Bài viết trình bày đánh giá ảnh hưởng của KDH đối với CLCS của người mang hàm giả toàn bộ và khảo sát cảm nhận của bệnh nhân đối với KDH đã dùng.
Trang 1SỰ THAY ĐỔI CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG VÀ CẢM NHẬN
CỦA NGƯỜI MANG HÀM GIẢ TOÀN BỘ SAU 3 THÁNG SỬ DỤNG KEO DÁN HÀM
Lê Huỳnh Minh Nguyệt*, Lê Hồ Phương Trang**
TÓM TẮT
Mở đầu: Việc sử dụng keo dán hàm (KDH) giúp cải thiện sự lưu giữ và vững ổn cũng như chức năng nhai
của hàm giả, từ đó có thể cải thiện chất lượng cuộc sống (CLCS) cho bệnh nhân Tuy nhiên, tại Việt Nam chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này
Mục tiêu: Đánh giá ảnh hưởng của KDH đối với CLCS của người mang hàm giả toàn bộ và khảo sát cảm
nhận của bệnh nhân đối với KDH đã dùng
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu thực hiện trên 33 đối tượng mất răng toàn bộ có hai
hàm giả được làm tại các khu điều trị của Khoa RHM, ĐHYD TP HCM, đã và đang sử dụng từ 1-3 năm, chất lượng hàm giả khá hoặc tốt Ở thời điểm bắt đầu, CLCS được đánh giá bằng chỉ số tác động sức khỏe răng miệng cho người mất răng phiên bản tiếng Việt (OHIP-19VN) Đồng thời, mỗi đối tượng sẽ được cung cấp 2 tuýp keo dán hàm cùng với tờ hướng dẫn sử dụng Sau 3 tháng, các đối tượng sẽ được đánh giá lại điểm OHIP-19VN và khảo sát cảm nhận về loại KDH đã dùng thông qua bộ câu hỏi Phân tích dữ liệu bằng phép kiểm Wilcoxon Signed Rank để đánh giá ảnh hưởng của KDH lên CLCS
Kết quả: Sau 3 tháng sử dụng KDH, điểm OHIP-19 nói chung và điểm OHIP cho từng lĩnh vực giảm đáng
kể Trong đó, mức điểm giảm rõ rệt nhất ở các lĩnh vực “giới hạn chức năng”, “đau thực thể”, “thiểu năng thể chất” (p<0,001) Bên cạnh đó, hầu hết các đối tượng hài lòng với các đặc điểm của keo dán hàm như: sự dính của hàm giả (96-100% hài lòng), cải thiện rõ khả năng nhai (82%), thời gian tác dụng trên 6 giờ (86%), dễ làm sạch khỏi nền hàm (64%), niêm mạc (75%), không làm thay đổi vị giác (82%), có vị bình thường (86%) Ngoài ra, 79% đối tượng có ý định tiếp tục sử dụng KDH sau nghiên cứu
Kết luận: KDH mang lại tác động tích cực đối với CLCS liên quan sức khỏe răng miệng của người mang
hàm giả toàn bộ ở Việt Nam
Từ khóa: keo dán hàm, chất lượng cuộc sống liên quan sức khỏe răng miệng, chỉ số tác động sức khỏe răng
miệng cho người mất răng phiên bản tiếng Việt
ABSTRACT
CHANGE OF QUALITY OF LIFE AND SUBJECTIVE ASSESSMENT OF COMPLETE DENTURE
WEARERS AFTER 3 MONTHS OF USING DENTURE ADHESIVE
Le Huynh Minh Nguyet, Le Ho Phuong Trang
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 2 - 2016: 226 - 232
Background: The use of denture adhesive improves retention, stability as well as masticatory function of
complete denture, that may have a positive impact on denture wearer’s quality of life Howerver, there was not any research about this issue in VietNam
Objectives: The aim of this study was to evaluate the influence of using denture adhesive in the quality of
*Học Viên Cao Học Khóa 2013-2015, Khoa Răng Hàm Mặt, Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh
Trang 2life of edentulous patient and the patient’s response about this material
Methods: 33 edentulous subjects wearing well-fitting complete dentures which were made 1-3 years at
Faculty of Odonto-Stomatology, University of Medicine and Pharmacy, Ho Chi Minh City, volunteered to participate in this study At baseline, the quality of life was assessed using Oral Health Impact Profile for Edentulous patient, Vietnamese version (OHIP-19VN) Each subject was provided 2 tubes of denture adhesive and the usage instruction sheet After 3 months, subjects returned and the OHIP-19VN questionnaire was recollected Besides that, subjects also completed the questionnaire evaluating the performance of denture adhesive
Results: After 3 months of using denture adhesive, there were statistically significant improvements in most
of functional domains of the OHIP-19VN questionnaire, especially in “functional limitation”, “physical pain” and “physical disability” Besides that, the majority of subjects in this study were satisfied with denture adhesive properties such as: satisfied retention (96-100%), greatly improved mastication (82%), more than 6 hour durability (86%), no difficulties in removal from denture base (64%) or gum (75%), no alteration of taste (86%), indifferent taste (82%)
Conclusion: Denture adhesive may have a positive impact on the perceived oral health related quality of life
of Vietnamese edentulous patients
Key words: denture adhesive, Oral Health Related Quality of life, Oral Health Impact Profile for Edentulous Patients Vietnamese version (OHIP-19VN)
ĐẶT VẤN ĐỀ
Việc thích nghi với hàm giả toàn bộ là một
khó khăn lớn đối với người mang hàm, nhất là ở
những người cao tuổi do cấu trúc giải phẫu suy
yếu, kiểm soát cơ - thần kinh kém, giảm số lượng
và chất lượng nước bọt theo thời gian Hàm giả
không lưu giữ và vững ổn tốt sẽ gây đau và khó
khăn khi ăn, dẫn đến những vấn đề về thể chất
và tâm lý, làm giảm chất lượng cuộc sống Gần
đây, hàm phủ trên implant được xem như giải
pháp hữu hiệu cho sự lưu giữ và vững ổn của
hàm giả, tuy nhiên, do điều kiện kinh tế và/ hoặc
tình trạng sức khỏe toàn thân của bệnh nhân
không cho phép, phục hình toàn hàm nhựa
thông thường vẫn là lựa chọn chủ yếu Song
song đó, người mang hàm giả toàn bộ phải đối
mặt với nhiều vấn đề trong đó mất lưu giữ là
than phiền thường gặp nhất (85,9%)(2)
Keo dán hàm (KDH) từ lâu đã được biết đến
như một sản phẩm hỗ trợ hữu dụng cho sự lưu
giữ, vững ổn và chức năng của hàm giả Được sử
dụng lần đầu tiên vào cuối thế kỷ XVIII, đến
năm 1935, KDH được đề cập đến trong y văn bởi
Hiệp Hội Nha Khoa Hoa Kỳ; Hội đồng Vật liệu,
Dụng cụ và Thiết bị Nha khoa Sau đó KDH xuất
hiện ngày càng rộng rãi trên thị trường với nhiều nhà sản xuất và số người sử dụng ngày càng tăng qua các năm(4) Hội Phục Hình Răng Hoa
Kỳ cũng đã khẳng định những lợi ích mà KDH mang lại trong “Hướng dẫn chăm sóc và bảo quản hàm giả toàn bộ dựa trên bằng chứng”, năm 2011(3)
Có rất nhiều phương pháp khách quan được
sử dụng để đánh giá hiệu quả của KDH, các kết quả hầu như đều cho thấy tăng sự lưu giữ, vững
ổn(8,9), khả năng nhai(5,12) Tuy nhiên, theo Narhi(10), mối tương quan giữa sự thỏa mãn của bệnh nhân với hàm giả của họ và những tham số
đo lường khách quan là tương đối yếu và thường không có ý nghĩa thống kê Mặt khác, bởi vì sự thỏa mãn của bệnh nhân chính là chìa khóa thành công của điều trị phục hình, biến cố liên quan chất lượng cuộc sống và căn cứ vào bệnh nhân là vô cùng cần thiết Với các công cụ
đo lường CLCS khác nhau như chỉ số đánh giá sức khỏe răng miệng ở người cao tuổi GOHAI(11), chỉ số tác động sức khỏe răng miệng OHIP-14(14), OHIP-19(1), các kết quả đều cho thấy có sự cải thiện về nhiều lĩnh vực của CLCS khi sử dụng KDH ở người mang hàm giả toàn bộ Bên cạnh
đó, các nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi nhằm
Trang 3khảo sát cảm nhận của người tham gia về một số
tính chất của KDH như mức độ lưu giữ, khả
năng nhai, thời gian tác dụng, ảnh hưởng đến vị
giác, sự dễ dàng trong khi bôi và loại bỏ KDH,
cũng ghi nhận được nhiều phản hồi tích cực từ
số đông bệnh nhân(6,7)
Tại Việt Nam, KDH đã xuất hiện trên thị
trường và được các bác sĩ sử dụng trong điều trị
từ nhiều năm nay nhưng chưa có nghiên cứu
nào thực hiện khảo sát hiệu quả của KDH Vậy,
với những nét đặc thù về thể chất, kinh tế, văn
hoá, xã hội của người mang hàm giả ở nước ta
thì KDH có giúp cải thiện chất lượng cuộc sống
cho người mang hàm giả toàn bộ hay không? Từ
câu hỏi đó chúng tôi quyết định thực hiện
nghiên cứu này với các mục tiêu:
1- So sánh chất lượng cuộc sống của người
mang hàm giả toàn bộ trước và sau khi sử dụng
KDH
2- Khảo sát cảm nhận của bệnh nhân sau khi
sử dụng một loại KDH sẵn có trên thị trường
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
Đối tượng của nghiên cứu này là những
bệnh nhân đến tham gia điều trị phục hình
toàn hàm tại 3 khu điều trị I, II, III, trường Đại
Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh, đáp
ứng các tiêu chuẩn:
Tiêu chuẩn chọn mẫu
Các đối tượng mang phục hình tháo lắp toàn
bộ hai hàm được làm tại các khu điều trị, đang
mang và sử dụng để ăn nhai trong ít nhất 1 năm
và không quá 3 năm; hàm giả còn nguyên vẹn
không nứt gãy, sự lưu giữ và vững ổn từ khá
đến tốt theo thang điểm của Kapur, khoảng tự
do, khớp cắn đạt yêu cầu
Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân có một trong các tình trạng sau:
có sang thương trên mô nâng đỡ, rối loạn thần
kinh, bệnh y khoa trầm trọng, tiền sử dị ứng với
KDH hoặc các thành phần có trong KDH, có sử
dụng KDH trong 3 tháng gần đây hoặc bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Thử nghiệm lâm sàng một nhóm trước – sau
Cỡ mẫu: được tính theo công thức n = Cσ2 /d2; trong đó C = (zα/2 + zβ)2, với α (xác suất sai lầm loại I) là 0,05 và β (xác suất sai lầm loại II) là 0,1 thì C =10,51; d: độ chênh lệch điểm CLCS trước
và sau khi sử dụng KDH; : độ lệch chuẩn của điểm CLCS trước khi sử dụng KDH Theo nghiên cứu của Polyzois (2014)(12): d = 6,31 và = 10,17, chúng tôi tính được n = 27,3 Vậy cỡ mẫu tối thiểu là n = 28 Để dự phòng mất mẫu trong quá trình theo dõi chúng tôi tăng cỡ mẫu thêm 10% ⟹ n = 31
Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu thuận tiện Sau khi xem xét chúng tôi chọn được 33 đối tượng vào mẫu nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Sau khi khám lâm sàng và chọn lọc đối tượng nghiên cứu, các đối tượng sẽ được đánh giá CLCS ban đầu thông qua bộ câu hỏi OHIP-19VN, hình thức phỏng vấn trực tiếp và ghi nhận bởi duy nhất một điều tra viên, hỗ trợ và làm rõ câu hỏi khi cần
Hướng dẫn các đối tượng cách sử dụng KDH (bằng lời nói, có minh họa bằng hình ảnh), đồng thời phát cho mỗi đối tượng 2 tuýp KDH kèm theo tờ hướng dẫn (theo nhà sản xuất, mỗi tuýp 68g có thể sử dụng khoảng 6-8 tuần)
Sau 3 tháng, các đối tượng sẽ quay lại để đánh giá điểm OHIP-19VN sau khi sử dụng KDH đồng thời khảo sát cảm nhận của bệnh
nhân về KDH đã dùng
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CLCS của các đối tượng qua điểm OHIP-19VN trước và sau khi sử dụng KDH
Qua quá trình theo dõi có 5 đối tượng không tiếp tục tham gia nghiên cứu, gồm 4 nam và 1
nữ Các nguyên nhân bao gồm: khó vệ sinh, khó
Trang 4tháo hàm giả ra sau khi bôi keo, cảm thấy mất
thời gian và không cần thiết (4 đối tượng), khó
chịu ở cổ họng và giảm vị giác (1 đối tượng) Do
đó, có 2 đối tượng ngưng sử dụng hoàn toàn, 3
đối tượng sử dụng không thường xuyên
(khoảng vài lần một tháng, chỉ khi đi dự tiệc)
Vậy mẫu nghiên cứu còn lại 28 đối tượng, được
phỏng vấn lại bằng bộ câu hỏi OHIP-19VN và
ghi nhận được kết quả như sau:
Ở thời điểm bắt đầu nghiên cứu, trung bình điểm OHIP-19VN là 15,54 ± 11,26 Các lĩnh vực
có điểm số tương đối cao là lĩnh vực “giới hạn chức năng”, “đau thực thể” và “thiểu năng thể chất”
Sau 3 tháng sử dụng KDH, điểm OHIP-19VN trung bình của các đối tượng chỉ còn 2,75 ± 2,46, giảm khoảng 5,6 lần so với ban đầu, có ý nghĩa thống kê với p<0,001 Điểm OHIP của các lĩnh vực cũng giảm rõ rệt (Bảng 1)
Bảng 1 Điểm OHIP-19VN và 7 lĩnh vực trước và sau khi dùng KDH (n=28)
*Phép kiểm Wilcoxon Signed Rank
Cảm nhận của các đối tượng về loại keo
dán hàm thử nghiệm
Hầu hết các đối tượng được phỏng vấn cảm
thấy hài lòng hoặc rất hài lòng với sự dính của
hàm giả; 82% đối tượng cho rằng khả năng nhai
cải thiện rõ rệt; 86% đối tượng nhận thấy rằng
thời gian duy trì tác dụng của KDH khoảng trên
6 giờ, còn lại là từ 4-6 giờ (14%) Đối với các câu
hỏi liên quan đến các thao tác sử dụng KDH,
phần lớn các đối tượng cho rằng những việc này
hoàn toàn dễ dàng, cụ thể là dễ bôi keo (96%), dễ
làm sạch khỏi hàm giả (64%), niêm mạc (75%)
Bên cạnh đó, 82% đối tượng cho rằng KDH
không làm thay đổi vị giác; 79% đối tượng muốn
tiếp tục sử dụng KDH sau nghiên cứu (Bảng 2)
Bảng 2 Cảm nhận của các đối tượng nghiên cứu về
KDH (n=28)
Sự dính của hàm giả trên
Rất hài lòng 13 (46)
Hài lòng 15 (54)
Sự dính của hàm giả dưới
Hài lòng 11 (39)
Không hài lòng 16 (57) Khả năng nhai
Cải thiện rõ 1 (4)
Cải thiện một ít 23 (82) Không cải thiện 3 (11)
Thời gian tác dụng
Ít hơn 2 giờ 2 (7)
Từ 2 đến 4 giờ 0 (0)
Từ 4 đến 6 giờ 4 (14)
6 giờ trở lên 24 (86)
Bôi KDH
Trang 5Nội dung được hỏi Câu trả lời n (%)
Loại bỏ KDH khỏi niêm mạc
Thay đổi vị giác
Không 23 (82)
Ý định tiếp tục sử dụng KDH
sau khi kết thúc nghiên cứu
BÀN LUẬN
CLCS của các đối tượng qua bộ câu hỏi
