1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hiệu quả của kỹ thuật trưởng thành trứng non (in-vitro maturation – IVM) so với thụ tinh ống nghiệm (in-vitro fertilization – IVF) ở bệnh nhân có số nang noãn thứ cấp nhiều

6 91 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 309,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kỹ thuật trưởng thành trứng non trong ống nghiệm (IVM) được thay thế cho thụ tinh ống nghiệm (IVF) nhằm giảm nguy cơ quá kích buồng trứng (QKBT) ở bệnh nhân có số nang thứ cấp (Antral Follicle Count – AFC) nhiều. Chưa có nghiên cứu so sánh trực tiếp hai kỹ thuật này.

Trang 1

HIỆU QUẢ CỦA KỸ THUẬT TRƯỞNG THÀNH TRỨNG NON

(IN-VITRO MATURATION – IVM) SO VỚI THỤ TINH ỐNG NGHIỆM

(IN-VITRO FERTILIZATION – IVF) Ở BỆNH NHÂN

CÓ SỐ NANG NOÃN THỨ CẤP NHIỀU

Hồ Ngọc Anh Vũ*, Phạm Dương Toàn*, Vương Thị Ngọc Lan**

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Kỹ thuật trưởng thành trứng non trong ống nghiệm (IVM) được thay thế cho thụ tinh ống

nghiệm (IVF) nhằm giảm nguy cơ quá kích buồng trứng (QKBT) ở bệnh nhân có số nang thứ cấp (Antral Follicle Count – AFC) nhiều Chưa có nghiên cứu so sánh trực tiếp hai kỹ thuật này

Mục tiêu: So sánh hiệu quả và tính an toàn của IVM và IVF ở bệnh nhân có AFC nhiều

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu được thực hiện tại Đơn vị hỗ trợ sinh sản Mỹ Đức

(IVFMD), bệnh viện Mỹ Đức, TP Hồ Chí Minh từ 7/2015 đến 12/2017 Bệnh nhân 18-38 tuổi, AFC ≥ 24, điều trị hỗ trợ sinh sản được nhận vào nghiên cứu IVM hay IVF được thực hiện do chỉ định của bác sĩ hay chọn lựa của bệnh nhân Bệnh nhân IVM được tiêm FSH 3 liều và hCG Bệnh nhân IVF được tiêm FSH (phác đồ GnRH đối vận) và hCG Kết cục chính là tỷ lệ trẻ sinh sống sau lần chuyển phôi đầu tiên

Kết quả: Có 919 bệnh nhân được nhận vào nghiên cứu, gồm 608 IVM và 311 IVF Tuổi, BMI và số

noãn không khác biệt giữa 2 nhóm Tỷ lệ trẻ sinh sống không khác biệt giữa 2 nhóm IVM so với IVF (36,5%

vs 40,8%, p=0,274); OR hiệu chỉnh = 0,74 (KTC 95% 0,42-1,3) Không có QKBT ở nhóm IVM, trong khi

đó, 3,5% ở nhóm IVF

Kết luận: Ở bệnh nhân AFC nhiều, IVM có thể thay thế IVF do tránh QKBT và giảm gánh nặng điều

trị cho bệnh nhân

Từ khoá: trưởng thành noãn trong ống nghiệm (IVM), thụ tinh trong ống nghiệm (IVF), AFC, trẻ sinh sống

ABSTRACT

THE EFFECTIVENESS OF IN VITRO MATURATION AND IN VITRO FERTILIZATION IN WOMEN

WITH HIGH ANTRAL FOLLICLES COUNT

Ho Ngoc Anh Vu, Pham Duong Toan, Vuong Thi Ngoc Lan

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 2- 2019: 17 - 22

Introduction: In vitro maturation (IVM) is postulated to be an alternative to conventional in vitro

fertilization IVF to avoid ovarian hyperstimulation syndrome (OHSS) in patients with high Antral Follicle Count (AFC) To date, there is no direct comparison between IVM versus IVF in women with high AFC

Aim: To investigate the effectiveness and safety of IVM and IVF in women with high AFC

Method: We conducted a retrospective study at IVFMD, My Duc Hospital, HCMC, Vietnam from July

2015 to December 2017 We included infertile women between 18-38 years old with AFC ≥ 24, having indication for ART Women received either IVM or IVF treatment depending on patients’ or physicians’ choices In IVM cycles, women received 3 days of FSH followed by hCG In IVF cycles, women underwent a GnRH antagonist protocol and were triggered with hCG 6.500 IU Outcome measures were live birth rate (LBR) after first embryo transfer

*Bệnh viện Mỹ Đức **BM Sản, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: BS Hồ Ngọc Anh Vũ ĐT: 0935843336 Email: bsvu.hna@myduchospital.vn

Trang 2

Results: We studied 919 women, of whom 608 underwent IVM and 311 IVF cycles No significant

differences were found in age, BMI, and number of oocytes between two groups No difference was found in live birth between two groups after first transfer (37% vs 41%, p = 0.274) Adjusted OR of IVM compared with IVF for live birth rate was 0.74, 95%CI 0.42-1.3 OHSS did not occur in the IVM group, while it was 3.5% in IVF group

Conclusion: In women with high AFC, IVM could be an alternative treatment to IVF to avoid OHSS and

reduce treatment burden for patients

Keywords: IVM, IVF, AFC, live birth

ĐẶT VẤN ĐỀ

Từ năm 1949, phương pháp kích thích buồng

trứng (KTBT) được thực hiện thường quy trong

IVF nhằm hai mục đích: (i) Thu được nhiều noãn

chất lượng tốt, từ đó, tạo được nhiều phôi; (ii) Có

phôi dư để trữ lạnh và sử dụng nếu chuyển phôi

tươi thất bại, do đó, tăng kết quả thai cho bệnh

nhân sau một chu kỳ điều trị có KTBT Tuy

nhiên, kỹ thuật này mang lại nhiều gánh nặng

cho bệnh nhân trong quá trình điều trị như nguy

cơ bị hội chứng quá kích buồng trứng, xoắn

buồng trứng, huyết khối tĩnh mạch cũng như

nhiều phiền toái do bệnh nhân phải tiêm thuốc

liên tục, siêu âm, xét nghiệm máu nhiều lần(7,14)

Nhiều giải pháp đã được đưa ra nhằm giải quyết

các hạn chế này từ việc kích thích buồng trứng

Kỹ thuật trưởng thành noãn trong ống nghiệm

(IVM) là một trong số đó Kỹ thuật IVM là một

kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, khác biệt với thụ tinh

ống nghiệm cổ điển ở hai điểm chính: không tiến

hành hoặc chỉ kích thích buồng trứng nhẹ và

noãn chọc hút được là đa số/ hoặc toàn bộ là

noãn chưa trưởng thành Kỹ thuật IVM có ưu

điểm lớn trên nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao bị

ảnh hưởng từ các biến chứng của quá trình kích

thích buồng trứng như bệnh nhân có AFC nhiều

hoặc có hội chứng buồng trứng đa nang(2) Các

báo đầu tiên ghi nhận tỷ lệ thai của IVM thấp,

nhưng hiện nay, kết quả IVM đã được cải thiện

đáng kể

Chúng tôi, trong năm 2018 vừa công bố kết

quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ trẻ sinh sống cộng

dồn của IVM ở bệnh nhân có đa nang buồng

trứng (PCOS) là 33,7%(6) Các nghiên cứu gần

đây cho thấy tỷ lệ thai khá tương đương giữa kỹ

thuật IVM so với IVF sử dụng KTBT với phác đồ

GnRH đồng vận(12,17) hay phác đồ GnRH đối vận(3,18) Tuy nhiên, nhược điểm của các nghiên cứu trước đây là cỡ mẫu nhỏ với kết quả thai không ổn định Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm so sánh hiệu quả và tính

an toàn của kỹ thuật IVM so với kỹ thuật IVF ở bệnh nhân có AFC nhiều

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu

Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân hiếm muộn có AFC nhiều được điều trị hỗ trợ sinh sản tại Đơn vị hỗ trợ sinh sản Bệnh viện Mỹ Đức (IVFMĐ)

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Tiêu chuẩn nhận

Tuổi từ 18 đến 38

Có AFC ≥24 bao gồm các bệnh nhân có hội chứng buồng trứng đa nang hay hình ảnh buồng trứng đa nang được chẩn đoán theo tiêu chuẩn Rotterdam(11)

Được thực hiện IVM hay IVF

Số chu kỳ điều trị hỗ trợ sinh sản ≤2

Tiêu chuẩn loại

Các bệnh nhân có bất thường cấu trúc tử cung

Các chu kỳ: xin noãn, chẩn đoán tiền làm tổ, khởi động trưởng thành noãn bằng

GnRH đồng vận

Cách chọn mẫu

Chọn toàn bộ các chu kỳ IVM và IVF thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu trong thời gian nghiên cứu

Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại IVFMD, Bệnh

Trang 3

viện Mỹ Đức, TP Hồ Chí Minh từ tháng 07/2015

đến tháng 12/2017

Phương pháp tiến hành

Nhóm IVM

Bệnh nhân được tiêm 3 mũi FSH (liều 100IU)

vào ngày thứ 3, 4, 5 của chu kỳ kinh tự nhiên

hoặc sau sử dụng nội tiết tạo kinh nguyệt Siêu

âm được thực hiện vào ngày tiêm mũi FSH cuối

Bệnh nhân được tiêm hCG 10.000 IU (gọi là mồi

hCG) ngày tiếp theo Chọc hút noãn được tiến

hành ở thời điểm 36 giờ sau đó Nuôi cấy trưởng

thành noãn trong 20 giờ với môi trường

Medicult IVM system (Origio, Đan Mạch) Thụ

tinh được thực hiện bằng các tiêm tinh trùng vào

bào tương noãn (ICSI) sau kiểm tra trưởng thành

noãn (1 ngày sau chọc hút noãn) Chuyển phôi

tươi được thực hiện vào 2 ngày sau thụ tinh

Phôi còn dư sau chuyển phôi tươi sẽ được trữ lại

cho các chu kỳ chuyển phôi trữ sau

Nhóm IVF

Bệnh nhân được kích thích buồng trứng

phác đồ GnRH đối vận với liều FSH khởi đầu từ

150-225IU/ngày dựa theo tuổi và BMI Theo dõi

sự phát triển nang noãn bằng siêu âm và định

lượng nồng độ estradiol, progesterone Khi có ít

nhất 2 nang noãn với đường kính từ 17mm trở

lên, khởi động trưởng thành noãn bằng hCG

250µg Chọc hút noãn được tiến hành sau đó 36

giờ Thụ tinh được thực hiện bằng các tiêm tinh

trùng vào bào tương noãn (ICSI) ở thời điểm 3 –

4 giờ sau chọc hút Chuyển phôi tươi được thực

hiện vào 2 ngày sau thụ tinh Phôi còn dư sau

chuyển phôi tươi sẽ được trữ lại cho các chu kỳ

chuyển phôi trữ sau

Chuyển phôi trữ lạnh

Bệnh nhân ở cả 2 nhóm, nếu thất bại chuyển

phôi tươi hay được trữ phôi toàn bộ sẽ được

thực hiện chuyển phôi trữ lạnh (nếu còn phôi dư

được trữ lạnh) Chuẩn bị nội mạc tử cung để

chuyển phôi trữ lạnh được thực hiện bằng cách

sử dụng estradiol uống 2mg/viên, 4 lần mỗi

ngày, từ ngày thứ 2 hoặc thứ 3 của chu kỳ kinh

nguyệt Siêu âm đầu dò âm đạo để theo dõi độ dày niên mạc tử cung (NMTC) từ ngày thứ 6 trở

đi Khi nội mạc tử cung dày ít nhất 8mm, bệnh nhân được sử dụng progesterone đặt âm đạo 400mg/viên, 2 lần mỗi ngày Ba ngày sau bắt đầu progesterone, bệnh nhân được thực hiện rã đông phôi và chuyển phôi

Thử thai và hỗ trợ hoàng thể

Thử thai bằng cách định lượng nồng độ ß-hCG trong máu vào 2 tuần sau chuyển phôi Hỗ trợ hoàng thể bằng estradiol 4mg/ ngày và progesterone ngả âm đạo 800mg/ ngày liên tục tới tuần thứ 7 của thai kỳ

Kết cục nghiên cứu

Kết cục chính: tỷ lệ trẻ sinh sống sau lần chuyển phôi đầu tiên

Kết cục phụ: tỷ lệ thai lâm sàng, thai diễn tiến, thai ngoài tử cung, sẩy thai, đa thai, thời gian có thai và tỷ lệ mắc QKBT(13)

Quản lý và phân tích số liệu

Dữ liệu của bệnh nhân được quản lý bằng phần mềm Microsoft Access Phân tích số liệu được thực hiện bằng phần mềm R, phiên bản 3.3.3 Giá trị p <0,05 được xem là có ý nghĩa

thống kê

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Từ tháng 7/2015 đến tháng 4/2017, có 5205 bệnh nhân được sàng lọc, 919 bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu, trong đó, có 608 bệnh nhân điều trị IVM và 311 bệnh nhân điều trị IVF

Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân trong nghiên cứu

Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân trong

nghiên cứu được trình bày trong Bảng 1

Kết quả noãn phôi

Kết quả noãn, phôi của tất cả các chu kỳ điều

trị IVM và IVF được trình bày trong Bảng 2

Kết quả điều trị TTON và kết quả thai sau lần chuyển phôi đầu tiên

Kết quả điều trị TTON, kết quả thai và trẻ sơ sinh sau lần chuyển phôi đầu tiên được trình bày

Trang 4

trong Bảng 3

Bảng 1 Đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu

(n=608)

IVF (n= 311)

Giá trị

P

Tuổi vợ (năm) 27±2,2 27,2±2,00 0,12

BMI (kg/m2) 21,2±2,44 20,9±2,62 0,13

AFC 26,5±8,85 27,5±5,31 0,06

Thời gian vô sinh (năm) 2,9±1,99 2,9±1,51 0,69

Nguyên nhân vô sinh, n (%) 0,20

Nguyên phát 509 (83,7) 249 (80,1)

Thứ phát 99 (16,3) 62 (19,9)

Vô sinh nam 207 (34,0) 115 (37,0)

Gây phóng noãn thất bại 285 (46,9) 123 (39,5)

Bệnh lý ống dẫn trứng 50 (8,2) 34 (10,9)

Chưa rõ nguyên nhân 43 (7,1) 25 (8,0)

Khác 23 (3,8) 14 (4,5)

1 529 (87,0) 268 (86,2)

(n=608)

IVF (n= 311)

Giá trị

P

2 79 (13,0) 43 (13,8)

Bảng 2 Kết quả noãn và phôi

Đặc điểm IVM

(n=608)

IVF (n=311)

Giá trị

P

Thời gian KTBT (ngày) 3 9,4±8,12 <0,001 Tổng liệu FSH sử dụng

(IU) 300 1995,3±754,88 <0,001

Số trứng chọc hút 15,6±9,13 15,4±5,89 0,70

Số trứng trưởng thành 8,9±5,27 11,9±4,77 <0,001

Số trứng thụ tinh 6,3±4,04 9,6±4,12 <0,001

Số phôi 5,5±3,37 7,5±3,86 <0,001 Phôi tốt 1±1,28 1,8±1,87 <0,001 Phôi trung bình 1,9±1,76 3,7±2,72 <0,001 Phôi xấu 2,6±2,49 2±2,17 0,001

Số phôi trữ lạnh 1,8±2,18 4,3 (3,35) <0,001 QKBT, n (%) 0 (0) 11 (3,5) <0,001

Bảng 3 Kết quả điều trị TTON, kết quả thai và trẻ sơ sinh sau lần chuyển phôi đầu tiên

Đặc điểm IVM (n = 608) IVF (n = 311) OR OR* Giá trị P

Phôi tươi 511 (84,0) 209 (67,2)

TPTB - Phôi trữ 89 (14,6) 101 (32,5)

Tỷ lệ sinh sống, n (%) 222 (36,5) 127 (40,8) 0,83 [0,6-1,10] 0,74 [0,42-1,30] 0,23

Sinh non, n (%)

Cân nặng trẻ lúc sanh, gram

BÀN LUẬN

Đây là nghiên cứu đầu tiên với cỡ mẫu lớn,

so sánh trực tiếp giữa IVM và IVF về hiệu quả và

tính an toàn của kỹ thuật ở bệnh nhân có AFC

nhiều Kết quả nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ trẻ sinh sống sau chu kỳ chuyển phôi đầu tiên ở kỹ thuật IVM và IVF không khác biệt có ý nghĩa thống kê (36,5% so với 40,8%)

Trang 5

Kết quả nghiên cứu

Kết quả thai trong nghiên cứu của chúng tôi

cũng tương tự các nghiên cứu khác so sánh IVM

và IVF nhưng có cỡ mẫu nhỏ hơn Nghiên cứu

của Shalom-Paz và cs cho thấy IVM có tỷ lệ thai

tương đương IVF (44% so với 38-45%)(12) Nghiên

cứu của Walls và cs cũng cho thấy tỷ lệ trẻ sinh

sống cộng dồn sau chuyển phôi nang của IVM là

41% so với 55% của IVF(18) Tỷ lệ trưởng thành

noãn, tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ làm tổ của nhóm

điều trị IVM trong nghiên cứu của chúng tôi

cũng tương đương với các kết quả từ các nghiên

cứu trước(8,18) Đặc biệt, tỷ lệ thai lâm sàng và tỷ

lệ làm tổ ở nhóm bệnh nhân điều trị IVM trong

nghiên cứu của chúng tôi là cao hơn so với các

nghiên cứu trước đây (49% so với 35-40% và 29%

so với 15-20%)(1) Điều này có thể do chúng tôi đã

thực hiện kỹ thuật IVM được trên 12 năm nên có

nhiều kinh nghiệm với kỹ thuật này Ngoài ra,

bệnh nhân IVM ở các nghiên cứu trước đây

được chuyển đơn phôi nang (chuyển phôi tươi

hoặc phôi trữ), trong khi nghiên cứu của chúng

tôi thực hiện chuyển trung bình 2 phôi ở giai

đoạn phân chia Thực tế, khó khăn lớn nhất khi

so sánh kết quả IVM giữa các nghiên cứu khác

nhau là sự không thống nhất trong phác đồ thực

hiện IVM Các kết quả về phôi học của IVM đều

thấp hơn IVF, chủ yếu do kỹ thuật IVM chọc hút

lấy noãn chưa trưởng thành, qua công đoạn

trưởng thành noãn trong ống nghiệm, số noãn

trưởng thành có sẵn để tạo phôi thấp hơn IVF

Tuy vậy, không có sự khác biệt về tỷ lệ trẻ sinh

sống ở nhóm IVM so với IVF sau lần chuyển

phôi đầu tiên (36,5% so với 40,8%, p = 0,274)

Chúng tôi cũng tiến hành hiệu chỉnh với các yếu

tố có thể ảnh hưởng đến kết quả điều trị bao

gồm số phôi chuyển, giai đoạn phôi chuyển và

kiểu chuyển phôi, kết quả vẫn ghi nhận tỷ lệ trẻ

sinh sống của IVM không khác biệt có ý nghĩa

thống kê so với IVF Thật ra, các cặp vợ chồng

khi điều trị hiếm muộn, kết cục quan trọng đối

với họ là trẻ sinh sống, do đó, có thể nói, kỹ

thuật IVM có hiệu quả lâm sàng tương đương

IVF Về kết cục sản khoa và sơ sinh, không có sự

khác biệt về tỷ lệ sinh non giữa hai nhóm; tuy nhiên, tỷ lệ này là khá cao Tỷ lệ sinh non được ghi nhận cao hơn ở các thai kỳ sau điều trị hỗ trợ sinh sản so với thai kỳ tự nhiên(5) Một trong các nguyên nhân của vấn đề này là do tỷ lệ song thai

ở các bệnh nhân trong nghiên cứu đến từ việc số lượng phôi chuyển nhiều hơn 2 phôi Việc áp dụng chiến lược chuyển đơn phôi cần được quan tâm hơn Bên cạnh đó, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về cân nặng trẻ sinh ra giữa hai nhóm Nghiên cứu của Roesner và cs cũng cho thấy không có sự khác biệt về cân nặng giữa hai nhóm bệnh nhân điều trị IVM hoặc IVF/ICSI ở thời điểm bé mới ra đời hoặc tới 2 năm sau đó(10) Các kết quả từ nhiều nghiên cứu đến thời điểm hiện tại đều ghi nhận tỷ lệ dị tật bẩm sinh ở trẻ sinh ra từ IVM hay IVF/ICSI là không có sự khác biệt so với trẻ sinh ra từ các thai kỳ tự nhiên(4,6,15) Không có trường hợp quá kích buồng trứng nào được ghi nhận ở nhóm bệnh nhân điều trị IVM so với tỷ lệ 3,5% ở nhóm bệnh nhân IVF Kết quả này thống nhất với tất

cả nghiên cứu từ trước tới nay về IVM Đây là một ưu điểm lớn của IVM nhằm mang lại sự an toàn và tính tiện lợi cho bệnh nhân trong quá trình điều trị Quá kích buồng trứng vẫn còn là một trong những biến chứng nguy hiểm của điều trị IVF mặc dù các chiến lược dự phòng đã được áp dụng QKBT nặng là một gánh nặng lớn cho bệnh nhân cả về thể chất lần tinh thần Do IVM không kết hợp với KTBT nên QKBT không còn là vấn đề lo ngại đối với bệnh nhân khi thực hiện IVM, đây cũng là ưu điểm lớn nhất của IVM so với IVF ở các bệnh nhân có AFC nhiều(9)

Điểm mạnh và hạn chế của nghiên cứu

Điểm mạnh của nghiên cứu này là cỡ mẫu lớn, trên gần 1.000 chu kỳ chọc hút IVM và IVF với kết cục chính của nghiên cứu là tỷ lệ trẻ sinh sống, trong khi đa số các nghiên cứu khác, cỡ mẫu nhỏ và kết cục chỉ là thai lâm sàng hay thai diễn tiến Hạn chế của nghiên cứu này là thiết kế hồi cứu Cần tiến hành các nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên để có cái nhìn toàn diện hơn về hai kỹ thuật này trên nhóm bệnh

Trang 6

nhân có AFC nhiều Hiện tại, chúng tôi đang tiến

hành một nghiên cứu thử nghiệm ngẫu nhiên có

nhóm chứng lớn nhằm so sánh hiệu quả và tính

an toàn của hai kỹ thuật này (NCT03405701)(16)

KẾT LUẬN

Kỹ thuật trưởng thành noãn trong ống

nghiệm – IVM là một kỹ thuật an toàn và hiệu

quả so với IVF ở bệnh nhân có số nang thứ cấp

nhiều Cần có các nghiên cứu thử nghiệm lâm

sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng để kiểm

chứng các kết quả này

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Chian RC, Uzelac PS, Nargund G (2013) “In vitro maturation of

human immature oocytes for fertility preservation” Fertil Steril,

99(5):1173-81

2 Delvigne A, Rozenberg S (2002) “Epidemiology and prevention

of ovarian hyperstimulation syndrome (OHSS): a review” Hum

Reprod Update, 8(6): 559-577

3 Ellenbogen A, Shavit T, Shalom-Paz E (2014) “IVM results are

comparable and may have advantages over standard IVF” Facts

Views Vis Obgyn, 6(2):77-80

4 Fadini R, Mignini RM, Guarnieri T et al (2012) “Comparison of

the obstetric and perinatal outcomes of children conceived from

in vitro or in vivo matured oocytes in in vitro maturation

treatments with births from conventional ICSI cycles” Hum

Repro, 27:3601-8

5 Henningsen AK, Romundstad LB, Gissler M et al (2011) “Infant

and maternal health monitoring using a combined Nordic

database on ART and safety” Acta Obstet Gynecol Scand, 90:pp

683-691

6 Ho Ngoc Anh Vu, Pham Duong Toan, Le Hoang Anh, Ho

Manh Tuong, Vuong Ngoc Lan (2018) “Live birth rate after

human chorionic gonadotropin priming in vitro maturation in

women with polycystic ovary syndrome” J Ovarian Re, 11(1):70

7 Jones HWJr, Jones D, Kolm P (1997) “Cryopreservation: a

simplified method of evaluation” Hum Reprod, 12:548–553

8 Junk SM, Yeap D (2012) “Improved implantation and ongoing

pregnancy rates after single-embryo transfer with an optimized

protocol for in vitro oocyte maturation in women with

polycystic ovaries and polycystic ovary syndrome” Fertil Steril,

98:888–892

9 Lindenberg S (2013) “New approach in patients with polycystic

ovaries, lessons for everyone” Fertil Steril, 99(5):1170–1172

10 Roesner S, von-Wolff M, Elsaesser M et al (2017) “Two-year development of children conceived by IVM: a prospective

controlled single-blinded study” Hum Reprod, 32(6):1341-1350

Workshop Group (2004) “Revised 2003 consensus on diagnostic criteria and long-term health risks related to

polycystic ovary syndrome” Fertil Steril, 81:19–25

12 Shalom-Paz E, Holzer H, Son W et al (2012) “PCOS patients can

benefit from in vitro maturation (IVM) of oocytes” Eur J Obstet Gynecol Reprod Biol,165:53-6

13 The Management of Ovarian Hyperstimulation Syndrome (2016) “Green-top Guideline No 5” Available from https://www.rcog.org.uk/globalassets/documents/guidelines/gr een-top-guidelines/gtg_5_ohss.pdf

14 Toner JP, Brzyski RG, Oehninger S et al (1991) “Combined impact of the number of pre-ovulatory oocytes and

cryopreservation on IVF outcome” Hum Reprod, 6:284–289

15 Vuong Ngoc Lan, Dang Quang Vinh, Ho Manh Tuong et al (2018) “IVF transfer of fresh or frozen embryos in women

without polycystic ovaries” N Engl J Med, 378(2):137–47

16 Vuong Ngoc Lan, Ho Ngoc Anh Vu, Ho Manh Tuong et al (2018) “The effectiveness and safety of in vitro maturation of oocytes versus in vitro fertilisation in women with high antral follicle count: study protocol for a randomised controlled trial”

BMJ Open, 8(12):e023413

17 Walls M, Junk S, Ryan J, Hart R (2012) “IVF versus ICSI for the

fertilization of in vitro matured human oocytes” Reprod BioMed Online, 25:603 – 607

18 Walls ML, Hunter T, Ryan JP et al (2015) “In vitro maturation

as an alternative to standard in vitro fertilization for patients diagnosed with polycystic ovaries: a comparative analysis of

fresh, frozen and cumulative cycle outcomes” Hum Repro,

30(1):88–96

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 08/12/2018 Ngày bài báo được đăng: 10/03/2019

Ngày đăng: 15/01/2020, 21:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm