1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phẫu thuật kích thích tủy sống trong điều trị hội chứng đau sau phẫu thuật cột sống: Báo cáo ca lâm sàng và hồi cứu y văn

5 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 318,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày báo cáo kết quả 1 trường hợp đau mạn tính sau phẫu thuật cột sống được điều trị bằng phẫu thuật kích thích tủy sống và tóm lược y văn về hiệu quả và các biến chứng của phẫu thuật này.

Trang 1

PHẪU THUẬT KÍCH THÍCH TỦY SỐNG TRONG ĐIỀU TRỊ

HỘI CHỨNG ĐAU SAU PHẪU THUẬT CỘT SỐNG:

BÁO CÁO CA LÂM SÀNG VÀ HỒI CỨU Y VĂN

Jean Paul Nguyen*, Nguyễn Thi Hùng**, Lê Thái Bình Khang***, Võ Thành Nghĩa****,

Phạm Anh Tuấn****

TÓM TẮT

Mục tiêu: Báo cáo kết quả 1 trường hợp đau mạn tính sau phẫu thuật cột sống được điều trị bằng phẫu

thuật kích thích tủy sống và tóm lược y văn về hiệu quả và các biến chứng của phẫu thuật này

Phương pháp thực hiện: Bệnh nhân nữ, 38 tuổi được chẩn đoán: hội chứng đau sau phẫu thuật cột sống

dựa vào bệnh sử, triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng Phẫu thuật kích thích tủy sống được thực hiện với điện cực kích thích đặt ngoài màng cứng tủy sống ở vị trí D8-D11 Đánh giá hiệu quả điều trị sau 3, 12 và 18 tháng Hồi cứu y văn các bài báo về phẫu thuật kích thích tủy sống trong điều trị hội chứng đau sau phẫu thuật cột sống

Kết quả: Bệnh nhân cải thiện tốt triệu chứng đau sau phẫu thuật: giảm 80% sau 3 tháng, hết hẳn đau chân

ở thời điểm 12 và 18 tháng; đau thắt lưng giảm 50% Hồi cứu y văn cho thấy tỉ lệ thành công của phẫu thuật này trong điều trị hội chứng đau sau phẫu thuật cột sống thay đổi từ 56% đến 88,2% Các biến chứng của phẫu thuật nếu xảy ra đều không ảnh hưởng đến tính mạng hoặc để lại di chứng thần kinh

Kết luận: Phẫu thuật kích thích tủy sống cho thấy có hiệu quả lâu dài trong điều trị đau mạn tính sau phẫu

thuật cột sống thất bại với các phương pháp điều trị khác và có tính an toàn cao

Từ khóa: Đau mạn tính, hội chứng thất bại sau phẫu thuật cột sống, kích thích tủy sống

ABSTRACT

SPINAL CORD STIMULATION FOR FAILED BACK SURGERY SYNDROME: CASE REPORT AND

REVIEW OF THE LITERATURE

Jean Paul Nguyen, Nguyen Thi Hung, Le Thai Binh Khang, Vo Thanh Nghia, Pham Anh Tuan

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 19 - No 6 - 2015: 39 - 43

Objective: The result of spinal cord stimulation in the treatment of one patient with chronic pain after the

spinal surgery is presented with a through review of the literature

Methods: A 38-year-old woman was diagnosed the failed back surgery syndrome by medical history, clinical

signs and paraclinical features The spinal cord stimulation surgery was done with an eclectrode located at D8-D11 A 3, 12 and 18 months follow-up, the result was made We reviewed the articles involved the spinal cord stimulation and failed back surgery syndrome in the literature

Results: After surgery, the patient was improved very good The leg pain was reduced 80% after 3 months

and was recovery totally at 12 and 18 months follow-up The back pain was improved about 50% In the literature, the success rate of this procedure in the treatment of the failed back surgery syndrome was 56-88,2% There have no complication involved life threatening or neurological deficit

Conclusion: The spinal cord stimulation is effective and safe in long-time for chronic pain after spinal

* Đại học Nantes-CH Pháp ** Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch

*** Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh **** BV Nguyễn Tri Phương

Trang 2

surgery which is failed with other treatments

Key words: Chronic pain, failed back surgery syndrome, spinal cord stimulation

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đau thắt lưng và/hoặc đau chân tái phát sau

một hay nhiều phẫu thuật liên quan đến bệnh lý

cột sống thắt lưng – cùng là biểu hiện lâm sàng

của hội chứng đau sau phẫu thuật cột sống

(Failed Back Surgery Syndrome – FBSS) Đây là

nguyên nhân thường gặp nhất gây ra tình trạng

đau thần kinh mạn tính Người bệnh liên quan

với hội chứng này được ghi nhận là tàn tật, chất

lượng cuộc sống giảm và chi phí chăm sóc y tế

tăng cao Hội chứng này xảy ra với tỉ lệ 5% -

40% Có nhiều lý do có thể dẫn đến hội chứng

này như: chẩn đoán trước mổ không đúng, chọn

lọc bệnh nhân không phù hợp, giải áp không

đầy đủ, phẫu thuật sai tầng, thoát vị đĩa đệm tái

phát, mất vững cột sống kèm theo, bệnh lý khối

khớp, chấn thương rễ thần kinh, xơ hóa ngoài

màng cứng và viêm màng nhện Điều trị bảo tồn

kết hợp vật lý trị liệu, tâm lý trị liệu, tiêm thấm

giảm đau, hoặc phẫu thuật lại là những lựa chọn

để giải quyết vấn đề đau trên những bệnh nhân

này Tuy nhiên, đối với những trường hợp đau

kháng trị, việc điều trị vẫn là một thách thức

Phẫu thuật kích thích tủy sống là phương pháp

đưa kích thích điện qua những điện cực được

đặt vào ngoài màng cứng ở sừng sau tủy sống để

điều trị đau mạn tính không đáp ứng với các

phương pháp điều trị khác Phương pháp này

không làm tổn thương đường dẫn truyền cảm

giác đau hoặc làm thay đổi các cấu trúc giải phẫu

và có thể đảo ngược Đến thời điểm này, mỗi

năm có hơn 14.000 ca phẫu thuật kích thích tủy

sống được thực hiện trên toàn thế giới Tại Việt

Nam, việc ứng dụng phẫu thuật này trong điều

trị đau kháng trị chỉ mới bắt đầu

Mục tiêu của bài báo này là báo cáo ca lâm

sàng ứng dụng phẫu thuật kích thích tủy sống

trong điều trị hội chứng đau sau phẫu thuật cột

sống đầu tiên được thực hiện tại Bệnh viện

Nguyễn Tri Phương; đồng thời, tóm lược y văn

về hiệu quả và tính an toàn của phẫu thuật này

CA LÂM SÀNG

Bệnh nhân nữ, 38 tuổi, đến khám vì đau vùng thắt lưng, lan xuống chân trái theo rễ L5 sau phẫu thuật cột sống thắt lưng Bệnh nhân được chẩn đoán thoát vị đĩa đệm L4L5 chèn ép rễ

L5 bên trái và phẫu thuật 3 lần (lần 1: lấy nhân đĩa đệm L4L5 bên trái; lần 2: làm cứng L4L5 theo phương pháp PLIF; lần 3: gỡ dính và giải ép rễ thần kinh)

Các phương pháp đã áp dụng để kiểm soát đau: tiêm thấm khối khớp + phong bế rễ thần kinh, tập vật lý trị liệu và dùng thuốc (Lyrica 150 – 300mg + Mobic 15mg + Ultracet 3 – 4 viên + Amitriptylin 25mg/ngày)

Thăm khám lâm sàng

Đau vùng thắt lưng

Đau lan xuống chân trái theo rễ L5 VAS: 7 – 8

Cận lâm sàng

Điện cơ 2 chân: ghi nhận bệnh lý rễ L5 và S1 bên trái

X quang cột sống thắt lưng: nẹp vít L4L5, không ghi nhận mất vững cột sống

MRI cột sống thắt lưng: nẹp vít cột sống L4L5, không thấy thoát vị đĩa đệm, không chèn ép rễ thần kinh rõ rệt

Bệnh nhân được thử kích thích qua da (TENS): có đáp ứng

Bệnh nhân được phẫu thuật đặt điện cực kích thích tủy sống Điện cực được đặt ngoài màng cứng ở vị trí D8 – D11 và được nối với bộ phát xung điện đặt ở vùng bụng

Kết quả phẫu thuật

1 tháng sau: mức độ đau VAS (paramettre kích thích: 210 µs, 90Hz, 0,9mA) Bệnh nhân chỉ dùng Lyrica 75mg và Myonal 100mg

3 tháng sau: cải thiện triệu chứng đau 80% và kích thích 1 – 1,2mA, bệnh nhân đi làm lại

