1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm điều trị và tuân thủ điều trị cơn hen phế quản cấp ở trẻ em tại bệnh viện quận Bình Tân

7 63 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 313,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khảo sát đặc điểm về lâm sàng và sự tuân thủ phác đồ điều trị cơn hen phế quản (HPQ) cấp ở trẻ em nhập viện tại bệnh viện quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 6/2017 đến tháng 5/2018.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU TRỊ VÀ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ CƠN HEN PHẾ QUẢN CẤP Ở

TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN QUẬN BÌNH TÂN

Đỗ Hữu Phước* Tăng Chí Thượng** Phạm Văn Quang**

TÓM TẮT

Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm về lâm sàng và sự tuân thủ phác đồ điều trị cơn hen phế quản (HPQ) cấp ở trẻ

em nhập viện tại bệnh viện quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 6/2017 đến tháng 5/2018

Đối tượng: Tất cả bệnh nhân từ 01 tháng đến 15 tuổi nhập viện vì cơn HPQ cấp tại bệnh viện quận Bình

Tân, TP Hồ Chí Minh từ tháng 6/2017 đến tháng 5/2018

Phương pháp nghiên cứu: Cắt ngang

Kết quả: Có 256 bệnh nhân có cơn HPQ cấp nhập bệnh viện quận Bình Tân được đưa vào nghiên cứu Tuổi

trung bình 4,6 3,3 tuổi, tuổi chiếm tỉ lệ nhiều nhất từ 2 - 5 tuổi (42,2%) Tỉ lệ nam/nữ: 1,6/1 Thừa cân béo phì

chiếm tỉ lệ 19,5% Viêm hô hấp trên (79,3%) và thay đổi thời tiết (52,3%) là hai yếu tố khởi phát cơn hen gặp nhiều nhất Tỉ lệ cơn hen nhẹ chiếm 5,9%, cơn hen trung bình 87,5%, cơn hen nặng 6,6% Số liều trung bình Salbutamol KD để cắt cơn hen là 5,2 ± 2,5 liều Thời gian sử dụng Salbutamol KD trung bình là 3,7 ± 1,7 ngày Ipratropium KD phối hợp với Salbutamol KD với thời gian sử dụng trung bình là 1,9 ± 1 ngày Sử dụng corticoids toàn thân với thời gian sử dụng trung bình là 4,1 ± 1,5 ngày Có 73,8% trường hợp sử dụng kháng sinh, nhưng trong đó chỉ có 34,9% có bằng chứng bội nhiễm phổi Về tuân thủ điều trị trong 24 giờ đầu, có 91% trường hợp tuân thủ điều trị Salbutamol KD, 41,2% trường hợp tuân thủ điều trị Ipratropium KD, 78,1% trường hợp tuân thủ điều trị Corticoids đường toàn thân và 34,9% trường hợp tuân thủ điều trị kháng sinh Đáp ứng điều trị tại thời điểm 4 giờ chiếm tỉ lệ 60,9% Trong đó, tỉ lệ đáp ứng điều trị cơn hen nhẹ là 100%,

trung bình 55,8%, nặng 94% Thời gian trung bình cắt cơn hoàn toàn đối với cơn hen nhẹ là 1 ± 0,9 giờ, cơn hen trung bình 5,3 ± 0,3 giờ, cơn hen nặng 13,9 ± 2,5 giờ Tỉ lệ xuất viện là 100%, không có trường hợp nào cần phải

chuyển viện Các yếu tố ảnh hưởng đến nhóm hen đáp ứng không hoàn toàn: thừa cân béo phì (p < 0,01), không tuân thủ phác đồ điều trị đối với Salbutamol KD, Ipratropium KD, Corticoids toàn thân (p < 0,01)

Kết luận: Cơn HPQ cấp ở trẻ em có thể điều trị tốt tại bệnh viện tuyến huyện nếu tuân thủ tốt phác đồ điều

trị chuẩn cắt cơn HPQ cấp

Từ khóa: Cơn hen phế quản cấp

ABSTRACT

TREATMENT CHARACTERISTICS AND TREATMENT ADHERENCE OF ACUTE ASTHMA

EXACERBATIONS IN CHILDREN AT BINH TAN DISTRICT HOSPITAL

Do Huu Phuoc, Tang Chi Thuong, Pham van Quang

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 3- 2019: 292-298

Objectives: Identify the rates of the epidermilogy, clinical, paraclinical, treatment characteristics, treatment

outcomes and treatment adherence of doctors of acute asthma exacerbations in children at Binh Tan district Hospital in Ho Chi Minh City from June 2017 to May 2018

Methods: Cross-sectional study

Results: From June 2017 to May 2018, there were 256 cases admitted to hospital with acute asthma

*Bệnh viện Quận Bình Tân, TP Hồ Chí Minh **Bộ môn Nhi, Trường ĐH Y Khoa Phạm Ngọc Thạch

Trang 2

exacerbation in Binh Tan district Hospital The average age was 4.6 3.3 years Male/female ratio: 1.6/1 The prevalence of overweight and obesity were 19.5% Upper respiratory infections (79.3%) and weather changes (52.3%) were the most common trigger for asthma flare-ups Categorizing the severity of asthma exacerbations: mild (5.9%), moderate (87.5%), servere (6.6%) The mean numbers of doses of inhaled salbutamol to cut asthma attack was 5.2 ± 2.5 doses, mild exacerbation was 3.3 ± 1.2 doses , moderate exacerbation was 5.1 ± 2.2 doses, severe exacerbation was 8.6 ± 3.2 doses The average duration of nebulized salbutamol usage was 3.7 ± 1.7 days There were 39.8% of cases using nebulized ipratropium and its combination with nebulized salbutamol with average use time of 1.9 ± 1 days The rate of inhaled ipratropium in mild exacerbation was 13.3%, moderate exacerbation was 37% average, severe exacerbation was 100% The mean numbers of doses of inhaled ipratropium for mild exacerbations was 1.5 ± 0.7 doses, moderate exacerbation was 3.8 ± 1.4 doses, severe exacerbation was 7.6 ± 2.2 doses There were 91% of cases using systemic corticoids with an average duration of 4.1 ± 1.5 days The rate of using corticoids for mild exacerbations was 33.3%, moderate exacerbation was 94.2% and severe exacerbation was 100% There were 73.8% of cases using antibiotics, but only 34.9% had evidence of pulmonary superinfection Regarding treatment adherence in the first 24 hours admission, 91% of cases of adherence to inhaled salbutamol KD, 41.2% of cases of adherence to inhaled ipratropium, 78.1% of cases of adherence to system corticoids and 34.9% of cases of adherence to antibiotic treatment At the first 4 hours of admission, treatment response rate was 60.9% The treatment response rate for mild exacerbation was 100%, moderate exacerbation was 55.8%, severe exacerbation was 94% The average duration of complete withdrawal for mild exacerbation was 1 ± 0.9 hours, moderate exacerbation was 5.3 ± 0.3 hours, severe exacerbation was 13.9

± 2.5 hours The discharge rate was 100%, there was no case of need for hospital transfer Factors that affect the inadequate treatment response to acute asthma exacerbations were: overweight and obesity, non-adherence with treatment regimens for inhaled salbutamol, inhaled ipratropium and systemic corticoids

Conclusion: Acute asthma exacerbation in children can be well treated at the district hospital, if there was

compliance with the standard treatment protocol

Keywords: acute asthma attacks

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hen phế quản (HPQ) là bệnh phổi mạn tính,

cơn HPQ cấp là một cấp cứu nội khoa thường

gặp Tỷ lệ mắc bệnh HPQ ngày càng gia tăng

Cơn HPQ cấp có thể gây tắc nghẽn một phần

hay toàn bộ đường dẫn khí đưa đến khó thở, có

thể gây tử vong do không được nhận biết dấu

hiệu nặng, không điều trị kịp thời hoặc điều trị

không thích hợp

Mục tiêu

Khảo sát đặc điểm điều trị, kết quả điều trị

và sự tuân thủ điều trị cơn HPQ cấp ở trẻ em

nhập viện tại bệnh viện quận Bình Tân, TP Hồ

Chí Minh từ tháng 6/2017 đến tháng 5/2018

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Cắt ngang

Dân số nghiên cứu

Tất cả bệnh nhân từ 01 tháng đến 15 tuổi nhập viện vì cơn HPQ cấp tại bệnh viện quận Bình Tân, TP Hồ Chí Minh từ tháng 6/2017 đến

tháng 5/2018

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Các bệnh nhân từ 01 tháng đến 15 tuổi nhập viện vì cơn HPQ cấp thỏa 5 tiêu chuẩn chẩn đoán HPQ cấp ở trẻ em của Bộ Y Tế năm 2016(4): Khò khè ± ho tái đi tái lại

Hội chứng tắc nghẽn đường đường hô hấp dưới: có ran rít, ran ngáy

Có đáp ứng thuốc giãn phế quản

Có tiền sử bản thân hay gia đình dị ứng ± có yếu tố khởi phát

Đã loại trừ các nguyên nhân gây khò khè khác

Trang 3

Tiêu chuẩn loại trừ

Thân nhân bệnh nhi không đồng ý tham gia

nghiên cứu

Trẻ có bệnh lý: loạn sản phế quản phổi, bệnh

tim bẩm sinh, dị tật bẩm sinh đường hô hấp,

bệnh lý thần kinh cơ, bại não

Định nghĩa các biến số

Phân độ nặng cơn HPQ

Bảng 1 Bảng phân độ cơn HPQ theo phác đồ bệnh

viện Nhi đồng 1 (3) :

Dấu hiệu Cơn HPQ

nhẹ

Cơn HPQ trung bình

Cơn HPQ nặng

gắng sức,

nằm được

Khó thở, thích ngồi hơn nằm

Khó thở liên tục, phải nằm đầu cao

câu

Thở

nhanh, rút

lõm ngực

Thở nhanh,

không rút lõm

ngực

Thờ nhanh, rút lõm ngực

Thở nhanh, rút lõm ngực, co kéo cơ ức đòn chũm SpO 2 SpO 2 ≥ 95% SpO 2: 91 - 95% SpO 2 < 91%

(Chỉ cần hiện diện ≥ 2 thông số trên đủ để phân độ nặng

tương ứng cơn HPQ cấp)

Thừa cân béo phì: khi BMI ≥ bách phân vị

thứ 85 (85th percentile) so với tuổi, giới BMI =

CN(kg)/CC(m)(2,3)

Đáp ứng tốt: sau khi điều trị cơn HPQ cấp

lâm sàng cải thiện và không còn đủ tiêu chuẩn

chẩn đoán lúc nhập viện của cơn HPQ cấp và

được duy trì 60 phút sau bước điều trị gần nhất(6)

Đáp ứng không hoàn toàn hoặc không đáp

ứng: sau khi dùng thuốc trên 4 giờ, cơn HPQ cấp

không cải thiện hoặc nặng hơn(6)

Tuân thủ điều trị theo phác đồ trong 24 giờ

đầu: là xử trí đúng theo phác đồ lúc nhập viện

theo độ nặng cơn hen về thuốc (loại, liều lượng

đường dùng, thời gian dùng, phối hợp thuốc),

theo dõi đánh giá lại đáp ứng điều trị sau từng

thời điểm dùng thuốc, thời điểm sau 1 giờ điều

trị Tiếp tục xử trí đúng theo phác đồ theo kết

quả đáp ứng điều trị và đánh giá lại đáp ứng

điều trị và xử trí đúng theo phác đồ ở các thời

điểm khác nhau trong 24 giờ đầu(3)

KẾT QUẢ

Từ tháng 6/2017 đến tháng 5/2018 chúng tôi

có 256 bệnh nhân hội đủ tiêu chuẩn được đưa

vào lô nghiên cứu

Đặc điểm dịch tễ học

Đa số bệnh nhân từ 2 - 5 tuổi (42,2%) Bệnh

nhân nam chiếm tỉ lệ cao (62,1%), tỉ lệ nam/nữ: 1,6/1 Thừa cân béo phì chiếm tỉ lệ 19,5% Có 44,1% trường hợp có tiền căn được chẩn đoán hen, 25,8% trường hợp có tiền căn viêm mũi dị

ứng Viêm hô hấp trên và thay đổi thời tiết là hai

yếu tố khởi phát cơn hen gặp nhiều nhất (lần lượt 79,3% và 52,3%)

Đặc điểm lâm sàng

Hầu hết bệnh nhân đều có ho, khò khè (98%

và 98,8%) 100% bệnh nhân có nhịp thở nhanh và

đa số có mạch nhanh (90,6%) theo tuổi Thở co lõm ngực chiếm tỉ lệ 34,8% Đa số bệnh nhân khám có ran ngáy (96,5%), giảm âm phế bào chiếm 3,6% số trường hợp

Bảng 2 Phân bố triệu chứng lâm sàng (n = 256)

Sốt

Ho Khò khè Kích thích Mạch nhanh Thở nhanh Thở co lõm ngực SpO 2 /khí trời:

> 95%

91 – 95%

< 91%

Ran ngáy Ran rít Ran ẩm Ran nổ Giảm âm phế bào

80

251

253

4

232

256

89

16

223

17

247

56

42

13

9

31,3

98 98,8 1,6 90,6

100 34,8 6,3 87,1 6,6 96,5 21,9 16,4 5,1 3,6

Đặc điểm cận lâm sàng

Tăng bạch cầu máu với bạch cầu đa nhân (BCĐN) chiếm ưu thế theo lứa tuổi chiếm tỉ lệ 19,5% Có 2,3% trường hợp có CRP tăng ≥ 20mg/l Tất cả trường hợp xét nghiệm khí máu động mạch không có toan hô hấp Tổn thương

thường gặp nhất trên X-quang phổi là ứ khí

phế nang (88,3%), thâm nhiễm phổi (21,9%)

Trang 4

Chẩn đoán

Cơn hen nhẹ chiếm tỉ lệ 5,9%, cơn hen trung

bình 87,5%, cơn hen nặng 6,6% Có 25,8% trường

hợp hen bội nhiễm phổi đủ tiêu chuẩn chẩn

đoán, tuy nhiên trên lâm sàng hen bội nhiễm

phổi được chẩn đoán là 73,8% trường hợp

Đặc điểm điều trị

Salbutamol KD

Có 100% bệnh nhân sử dụng Salbutamol KD

trong quá trình nằm viện Số liều trung bình sử

dụng Salbutamol KD cần để cắt cơn hen là 5,2 ±

2,5 liều Trong đó, số liều sử dụng trung bình để

cắt cơn hen trong cơn hen nhẹ là 3,3 ± 1,2 liều,

cơn hen trung bình 5 ± 2,2 liều, cơn hen nặng 8,6

± 2,2 liều Thời gian sử dụng Salbutamol KD

trung bình là 3,7 ± 1,7 ngày

Ipratropium KD

Có 39,8% trường hợp sử dụng Ipratropium

KD phối hợp với Salbutamol KD Trong đó, tỉ lệ

sử dụng Ipratropium KD trong cơn hen nhẹ là

13,3%, trung bình 37%, nặng 100% Thời gian

trung bình sử dụng Ipratropium KD là 1,9 ± 1

ngày Số liều trung bình sử dụng Ipratropium

KD cần để cắt cơn hen là 4,5 ± 2,1 liều

Corticoids đường toàn thân

Có 91% trường hợp sử dụng corticoids

đường toàn thân (uống hoặc tiêm mạch), tỉ lệ sử

dụng corticoids trong cơn hen nhẹ là 33,3%,

trung bình 94,2%, nặng 100% Thời gian sử dụng

corticoids trung bình là 4,1±1,5 ngày Đa số bệnh

nhân được sử dụng corticoids bằng đường uống

đơn thuần (76,4%)

Kháng sinh

Có 73,8% trường hợp sử dụng kháng sinh,

tất cả các trường hợp cơn hen nặng đều có sử

dụng kháng sinh

Tuân thủ điều trị trong 24 giờ đầu

Có 9% trường hợp không tuân thủ điều trị

Salbutamol KD, 58,8% trường hợp không tuân

thủ điều trị Ipratropium KD, 21,9% trường hợp

không tuân thủ điều trị Corticoids toàn thân

trong 24 giờ đầu Có 65,1% trường hợp không tuân thủ điều trị kháng sinh

Kết quả điều trị

Tất cả bệnh nhân đều cắt cơn hen xuất viện, không có trường hợp nào diễn tiến nặng lên phải chuyển tuyến trên hoặc tử vong Tại thời điểm 4

giờ điều trị, có 60,9% trường hợp đáp ứng tốt,

39,1% trường hợp đáp ứng không hoàn toàn Trong đó, cơn hen nhẹ đáp ứng tốt 100%, cơn hen trung bình đáp ứng tốt 55,8%, cơn hen nặng phần lớn đáp ứng tốt 94% Thời gian trung bình cắt cơn hoàn toàn cơn hen nhẹ 1 ± 0,9 giờ, cơn hen trung bình 5,3 ± 0,3 giờ, cơn hen nặng 13,9 ± 2,5 giờ Thời gian nằm viện trung bình là 4,7 ± 2,2 ngày, thời gian nằm viện trung bình cơn hen nhẹ là 3,5 ± 1,5 ngày, cơn hen trung bình là 4,6 ± 2,1 ngày, cơn hen nặng là 6,8 ± 1 ngày

Các yếu tố liên quan đến kết quả điều trị

Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa thừa cân béo phì (p=0,01) và sự tuân thủ điều trị Salbutamol KD (p<0,001), Ipratropium KD (p<0,001) và Corticoids toàn thân (p<0,001) liên quan đến bệnh trên 2 nhóm hen đáp ứng tốt và hen đáp ứng không hoàn toàn

Bảng 3 Các yếu tố liên quan đến kết quả điều trị

Yếu tố

Đáp ứng tốt

Đáp ứng không hoàn toàn KTC 95% P; OR; n=156(%) n=100 (%)

Thừa cân béo phì:

Có Không Tuân thủ Salbutamol KD:

Có Không Tuân thủ Ipratropium KD:

Có Không Tuân thủ Corticoids

Có Không

19 (38)

137 (66,5)

150 (64,4)

6 (26,1)

32 (74,4)

6 (9,8)

130 (71,4)

3 (5,9)

31 (62)

69 (33,5)

83 (35,6)

17 (73,9)

11 (25,6)

55 (90,2)

52 (28,6)

48 (94,1)

<0,01; 3,24 1,708-6,145*

<0,001; 5,12; 1,94-13,8*

<0,001; 26,66 9-78*

<0,001; 40; 11,9-134*

*phép kiểm χ 2

Trang 5

BÀN LUẬN

Đặc điểm dịch tễ học

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ bé trai

mắc bệnh nhiều hơn bé gái, tỉ lệ nam/nữ: 1,6/1

Tuổi trung bình là 4,6 ± 3,3 tuổi Thừa cân béo

phì chiếm tỉ lệ 19,5%, nhiều nghiên cứu cho thấy

thừa cân béo phì đi kèm với nguy cơ hen ở trẻ

em, được lý giải theo cơ chế béo phì làm tăng

trọng lượng lên thành ngực dẫn đến dung tích

thở thấp và/hay phóng thích các yếu tố trung

gian tiền viêm bởi các adipocyte Viêm hô hấp

trên (chiếm 79,3%) và thay đổi thời tiết (chiếm

52,3%) là hai yếu tố khởi phát cơn hen thường

gặp nhất Kết quả này cũng phù hợp với y văn là

1,5 - 3,3(1)

Đặc điểm lâm sàng

Nghiên cứu của chúng tôi ho và khò khè

chiếm tỉ lệ rất cao (98% và 98,8%), tương tự kết

quả của các tác giả(7) Có 90,6% bệnh nhân biểu

hiện mạch nhanh so với tuổi,. đây cũng là một

trong những yếu tố quan trọng giúp đánh giá độ

nặng cơn HPQ cấp Thở nhanh so với lứa tuổi

chiếm tỉ lệ 100%, thở co lõm ngực chiếm tỉ lệ

34,8%, ran ngáy thường gặp nhất (96,5%), ran rít

(21,9%), ran ẩm (16,4%) và ran nổ (5,1%), dấu

hiệu giảm âm phế bào chiếm tỉ lệ rất thấp (3,6%),

kết quả này phù hợp kết quả nghiên cứu của các

tác giả(8)

Đặc điểm cận lâm sàng

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 19,5%

trường hợp có tăng bạch cầu với BCĐN chiếm

ưu thế theo tuổi, có 2% trường hợp có cơn hen

nặng được chỉ định xét nghiệm khí máu động

mạch sau khi thở oxy, tất cả trường hợp có kết

quả bình thường Tổn thương gặp nhiều nhất

trên X-quang phổi là ứ khí phế nang (88,3%),

tiếp theo thâm nhiễm phổi (21,9%), kết quả của

chúng tôi gần giống kết quả nghiên cứu của các

tác giả với tỉ lệ cao nhất là ứ khí phế nang, điều

này cũng được mô tả trong y văn

Chẩn đoán

Phân loại độ nặng cơn hen: 5,9% cơn hen

nhẹ, 87,5% cơn trung bình và 6,6% cơn hen nặng,

không có trường hợp hen cơn nguy kịch, tỉ lệ này gần giống với kết quả nghiên cứu của tác giả trong nước Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả Bạch Văn Cam có tỉ lệ cơn hen nặng và nguy kịch rất cao so với cơn hen trung bình, lí do vì nghiên cứu này được thực hiện tại khoa Cấp cứu

và ICU(2) Trong 73,8% trường hợp được chẩn đoán trên lâm sàng hen bội nhiễm phổi, tuy nhiên trong số đó chỉ có 25,8% là thật sự có đủ tiêu chuẩn chẩn đoán hen bội nhiễm phổi trên

lâm sàng và cận lâm sàng

Đặc điểm điều trị

Salbutamol khí dung là thuốc giãn phế quản được chỉ định 100% các trường hợp, số liều trung bình Salbutamol KD dùng để cắt cơn hen

có là 5,2 ± 2,5 liều Thời gian sử dụng khí dung Salbutamol trung bình trong một đợt điều trị là 3,7 ± 1,7 ngày Theo y văn, GINA và nghiều nghiên cứu trên thế giới đều thống nhất SABA là phương pháp hiệu quả, ít tác dụng phụ, được khuyến cáo là lựa chọn đầu tay trong việc cắt cơn hen và ngay cả phòng ngừa khó thở khi gắng sức(6)

Trong nghiên cứu của chúng tôi, 39,8% trường hợp sử dụng Ipratropium khí dung phối hợp với Salbutamol KD: cơn hen nhẹ chiếm 0,8%, cơn hen trung bình 32,4%, cơn hen nặng 6,6% Số liều trung bình sử dụng Ipratropium

KD cần để cắt cơn hen là 4,5 ± 2,1 liều Thời gian trung bình sử dụng Ipratropium là 1,9 ± 1 ngày Đối với bệnh nhân có cơn hen nặng, việc phối hợp Ipratropium và SABA khí dung giúp giảm tỉ

lệ nhập viện, giảm thời gian nằm lại phòng cấp cứu và giảm thời gian sử dụng Salbutamol khí dung(6) Không có trường hợp nào diễn tiến nặng hơn phải dùng Magnesium sulfate, Theophylline hay Salbutamol TTM

Trong 91% bệnh nhân sử dụng Corticoids đường toàn thân, cơn hen nhẹ chiếm 2%, cơn hen trung bình 82,4%, cơn hen nặng 6,6% Có 76,4% bệnh nhân được sử dụng pednisolone

uống đơn thuần với liều 1 - 2 mg/kg/ngày chia 2

lần, tất cả các trường hợp cơn hen nặng đều được sử dụng hydrocortisone tiêm mạch với liều

Trang 6

5mg/kg mỗi 6 giờ và sau đó uống Thời gian

trung bình sử dụng Corticoids toàn thân chung

là 4,1 ± 1,5 ngày Kết quả này phù hợp với các

khuyến cáo trên thế giới và phác đồ bệnh viện

Nhi đồng 1(3) Tác giả Rodrigues RG nghiên cứu

cho thấy điều trị cơn HPQ cấp với đợt ngắn hạn

(3 - 10 ngày) corticoids làm giảm tỉ lệ tái phát

trong vòng 7 - 10 ngày, giảm tỉ lệ nhập viện và

giảm nhu cầu sử dụng đồng vận β2 khí dung

Corticoids làm cải thiện triệu chứng lâm sàng,

tác dụng thấy rõ sau khi dùng 4 - 6 giờ, nên

dùng sớm trong giờ đầu nhập viện trong cơn

hen trung bình và nặng hoặc không đáp ứng sau

1 lần phun khí dung thuốc giãn phế quản đóng

vai trò rất quan trọng trong điều trị cơn hen cấp,

nó có hiệu quả cải thiện chức năng phổi và chỉ số

lâm sàng và cũng được đề cập trong y văn(11)

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 73,8%

trường hợp sử dụng kháng sinh Tuy nhiên

trong số đó chỉ có 25,8% trường hợp là thật sự có

đủ tiêu chuẩn chẩn đoán hen bội nhiễm phổi

trên lâm sàng và cận lâm sàng Như vậy việc sử

dụng kháng sinh này là không hợp lý trong khi

không có bằng chứng gợi ý nhiễm trùng trên

lâm sàng và cận lâm sàng

Tuân thủ điều trị trong 24 giờ đầu theo phác

đồ (3)

Với 100% bệnh nhân sử dụng KD

Salbutamol, có 9% trường hợp không tuân thủ

điều trị trong 24 giờ đầu Bệnh nhân không được

đánh giá lại sau mỗi lần phun KD salbutamol và

tại thời điểm 1 giờ đầu sau nhập viện hoặc sau

đó, vì vậy việc không được sử dụng hay sử

dụng không đúng thời điểm khí dung

Ipratropium phối hợp và corticoids toàn thân

Trong 39,8% bệnh nhân sử dụng KD

Ipratropium bromide phối hợp với Salbutamol,

chỉ có 41,2% tuân thủ điều trị trong 24 giờ đầu

Trong nghiên cứu của chúng tôi, 100% bệnh

nhân có cơn hen nặng được sử dụng phối hợp

KD Ipratopium với Salbutamol đúng theo phác

đồ, trong khi cơn hen trung bình nếu trường hợp

đáp ứng không hoàn toàn hoặc không đáp ứng

với khí dung Salbutamol thì phần lớn khí dung

Ipratropium được phối hợp chậm trễ, không đúng thời điểm làm ảnh hưởng đến kết quả điều trị cắt cơn

Có 78,1% bệnh nhân sử dụng Corticoids toàn thân, trong đó có 21,9% trường hợp không tuân thủ điều trị trong 24 giờ đầu Trong đó tất cả bệnh nhân có cơn hen nặng đều tuân thủ dùng hydrocortisone tiêm mạch sớm trong 1 giờ đầu Không tuân thủ điều trị tập trung ở cơn hen trung bình, corticoids được sử dụng chậm sau 1 giờ đầu

Có 73,8% bệnh nhân sử dụng kháng sinh, trong đó chỉ có 26% trường hợp có bằng chứng nhiễm trùng trên lâm sàng và cận lâm sàng Như vậy có tới 65,1% trường hợp sử dụng kháng sinh không thích hợp

Kết quả điều trị

Tất cả đều được cắt cơn hen xuất viện, không

có trường hợp nào diễn tiến nặng phải chuyển tuyến trên Thời gian trung bình cắt cơn hen hoàn toàn cơn nhẹ là 1 ± 0,87 giờ, cơn hen trung bình là 5,29 ± 0,31 giờ, cơn nặng là 13,94 ± 2,52 giờ Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của nhiều tác giả, nhưng thời gian cắt cơn hen trung bình dài hơn nguyên cứu của tác giả Davis

SR, Burke G(5) Sự khác biệt này có thể do bệnh nhân nhập viện muộn; có kèm bội nhiễm phổi hoặc không tuân thủ phác đồ điều trị cắt cơn Thời gian nằm viện trung bình là 4,7 ± 2,2 ngày So với các tác giả trong nước, thời gian nằm viện trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi dài hoặc ngắn hơn tùy nghiên cứu Sự khác biệt này có thể do dân số nghiên cứu, địa điểm, thời gian nghiên cứu khác nhau Tuy nhiên so với các tác giả trên thế giới, nghiên cứu chúng tôi có thời gian nằm viện dài hơn, điều này có thể lý do sự phát triển của hệ thống y tế các nước phát triền, đồng thời bệnh nhân được xuất viện sẽ tiếp tục phun khí dung hay sử dụng MDI tại nhà

Các yếu tố liên quan trên nhóm hen đáp ứng không hoàn toàn

Trong nghiên cứu của chúng tôi, trẻ thừa cân

Trang 7

béo phì chiếm tỉ lệ 19,5%, trong đó có 12,1%

trường hợp đáp ứng không hoàn toàn Có sự

khác biệt có ý nghĩa thống kê trên thừa cân béo

phì trên nhóm hen đáp ứng không hoàn toàn

(p=0,01) Các tác giả nghiên cứu cho thấy béo phì

làm tăng nguy cơ cơn HPQ cấp tái nhập viện

trong vòng 30 ngày, đáp ứng kém với điều trị

cần phải xử trí tích cực hơn và kéo có thời gian

nằm viện dài hơn(9)

Sau 4 giờ nhập viện, chúng tôi đã chia ra 2

nhóm: nhóm hen đáp ứng tốt và nhóm hen

đáp ứng không hoàn toàn Khi phân tích các

yếu tố ảnh hưởng trên sự kém đáp ứng với

điều trị của nhóm hen đáp ứng không hoàn

toàn, chúng tôi nhận thấy: có sự khác biệt

mang ý nghĩa thống kê về việc không tuân thủ

phác đồ Salbutamol KD với nhóm hen đáp

ứng không hoàn toàn (p<0,001)

Tương tự, nghiên cứu cũng cho thấy có sự

khác biệt mang ý nghĩa thống kê về việc không

tuân thủ phác đồ Ipratropium KD với nhóm hen

đáp ứng không hoàn toàn (p<0,001) Trong

nhóm tuân thủ có 25% trường hợp đáp ứng

không hoàn toàn, trong nhóm hen không tuân

thủ có 90,2% trường hợp đáp ứng không hoàn

toàn Kết quả này cũng cho thấy việc tuân thủ

phác đồ Ipratropium KD mang lại kết quả tốt

hơn về đáp ứng điều trị và cắt cơn Trong các

nghiên cứu trên thế giới, các tác giả đều chứng

minh trong cơn hen trung bình ngay sau khi

dùng 3 liều Salbutamol khí dung hoặc MDI

không hiệu quả thì nên sử dụng Ipratropium

bromide Chỉ định sử dụng Ipratropium

bromide sớm trên những bệnh nhân nhập viện

vì cơn hen cấp không chỉ làm giảm tỉ lệ nhập

viện, mà còn cải thiện chức năng phổi(10)

Về chỉ định dùng Corticoids, cũng có sự

khác biệt về không tuân thủ corticoids với nhóm

hen đáp ứng không hoàn toàn (p<0,001) Sử

dụng Corticoids sớm trong giờ đầu nhập viện

trong cơn hen nặng hoặc không đáp ứng sau 1

lần phun khí dung thuốc giãn phế quản đóng

vai trò rất quan trọng trong điều trị cơn hen cấp,

nó có hiệu quả cải thiện chức năng phổi và chỉ số lâm sàng hen đã được đề cập trong y văn và được chứng minh qua nghiên cứu của tác giả Rowe BH(11)

KẾT LUẬN

Cơn HPQ cấp thường gặp trẻ nam hơn trẻ

nữ, tuổi chiếm tỷ lệ cao 2 – 5 tuổi Viêm hô hấp trên và thay đổi thời tiết là hai yếu tố khởi phát cơn thường gặp nhất Điều trị ban đầu chủ yếu gồm khí dung Salbutamol, khí dung Salbutamol phối hợp với Ipratropium và Corticoids toàn thân có tỷ lệ đáp ứng điều trị cao nếu tuân thủ phác đồ điều trị chuẩn Cần có biện pháp quản

lý HPQ chặt chẽ hơn để hạn chế đợt kịch phát cơn HPQ cấp

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Asher M, Cameron G (2006) Epidemiology of asthma In:

Kendig’s Disorders of the respiratory tract in children, 7ed, pp 762-779 Elsevier, Philadelphia, PA

2 Bạch Văn Cam, Nguyễn Minh Tiến (2008) "Đặc điểm dịch tể học, lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị cơn suyễn cấp ở trẻ em"

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí minh, 12(4):pp.177-182

3 Bạch Văn Cam, Trần Anh Tuấn (2013) Điều trị cơn suyễn Phác

đồ điều trị Nhi khoa Nhà xuất bản Y học, TP HCM, tr 729-735

4 Bộ Y tế (2016) Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị hen trẻ em dưới 5 tuổi Ban hành kèm theo Quyết định số 4888/QĐ-BYT ngày 12 tháng 9 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế Hà nội

5 Davis SR, Burke G (2012) "Corticosteroid timing and length of

stay for children with asthma in the Emergency Department" J

Asthma, 49(8):pp 862-867

6 Global Initiative for Asthma (2017) Global Strategy for Asthma Management and Prevention

7 Hijazi Z, Ezeamuzie CI (2002) "Characteristics of asthmatic

children in Kuwait." J Asthma, 39(7):pp 603-609

8 Nguyễn Thị Kim Thoa, Nguyễn Minh Tiến (2001) "Xử trí cơn

suyễn nặng trẻ em" Hội nghị Nhi khoa khu vực phía nam lần thứ 6,

tr.55-60

9 Okubo Y, Michihata N (2017) "Impact of pediatric obesity on

acute asthma exacerbation in Japan" Pediatr Allergy Immunol,

28(8):pp 763-767

10 Rodrigo GJ, Rodrigo C (2000) "First-Line Therapy for Adult Patients with Acute Asthma Receiving a Multiple-Dose Protocol

of Ipratropium Bromide Plus Albuterol in the Emergency

Department" Am J Respir Crit Care Med, 161(6):pp 1862-1868

11 Rowe BH, Spooner C (2001) "Early emergency department treatment of acute asthma with systemic corticosteroids"

Cochrane Database Syst Rev, 1:pp 22-64

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 18/02/2019 Ngày bài báo được đăng: 20/04/2019

Ngày đăng: 15/01/2020, 20:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w