OHIP-19VN trước và sau khi sử dụng KDH
Ở thời điểm bắt đầu nghiên cứu, trung bình
điểm OHIP-19VN là 15,54 ± 11,26 Trong đó, có
thể thấy rằng các lĩnh vực có điểm số cao là “giới
hạn chức năng”, “đau thực thể” và “thiểu năng
thể chất” Như vậy sức khỏe răng miệng ảnh
hưởng đến CLCS chủ yếu về mặt thực thể, sự
lưu hành của các vấn đề tâm lý rất thấp Điều
này tương tự như nghiên cứu của tác giả Trần
Thị Tuyết Phượng(15), Perea và cộng sự(2)
Sau 3 tháng sử dụng keo dán hàm, chất lượng
cuộc sống của bệnh nhân có sự cải thiện đáng kể,
điểm OHIP-19VN nói chung và hầu hết các lĩnh
vực nói riêng đều giảm có ý nghĩa thống kê
Trong đó, các lĩnh vực “giới hạn chức năng”,
“đau thực thể”, “thiểu năng thể chất” giảm rất rõ
rệt (p <0,001), lĩnh vực “không thoải mái tâm lý”
sự cải thiện ít rõ ràng hơn (p = 0,017), các lĩnh
vực “thiểu năng tâm lý”, “thiểu năng xã hội”,
“tàn tật” có mức điểm ban đầu rất thấp và sau
đó giảm xuống còn 0 Điều này tương tự kết quả
nghiên cứu của Bartlett (1): điểm OHIP-19 và
điểm của 5/7 lĩnh vực giảm có ý nghĩa, tuy nhiên
mức giảm ít hơn nghiên cứu của chúng tôi và hai
lĩnh vực “thiểu năng xã hội” và “tàn tật” mức
điểm không thay đổi Nguyên nhân có thể do
thời gian theo dõi của tác giả chỉ trong 1 tháng,
ngắn hơn trong nghiên cứu của chúng tôi, mặt
khác, đây là những vấn đề liên quan đến tâm lý
nên có sự khác biệt giữa các quốc gia có nền văn
hóa, điều kiện kinh tế xã hội khác nhau Các nghiên cứu sử dụng các bộ câu hỏi khác như OHIP-14(14) hay GOHAI(11) cũng cho kết quả tương tự: KDH cải thiện CLCS liên quan SKRM
có ý nghĩa thống kê
Tóm lại, có thể thấy rằng, người mang hàm giả toàn bộ sau thời gian từ 1-3 năm có điểm OHIP-19VN tương đối thấp, tức là CLCS liên quan SKRM khá cao, tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số vấn đề, chủ yếu ảnh hưởng về mặt thể chất của bệnh nhân Việc sử dụng KDH giúp giảm bớt tần suất xuất hiện các vấn đề liên quan SKRM, tăng CLCS cho bệnh nhân
Cảm nhận của các đối tượng về loại keo dán hàm đã sử dụng
Nhìn chung, cảm nhận của các đối tượng sau khi dùng KDH theo chiều hướng tích cực (Bảng 2) Trước hết, có thể thấy rằng đa số các đối tượng cảm thấy hài lòng hoặc rất hài lòng đối với sự lưu giữ của cả hàm trên (100%) và hàm dưới (96%) Kết quả này tương tự như nghiên cứu của Kulak(7), với các tỉ lệ tương ứng là 100%
và 97%
Khả năng nhai cải thiện rõ rệt ở 82% đối tượng Kết quả này cao hơn kết quả của Koronis(6) (70%) và hơi thấp hơn so với kết quả của Kulak(7) (93%) Theo các câu trả lời trong bộ câu hỏi OHIP-19VN, các vấn đề liên quan đến ăn
nhai như khó khăn khi nhai, hàm giả không vừa khít,
điểm đau đều giảm đi rõ rệt Do đó, bệnh nhân có
thể nhận thấy mình nhai tốt hơn, nghiền thức ăn nhanh chóng và dễ dàng hơn, có thể ăn được nhiều loại thức ăn hơn
Khi được hỏi rằng KDH kéo dài thời gian tác dụng trong bao lâu, hầu hết các đối tượng (86%) nhận thấy rằng thời gian tác dụng trên 6 giờ Các kết quả nghiên cứu về nhận xét của người dùng
về thời gian tác dụng của KDH rất khác nhau; trong nghiên cứu của tác giả Kulak(7), 37 - 87% đối tượng cho rằng thời gian tác dụng không quá
2 giờ, nghiên cứu của Koronis(6) hơn 75,7% đối tượng cho rằng thời gian tác dụng trên 2 giờ Thời gian KDH duy trì tác dụng phụ thuộc
Trang 6nhiều vào loại KDH sử dụng, tức là tỉ lệ, cấu tạo,
liên kết tạo thành của các loại polymer có trong
KDH Do đó, việc sử dụng các loại KDH khác
nhau trong nghiên cứu có thể là nguyên nhân
dẫn đến khác biệt trên
Một trong các bất lợi lớn của KDH là vấn đề
vệ sinh hàm giả và niêm mạc sau khi sử dụng
Do tính dính và nhớt, việc loại bỏ KDH đôi khi
gây mất thời gian và chán nản cho người dùng
(thường là nguyên nhân khiến các đối tượng
không tiếp tục sử dụng KDH) Trong nghiên cứu
này, các đối tượng được hướng dẫn chải rửa
hàm giả và niêm mạc trong nước ấm bằng bàn
chải mềm Mặc dù phần lớn các đối tượng cho
rằng việc này hoàn toàn không có khó khăn gì,
vẫn có 36% và 25% đối tượng nhận thấy việc làm
sạch KDH khỏi hàm giả và niêm mạc từ “không
dễ” cho đến “rất khó” Tỉ lệ này trong nghiên
cứu của Koronis(6) khoảng 10%, thấp hơn trong
nghiên cứu này, có lẽ do loại KDH mà tác giả sử
dụng ở dạng miếng đệm, còn trong nghiên cứu
này là dạng kem Dạng miếng đệm mặc dù dễ
loại bỏ hơn dạng kem nhưng không được
khuyến khích sử dụng, vì có thể gây thay đổi
tương quan khớp cắn dẫn đến sự tiêu xương
Bên cạnh đó, 82% đối tượng cho rằng KDH
không làm thay đổi vị giác Kết quả này hơi thấp
hơn so với tác giả Koronis(6) (90-95%), có thể do
tác giả sử dụng KDH dạng miếng đệm, không
tan trong nước còn nghiên cứu này dùng KDH
dạng kem, tan trong nước do đó dễ ảnh hưởng
đến sự cảm nhận mùi vị của thức ăn Đồng thời,
86% cảm thấy KDH có vị bình thường và 14%
cảm thấy vị của KDH dễ chịu Điều này tương tự
như kết quả của Koronis và Kulak (hơn 90%)(6,7)
Ngoài ra, khi được hỏi về nhu cầu sử dụng
KDH, 79% đối tượng mong muốn tiếp tục sử
dụng KDH sau nghiên cứu Điều này cho thấy
các đối tượng thật sự cảm thấy nhận được
những lợi ích từ KDH Tuy nhiên, đây cũng là
vấn đề cần hết sức lưu ý, bởi vì việc sử dụng
KDH lâu dài cần phải kết hợp với kiểm tra định
kỳ tình trạng trong miệng và hàm giả, điều mà
cả bệnh nhân lẫn bác sĩ ít khi quan tâm Vì vậy,
cần phải báo trước với bệnh nhân những nguy
cơ của việc lạm dụng KDH và có kế hoạch nhắc nhở tái khám để sữa chữa hoặc thay mới hàm
giả khi cần thiết
KẾT LUẬN
1- Điểm OHIP-19VN trung bình trước khi sử dụng KDH là 15,54 ± 11,26, sau 3 tháng sử dụng KDH là 2,75 ± 2,46, giảm có ý nghĩa thống kê với p<0,001 Trong đó, mức điểm giảm rõ rệt nhất ở các lĩnh vực “giới hạn chức năng”, “đau thực thể”, “thiểu năng thể chất” (p<0,001)
2- Sau khi sử dụng KDH, hầu hết các đối tượng cảm thấy hài lòng với sự dính của hàm giả trên và dưới, cải thiện rõ khả năng nhai ở 82% đối tượng Bên cạnh đó, 86% đối tượng nhận thấy KDH kéo dài thời gian tác dụng từ 6 giờ trở lên Phần lớn đối tượng cho rằng KDH dễ làm sạch khỏi nền hàm (64%) hay niêm mạc (75%), không làm thay đổi vị giác (82%), có vị bình thường (86%) Ngoài ra, 79% đối tượng có ý định
tiếp tục sử dụng KDH sau nghiên cứu
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bartlett D.W, Maggio B,Targett D, Fenlon M.R.,Thomas J (2013), "A preliminary investigation into the use of denture adhesives combined with dietary advice to improve diets in
complete denture wearers" Journal of Dentistry 41, pp 143-147
2 Bilhan H et al (2013), "Evaluation of satisfaction and
complications in patients with existing complete dentures" Journal of Oral Science, 55 (1), pp 29-37
3 Felton et al (2011), "Evidence-Based Guidelines for the Care and Maintenance of Complete Dentures: A Publication of the
American College of Prosthodontists" Journal of Prosthodontics,
20, pp S1-S12
4 Grasso J E (2004), "Denture adhesives" Dent Clin North Am,
48 (3), pp 721-33
5 Hasegawa S, Sekita T, Hayakawa I (2003), "Effect of denture adhesive on stability of complete dentures and the masticatory
function" J Med Dent Sci, 50 (4), pp 239-47
6 Koronis S, Pizatos E, Polyzois G, Lagouvardos P (2012),
"Clinical evaluation of three denture cushion adhesives by
complete denture wearers" Gerodontology, 29 (2), pp 161-9
7 Kulak et al (2005), "Subjective Assessment by Patients of the
Efficiency of Two Denture Adhesive Pastes" J Prosthodont 14,
pp 248-252
8 Kumar M S., Thombare R U (2011), "A comparative analysis
of the effect of various denture adhesives available in market
on the retentive ability of the maxillary denture: an in vivo
study" J Indian Prosthodont Soc, 11 (2), pp 82-8
9 Manes J F, Selva E J, De-Barutell A, Bouazza K (2011),
"Comparison of the retention strengths of three complete
Trang 7denture adhesives: an in vivo study" Med Oral Patol Oral Cir
Bucal, 16 (1), pp e132-6
10 Narhi T.O, Ettinger R L, Lam E W (1997), "Radiographic
findings, ridge resorption, and subjective complaints of
complete denture patients" Int J Prosthodont, 10 (2), pp 183-9
11 Nicolas E, Veyrune F,Lassauzay C (2010), "A Six-Month
Assessment of Oral Health-Related Quality of Life of
Complete Denture Wearers Using Denture Adhesive: A Pilot
Study" Journal of Prosthodontics 19, pp 443-448
12 Oliveira Junior N M., Rodriguez L S., Mendoza Marin D O.,
Paleari A G., Pero A C., et al (2014), "Masticatory
performance of complete denture wearers after using two
adhesives: a crossover randomized clinical trial" J Prosthet
Dent, 112 (5), pp 1182-7
13 Perea C, Suarez-Garcia M J., Del Rio J, Torres-Lagares D,
Montero J, et al (2013), "Oral health-related quality of life in
complete denture wearers depending on their
socio-demographic background, prosthetic-related factors and
clinical condition" Med Oral Patol Oral Cir Bucal, 18 (3), pp
e371-80
14 Polyzois G, Lagouvardos P, Partalis C, Zoidis P, Polyzois H (2014), "Short-Term Assessment of the OHIP-14 Scale on
Denture Wearers Using Adhesives" J Prosthodont, 24 (5), pp
373-380
15 Trần Thị Tuyết Phượng (2011), "Ảnh hưởng của sức khỏe răng miệng đến chất lượng cuộc sống người bệnh cao tuổi tại Bệnh Viện Răng Hàm Mặt Trung Ương Thành Phố Hồ Chí
Minh", Luận văn thạc sĩ y học, Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ
Chí Minh
Ngày nhận bài báo: 05/01/2016 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 26/02/2016 Ngày bài báo được đăng: 25/03/2016