Trang 3

12 và 18 tháng sau: hết hẳn triệu chứng đau

theo rễ, triệu chứng đau lưng giảm hơn 50%

(VAS:2) Mức độ kích thích 1 – 1,2 mA

Hình 1: X quang cột sống thắt lưng thẳng nghiêng

cho thấy dụng cụ làm cứng cột sống đúng vị trí Bộ

phận phát xung đặt ở vùng bụng nối với điện cực

Hình 2: Điện cực được đặt ngoài màng cứng – tương

ứng vị trí D8 – D11

BÀN LUẬN

Năm 1967, Shealy(17) đã ứng dụng kích thích

điện vào sừng sau tủy sống để điều trị tình trạng

đau mạn tính kháng trị Phẫu thuật này hoạt

động dựa trên thuyết “gác cổng” (gate – control

theory) của Melzac và Wall (1965) Với kết quả

đạt được rất khả quan trong kiểm soát đau, phẫu thuật kích thích tủy sống đã được áp dụng rộng rãi trong điều trị các rối loạn về đau liên quan đến khối u, chấn thương đám rối thần kinh, đau chi do thiếu máu, đau “chi ma”, bệnh mạch máu ngoại biên, viêm màng nhện, sau phẫu thuật cột sống thắt lưng, … Ước tính mỗi năm có hơn 12.000 phẫu thuật này được thực hiện trên toàn thế giới(5)

Hệ thống kích thích tủy sống bao gồm 1 điện cực được đặt vào khoang ngoài màng cứng (để kích thích sừng sau tủy sống) Sau đó, điện cực được nối với một máy phát xung được đặt dưới

da của bệnh nhân Vị trí của điện cực tùy thuộc vào vị trí của khu vực đau Điện cực được đặt ở vùng cổ để điều trị các tình trạng đau chi trên Trong khi đó, đặt ở vùng ngực và thắt lưng cho các đau ở chi dưới

Đối với đau kháng trị ở vùng lưng và chân trong hội chứng thất bại sau phẫu thuật cột sống, phậu thuật kích thích tủy sống đã cho thất đạt được tỉ lệ thành công trong kiểm soát đau trên 50% Đây cũng là chỉ định thông thường nhất của phẫu thuật này Tác giả Kumar(8), năm 2006, báo cáo 410 trường hợp kích thích tủy sống; trong đó, chỉ định cho hội chứng thất bại sau phẫu thuật cột sống chiếm 220 trường hợp (>50%) Tỉ lệ kiểm soát đau khởi đầu là 83,6% và lâu dài là 60% (thời gian theo dõi trung bình 97,6 tháng) Các báo cáo của các nghiên cứu khác cũng cho thấy tỉ lệ thành công đều trên 50%

Bảng 1: Tỉ lệ thành công và thời gian theo dõi của các

tác giả

Tác giả Số bệnh

nhân

Thời gian theo dõi (tháng)

Tỉ lệ thành công (%)

Leibrock et al

Shatin et al

LeDoux và Langford

Meglio et al

Burchiel et al

Trang 4

Tác giả Số bệnh

nhân

Thời gian theo dõi (tháng)

Tỉ lệ thành công (%)

Bazolat et al

Đánh giá hiệu quả của phương pháp kích

thích tủy sống so với điều trị nội khoa trong hội

chứng đau sau phẫu thuật cột sống Một nghiên

cứu tiến cứu, ngẫu nhiên, đa trung tâm (RCT

multicenter trial) đã được thực hiện ở châu Âu

và Bắc Mỹ Nghiên cứu được thực hiện trên 100

bệnh nhân được phân phối ngẫu nhiên vào hai

nhóm: phẫu thuật kích thích tủy sống và điều trị

nội khoa Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ

thành công sau 6 tháng là 48% ở nhóm phẫu

thuật và 9% ở nhóm còn lại Kết quả sau 12

tháng cho thấy có 32 bệnh nhân trong nhóm

điều trị nội khoa chuyển sang nhóm điều trị

phẫu thuật và kết quả khảo sát sau 24 tháng có

93% bệnh nhân trong nhóm phẫu thuật hài lòng

với kết quả điều trị Nghiên cứu cũng đưa ra các

yếu tố dự đoán thành công của phẫu thuật bao

gồm: điều trị sớm (<3 năm) sau phẫu thuật cột

sống thất bại, ưu thế đau chân và không có rối

loạn tâm lý

Các biến chứng liên quan đến phẫu thuật

này bao gồm: di lệch của điện cực, nhiễm trùng,

máu tụ ngoài màng cứng, tụ dịch, liệt chi, rò dịch

não tủy, gãy điện cực, mất kết nối, … Tuy nhiên,

hầu hết các biến chứng đều không gây ảnh

hưởng tính mạng hoặc để lại di chứng thần kinh

Do đó, đây được xem là một phẫu thuật có độ an

toàn cao Năm 2004, Cameron(5) đã hồi cứu y văn

và ghi nhận các biến chứng với tỉ lệ được trình

bày ở bảng 2

Bảng 2: Tỉ lệ các biến chứng theo tác giả Cameron-

Biến chứng N Tổng số ca Xuất độ (%)

Máu tụ ngoài màng

Biến chứng N Tổng số ca Xuất độ (%)

Kích thích không mong

KẾT LUẬN

Điều trị tình trạng đau kháng trị vùng thắt lưng và chân sau phẫu thuật cột sống là một thách thức trong thực hành lâm sàng Hội chứng này xảy ra thay đổi từ 5 – 10% và phẫu thuật kích thích tủy sống cho thấy có hiệu quả lâu dài trong các trường hợp thất bại với các phương pháp điều trị khác Phẫu thuật này có tính an toàn cao

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Alo KM, Holsheimer J (2002) New trends in neuromodulation

for the management of neuropathic pain Neurosurgery, 50:

690-704

2 Atkinson L, Sundaraj SR et al (2011) Recommendations for

patient selection in spinal cord stimulation Journal of Clinical

Neuroscience, 18: 1295-1302

3 Barolat G, Oakley JC, Law JD, et al (2001) Epidural spinal cord stimulation with a multiple electrode paddle lead is effective in treating intractable low back pain

Neuromodulation, 4: 59–66

4 Burchiel KJ, Anderson VC, Brown FD, et al (1996) Prospective, multicenter study of spinal cord stimulation for

relief of chronic back and extremity pain Spine, 21: 2786–2793

5 Cameron T (2004) Safety and efficacy of spinal cord stimulation for the treatment of chronic pain: a 20-year literature review J Neurosurg (Spine 3), 100: 254-267

6 Fiume D, Sherkat S, Callovini GM, et al (1995) Treatment of the failed back surgery syndrome due to lumbo-sacral

epidural fibrosis Acta Neurochir, 64: 116–118

7 Kumar K, Hunter G, Demeria D (2006) Spinal cord stimulation in treatment of chronic benign pain: challenges in treatment planning and present status, a 22-year experience

Neurosurgery, 58: 481-496

8 Kumar K, Taylor RS et al (2008) The effects of Spinal cord stimulation in neuropathic pain are sustained: A 24-month follow-up of the Prospective Randomized Controlled Multicenter Trial of the effectiveness of Spinal cord

stimulation Neurosurgery, 63: 762-770

9 LeDoux MS, Langford KH (1993) Spinal cord stimulation for

the failed back syndrome Spine, 18: 191–194

10 Lee AW, Pilitsis JG (2006) Spinal cord stimulation: indications

Trang 5

11 Leibrock LG, Meilman P, Cuka D, et al (1984) Spinal cord

stimulation in the treatment of chronic back and lower

extremity pain syndromes Nebr Med J, 6: 180–183

12 Linderoth B, Foreman RD, Mayerson BA (2009) Mechanism

of action of Spinal cord stimulation In: Lozano.A.M,

Gildenberg.P.L, Tasker.R.R, Textbook of Stereotactic and

Functional Neurosurgery, second edition, pp 2331-2348

Spinger, Heidelberg

13 Linderoth B, Mayerson BA (2009) Spinal cord stimulation:

techniques, indications and outcome In: Lozano.A.M,

Gildenberg.P.L, Tasker.R.R, Textbook of Stereotactic and

Functional Neurosurgery, second edition, pp 2305-2330

Spinger, Heidelberg

14 Meglio M, Cioni B, Visocchi M, et al (1994) Spinal cord

stimulation in low back and leg pain Stereotact Funct

Neurosurg, 62: 263–266

15 Moriyama K, Murakawa K et al (2012) A Prospective, Open-label, Multicenter study to assess the efficacy of spinal cord stimulation and identify patients who would benefit

Neuromodulation 15: 7-12

16 Shatin D, Mullett K, Hults G (1986) Totally implantable spinal

cord stimulation for chronic pain: design and efficacy Pacing

Clin Eectrophysiol, 9: 577–583

17 Shealy S, Mortimer JT, Reswick JB (1967) Electrical inhibition

of pain by stimulation of the dorsal columns: preliminary

clinical report Anesth Analg, 46: 489–491

Ngày nhận bài báo: 11/09/2015 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 10/10/2015 Ngày bài báo được đăng: 05/11/2015

Ngày đăng: 15/01/2020, 21:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm