu nghi ngờ lao ngoài phổi (phức hợp MTB dương tính/ tổng số mẫu thực hiện)

Mẫu bệnh

phẩm lâm

sàng trực tiếp

Đàm (5/53) Mủ (0/1) Dịch rửa phế quản (1/4) Nước tiểu (0/3)

Dịch màng phổi (1/3) Khác (1/7)

Mẫu nuôi cấy

từ bệnh phẩm

lâm sàng

Đàm (855/1,697) Mủ (0/0) Dịch rửa phế quản

(41/41)

Nước tiểu (2/2) Dịch màng phổi (1/1) Mô (4/4)

Khác (3/3)

Có 1.819 mẫu được định danh với kít

Genotype MTBDRplus trong năm 2015 – 2016

được thể hiện trong Bảng 1 bao gồm mẫu bệnh

phẩm trực tiếp (n = 71) và mẫu bệnh phẩm cấy (n = 1.748) Bên cạnh những mẫu phân lập được trên môi trường MGIT và LJ, có tổng 71 mẫu trực tiếp nghi ngờ lao phổi (84,5%) và lao ngoài phổi (15,5%) được gửi đến phòng xét nghiệm để xác định Tỉ lệ phát hiện dương tính MTB là 11,3% đối với mẫu bệnh phẩm trực tiếp và 1 ca MDR-TB được phát hiện từ bệnh phẩm đàm Trong tổng số 1,748 mẫu cấy cần định danh

bằng kít Genotype MTBDRplus, kết quả dương

tính MTB là 906 (51,8%), 842 mẫu không phát hiện phức hợp MTB sau khi định danh (48,2%) Trong số những kết quả này, có một số mẫu gặp khó khăn trong việc phân tích kết quả (1,5%) và xét nghiệm được lặp lại để đạt được kết quả phân tích cuối cùng

So sánh độ tương đồng của phương pháp kháng sinh đồ và Genotype MTBDRplus assay

Trong tổng số 906 mẫu cấy dương tính MTB thì có 681 mẫu được thực hiện kháng sinh đồ hàng 1 bằng phương pháp phương pháp BACTEC MGIT 960, 225 mẫu còn lại không có chỉ định thực hiện

Kết quả kháng sinh đồ của tổng 681 mẫu có

29 ca MDR-TB (4,3%), 36 ca kháng một loại thuốc Isoniazid (5,3%) và không có chủng nào chỉ kháng một loại Rifampicin Những chủng còn lại bao gồm nhạy với 5 loại thuốc và kháng nhiều loại thuốc Dựa trên kết quả của phương pháp chuẩn là kháng sinh đồ, kết quả Genotype

MTBDRplus cho thấy có độ tương đồng cao

trong việc phát hiện MDR-TB là 28 trên 29 ca Kết quả phân tích về độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán kháng và giá trị tiên đoán nhạy

được trình bày trong Bảng 2 Kết quả cho thấy có

sự khác biệt ở 1 ca là MTBDRplus thể hiện nhạy

RIF do không phát hiện vạch đột biến nhưng kết quả kháng sinh đồ là kháng RIF Vì thế, so sánh

độ tương đồng chung giữa 2 phương pháp về sự kháng RIF và INH lần lượt là 99,0% và 97,1% Kết quả độ nhạy của INH có sự khác biệt do có

10 mẫu thể hiện kháng INH ở MTBDRplus

nhưng kháng sinh đồ thể hiện nhạy thuốc INH

Tỉ lệ được tính dựa trên phương pháp chuẩn

Trang 5

kháng sinh đồ;

PPV-Positive predictive value (Giá trị tiên

đoán kháng),

NPV- Negative predictive value (Giá trị tiên

đoán nhạy)

Bảng 2: Kết quả của Genotype MTBDRplus assay trong việc phát hiện MDR-TB, kháng và nhạy của RIF và

INH

Độ đặc hiệu 98.2%(545/555) 99.1 (646/652) 98.9% (555/561)

Độ tương đồng 97.1 (661/681) 99.0% (674/681) 98.8% (584/591) Giá trị tiên đoán kháng 92.1% (116/126) 82.4% (28/34) 82.9% (29/35) Giá trị tiên đoán nhạy 98.2% (545/555) 99.8% (646/647) 99.8% (555/556)

Hình 1 Qui trình xét nghiệm nuôi cấy vi khuẩn và kết quả

Tần suất xuất hiện các đột biến ở gene kháng

INH và RIF

Các đột biến kháng thuốc INH và RIF được

phát hiện bằng kít MTBDRplus (tổng số mẫu

kháng phân tính n = 126) được thể hiện trong

Hình 2 Trong tổng số 34 chủng MTB kháng RIF,

tần suất xuất hiện các đột biến trên gene rpoB là:

11 ca có 1 trong 8 vạch wild type biến mất

(32,4%), 20 ca có xuất hiện đột biến S531L

(58,8%), 2 ca có đột biến H526Y (5,9%), 1 ca có đột biến D516V (2,9%)

Trong tổng số 126 chủng kháng INH, tần xuất xuất hiện đột biến S315T1 là 95 ca (75,4%)

trên gene katG, 23 ca có đột biến C15T (18,3%) trên gene inhA

Kết quả MTBDRplus phân tích có 5 ca kháng

RIF nhưng kết quả kháng sinh đồ là nhạy cho thấy ở những chủng này có vạch wild type biến

Trang 6

mất nhưng không phát hiện được vạch đột biến

trên que lai DNA

Hình 2 Tần suất xuất hiện đột biến ở chủng vi

khuẩn kháng INH và RIF (N=126)

BÀN LUẬN

Kết quả của phương pháp sinh học phân tử

Genotype MTBDRplus cho thấy độ nhạy (96,7%)

và độ đặc hiệu (98,9%) cao, độ tương đồng với

phương pháp chuẩn kháng sinh đồ là 98,8%

trong việc phát hiện lao đa kháng thuốc

MDR-TB Kết quả của nghiên cứu này tương đồng với

một số kết quả đạt được từ các nghiên cứu trước

được thực hiện ở Việt Nam và một số nước

khác(2,6,9,10) Thêm vào đó, thời gian thực hiện

phương pháp sinh học phân tử ngắn hơn so với

phương pháp cấy và kháng sinh đồ truyền

thống (2,5 ngày thực hiện MTBDRplus so với 29

ngày cấy và 12 ngày làm kháng sinh đồ) Hơn

thế nữa, MTBDRplus còn được sử dụng để phát

hiện MTB ở những mẫu cấy bị tạp nhiễm hoặc

không mọc bằng cách sử dụng cặn lắng trực tiếp

từ mẫu bệnh phẩm; hoặc những mẫu có lẫn

NTM Từ những kết quả trên cho thấy phương

pháp sinh học phân tử có ứng dụng cao trong

việc phát hiện những ca lao mới và quản lý lao

đa kháng thuốc (MDR-TB) ở những nước có tỉ lệ

nhiễm lao cao

Nhìn chung, kết quả MTBDRplus cũng thể

hiện độ chính xác cao trong việc tìm chủng

kháng INH (độ nhạy 92,1%, độ đặc hiệu 98,2%);

đối với chủng kháng RIF (độ nhạy 96,6%, độ đặc

hiệu 99,1%) Tuy nhiên, độ đặc hiệu của kít trong

việc phát hiện MDR-TB là 98,9% Kết quả thực nghiệm cho thấy 6 ca có sự khác biệt giữa phương pháp xác định kiểu gene (genotype -

MTBDRplus) và phương pháp xác định kiểu

hình (phenotype – kháng sinh đồ) Qua đó, cho thấy phương pháp xác định kiểu gene đã phát hiện hơi quá mức sự kháng thuốc so với phương pháp chuẩn Điều này có thể lí giải do sự hiện diện của quần thể hỗn hợp vi khuẩn nhạy và kháng thuốc (“heteroresistance”) trong mẫu

“heteroresistance” đã được báo cáo bởi Rinder

và cộng sự(11) và được xem là yếu tố quan trọng

có thể ảnh hưởng đến độ chính xác và tin cậy của phương pháp kháng sinh đồ Sự khác biệt có thể được giải thích do hỗn hợp vi khuẩn nhạy và kháng thuốc cùng tồn tại trong mẫu bệnh phẩm lâm sàng; kiểu gene đột biến được phát hiện bởi

MTBDRplus trong khi đó quần thể vi khuẩn

nhạy thuốc có thể phát triển lấn át trong môi trường lỏng và thể hiện kiểu hình “nhạy” trong kháng sinh đồ

Phương pháp sinh học phân tử thực hiện nhanh và có độ chính xác cao có ý nghĩa lớn trong việc quản lý bệnh lao được thể hiện trong việc chọn phác đồ điệu trị đúng và sớm trong thời kỳ đầu Việc phát hiện các đột biến cho thấy xuất hiện khả năng kháng thuốc ở bệnh nhân lao đối với các 2 thuốc trọng yếu là Isoniazid và Rifampicin Sự phát hiện các tần suất đột biến

S315T1 ở gene katG và C15T trên gene inhA giúp

các bác sĩ lâm sàng lựa chọn phác đồ điều trị hợp

lí hơn Nếu đột biến xuất hiện ở gene inhA

kháng INH nồng độ thấp, nồng độ INH cao có thể đạt hiệu quả trong quá trình điều trị Mặt

khác, nếu thể hiện đột biến ở gene katG kháng

INH ở nồng độ cao, INH sẽ không bao gồm trong phác đồ điều trị Ở các ca lao đa kháng

thuốc, chỉ có đột biến S531L xuất hiện trên gene rpoB Kết quả này tương đồng với kết quả từ

những nghiên cứu trước ở quần thể người Việt Nam(9) Genotype MTBDRplus không phát hiện

được 1 ca lao đa kháng thuốc so với phương pháp kháng sinh đồ do không phát hiện được

Trang 7

vạch đột biến từ chủng MTB Kết quả này có thể

do một đột biến hiếm mà kít chẩn đoán không

thể hiện được được hoặc do một đột biến khác

xảy ra trên cùng gene rpoB

Nghiên cứu của chúng tôi phát hiện 8 ca

dương tính với MTB trên tổng số 71 mẫu bệnh

phẩm trực tiếp, trong đó có 1 trường hợp lao

đa kháng thuốc trong mẫu đàm trực tiếp Kết

quả cho thấy kít MTBDRplus có thể ứng dụng

để sàng lọc lao đa kháng từ mẫu bệnh phẩm

trực tiếp để giúp chẩn đoán nhanh, điều trị

sớm và hạn chế lây lan các trường hợp lao đa

kháng thuốc

Bên cạnh những ứng dụng thuận lợi của kít

MTBDRplus, chúng tôi nhận thấy còn một số hạn

chế khi thực hiện và phân tích kết quả xét

nghiệm từ bệnh phẩm lâm sàng trực tiếp Một số

que lai không thể phân tích kết quả và phải thực

hiện lặp lại Tuy nhiên, tỉ lệ những xét nghiệm

cần lặp lại (1,5%) của chúng tôi thấp hơn so với

một số nghiên cứu trước trên mẫu đàm trực tiếp

(5 - 12%)(4) Kết quả này nhấn mạnh rằng xét

nghiệm MTBDRplus đòi hỏi sự cẩn trọng từ

người thực hiện khi phân tích kết quả trên mẫu

xét nghiệm trực tiếp để tránh trường hợp âm

tính giả hoặc nhiễm chéo DNA gây trường hợp

dương tính giả

KẾT LUẬN

Phương pháp sinh học phân tử

MTBDRplus có độ tương đồng cao so với

phương pháp kháng sinh đồ trên môi trường

lỏng BACTEC MGIT 960 trong việc phát hiện

lao kháng thuốc INH (97,1%), RIF (99%),

MDR-TB (98,8%) Các đột biến kháng thuốc

hay gặp của RIF là S531L (58,8%) trên gen

rpoB, của INH là S315T1 (75,4%) trên gen katG

và C15T (18,3%) trên gen inhA Phương pháp

này còn có thể áp dụng trên bệnh phẩm trực

tiếp để giúp chân đoán nhanh, điều trị kịp thời

và hạn chế lây lan các trường hợp lao đa kháng thuốc

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bwanga F, Hoffner S, Haile M, Joloba ML (2009): Direct susceptibility testing for multi-drug resistant tuberculosis: a

meta-analysis BMC Infect Dis, 9:67

2 Cavusoglu C, Turhan A, Akinci P, Soyler I (2005) Evaluation of the Genotype MTBDR assay for rapid detection of rifampin and

isoniazid resistance in Mycobacterium tuberculosis isolates J

Clin Microbiol, 43(8):3699-3703

3 Cavusoglu C, Gursel D, Aktoprak HB (2011) Evaluation of the

genotype MTBDRplus assay for the diagnosis of tuberculosis

and rapid detection of rifampin and isoniazid resistance in

clinical specimens Turk J Med Sci, 41(3):419-425

4 Hillemann D, Rusch-Gerdes S, Richter E (2006) Appication of the Genptype MTBDRplus assay directly on sputum specimens

Int J Tuberc Lung Dis, 10: 1057-1059

5 Hillemann D, Rusch-Gerdes S, Richter E (2007) Evaluation of the Genotype MTBDRplus assay for rifampicin and isoniazid

susceptibility testing of Mycobacterium tuberculosis strains and clinical specimens J Clin Microbiol, 45(8):2635-2640

6 Hillemann D, Weizenegger M, Kubica T, Richter E, Niemann S (2005) Use of the genotype MTBDRplus assay for rapid detection of rifampin and isoniazid resistance in Mycobacterium

tuberculosis complex isolates J Clin Microbiol, 43(8): 3699-3703

7 Kent PT, Kubica GP et al (1985): Public health mycobacteriology: a guide for the level III laboratory Atlanta:

US Department of Health and Human Services; 30329-4027

8 Kruuner A, Yates MD, Drobniewski FA (2006) Evaluation of MGIT 960-based antimicrobial testing and determination of critical concentrations of first- and second-line antimicrobial drugs with drug-resistant clinical strains of Mycobacterium

tuberculosis J Clin Microbiol, 44(3):811-818

9 Mai NT Huyen, Edine W Tiemersma, Nguyen TN Lan et al

(2010) Validation of the Genotype MTBDRplus assay for

diagnosis of multidrug resistant tuberculosis in South Vietnam

BMC Infectious Disease, 10:149

10 Miotto P, Piana F, Penati V, Canducci F et al (2006) Use of genotype MTBDRplus assay for molecular detection of rifampin and isoniazid resistance in Mycobacterium tuberculosis clinical

strains isolated in Italy J Clin Microbiol, 44(7):2485-2491

11 Rinder H, Mieskes KT, Loscher T (2001) Heteroresistance in

Mycobacterium tuberculosis Int J Tuberc Lung Dis, 5(4):339-345

12 Tuberculosis profile 2015 Tuberculosis report in Vietnam by WHO www.who.int/tb/data

13 Vladyslav Nikolayevskyy, Yanina Balabanova, Tatyana Simak

et al (2009) Performance of the Genotype MTBDRplus assay in the diagnosis of tuberculosis and drug resistance in Samara,

Russian Federation BMC Clin Path, 9(2): 1472-6890

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 07/03/2018

Ngày đăng: 15/01/2020, 21:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w