Nội dung của báo cáo phác họa sự hợp tác giữa Việt Nam và UNESCO theo 5 lĩnh vực chuyên môn của UNESCO, bao gồm: Giáo dục, Khoa học Tự nhiên; Khoa học Xã hội và Nhân văn; Văn hóa và Thông tin và Truyền thông. Việc triển khai những hoạt động thuộc các lĩnh vực này sẽ góp phần thực hiện Kế hoạch Chung 2012-2016, khung chương trình duy nhất trong đó phác họa sự hỗ trợ của Liên Hợp Quốc cho Chính phủ và người dân Việt Nam trong thời kỳ này.
Trang 1Báo cáo tiến độ thực hiện Bản ghi nhớ giữa Chính phủ Việt Nam và UNESCO giai đoạn 2010-2012
VIỆT NAM – UNESCO Báo cáo tiến độ
Bản ghi nhớ Giữa Chính phủ Việt Nam và UNESCO
Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam và Văn phòng UNESCO tại
Việt Nam thực hiện
Giai đoạn 10/2010-11/2012
Trang 2Giới thiệu
Bản ghi nhớ hợp tác giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Tổ chức Giáo dục,
Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) giai đoạn 2010 - 2015, được ký kết tại Hà Nội vào
ngày 01 tháng 10 năm 2010, giữa Thứ trưởng Bộ Ngoại giao kiêm giữ chức Chủ tịch Ủy ban Quốc gia
UNESCO Việt Nam và Tổng Giám đốc UNESCO
Bản ghi nhớ này phác họa sự hợp tác giữa Việt Nam và UNESCO theo 5 lĩnh vực chuyên môn của
UNESCO, bao gồm: Giáo dục, Khoa học Tự nhiên; Khoa học Xã hội và Nhân văn; Văn hóa và Thông tin
và Truyền thông Việc triển khai những hoạt động thuộc các lĩnh vực này sẽ góp phần thực hiện Kế
hoạch Chung 2012-2016, khung chương trình duy nhất trong đó phác họa sự hỗ trợ của Liên Hợp
Quốc cho Chính phủ và người dân Việt Nam trong thời kỳ này
Báo cáo này được cập nhật hàng năm và cung cấp các thông tin liên quan tới thành tựu và tiến độ
thực hiện từng điều khoản nêu trong Bản ghi nhớ Báo cáo được phối hợp xây dựng bởi gia đình
UNESCO tại Việt Nam, gồm Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam, các bộ, ngành và cơ quan liên quan
của Việt Nam hiện đang nắm giữ vai trò phó chủ tịch hoặc thành viên của Ủy ban, Trụ sở UNESCO,
Văn phòng Khu vực về Giáo dục UNESCO châu Á - Thái Bình Dương tại Băng Cốc, Văn phòng Khu vực
về Khoa học châu Á-Thái Bình Dương của UNESCO ở Jakarta, các Viện của UNESCO hỗ trợ kỹ thuật
cho Việt Nam và Văn phòng UNESCO tại Việt Nam
Chúng tôi bày tỏ sự hài lòng với tiến độ đáng kể đạt được đến nay liên quan đến việc thực hiện các
mục tiêu đề ra kể từ khi ký kết Bản ghi nhớ
Chúng tôi mong được tiếp tục hợp tác giữa Việt Nam và UNESCO hướng tới sự phát triển bền vững,
vị thế và sự hội nhập của quốc gia trên trường quốc tế, cũng như hỗ trợ cho các ưu tiên quốc gia
nhằm tăng cường xây dựng xã hội học tập Việt Nam hòa nhập, có khả năng thích ứng và bền vững
Trang 3Mục lục
Giới thiệu 2
Tổ chức, Cơ quan và Ủy ban tham gia Báo cáo 4
Bản ghi nhớ Việt Nam-UNESCO và Kế hoạch chung Liên Hợp Quốc tại Việt Nam 2012-2016 5
Giáo dục 6
Khoa học tự nhiên 37
Khoa học Xã hội và Nhân văn 58
Văn hóa 65
Thông tin và Truyền thông 87
Ủy ban Quốc gia 100
Trang 4Các tổ chức, cơ quan, ban ngành tham gia xây dựng báo cáo:
Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam
Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GD&ĐT)
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Bộ VHTT&DL)
Bộ Thông tin và Truyền thông (Bộ TT&TT)
Bộ Khoa học và Công nghệ (Bộ KH&CN)
Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TN&MT)
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT)
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (Viện KHXH)
Ủy ban Quốc gia Chương trình Con người và Sinh quyển Việt Nam (MAB Việt Nam)
Ủy ban Quốc gia Chương trình Ký ức Thế giới Việt Nam
Ủy ban Liên Chính phủ về Hải dương học Việt Nam (IOC Việt Nam)
Ủy ban Quốc gia Chương trình Thủy văn quốc tế (IHP Viet Nam )
Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV)
Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN)
Đầu mối Quốc gia về Công viên địa chất Toàn cầu
Trụ sở UNESCO
Văn phòng Khu vực về Giáo dục châu Á và Thái Bình Dương của UNESCO tại Băng Cốc
Văn phòng Khu vực về Khoa học châu Á và Thái Bình Dương của UNESCO tại Jakarta
Trung tâm Quốc tế về Đào tạo Nghề UNESCO (UNEVOC)
Viện Học tập Suốt đời UNESCO (UIL)
Viện Kế hoạch Giáo dục UNESCO (IIEP)
Ủy bản Hải duơng học Quốc tế UNESCO (IOC)
Viện Thống kê UNESCO (UIS)
Văn phòng Quốc tế về Giáo dục của UNESCO (IBE)
Văn phòng UNESCO tại Việt Nam
Trang 5Kết quả kế hoạch chung 2012-2016 Các điều của MOU
LĨNH VỰC TRỌNG TÂM THỨ NHẤT CỦA LHQ: TĂNG TRƯỞNG BỀN VỮNG, CÔNG BẰNG VÀ CHO TẤT CẢ MỌI NGƯỜI
Mục tiêu 1.1: Đến năm 2016, các cơ quan trung ương chính xây dựng và giám sát các chính sách phát triển kinh tế - xã hội lấy con
người làm trung tâm, phát triển xanh và dựa vào bằng chứng nhằm đảm bảo chất lượng tăng trưởng của một nước có thu nhập
trung bình
21, 22, 23, 24, 27, 28, 29, 30, 32, 33,
35, 36, 37, 43
Mục tiêu 1.2: Đến năm 2016, các thể chế tạo cơ hội việc làm tốt cho những người trong độ tuổi lao động, đặc biệt cho các nhóm dễ
Mục tiêu 1.3: Đến năm 2016, các cơ quan trung ương và địa phương chủ chốt phối hợp với khu vực tư nhân và các cộng đồng xây
dựng và giám sát các chiến lược, cơ chế và nguồn lực đa ngành để hỗ trợ thực hiện các công ước quốc tế phù hợp và giải quyết hiệu
quả việc thích nghi và giảm thiểu biến đổi khí hậu cũng như quản lý nguy cơ thảm họa
7, 12, 15, 16, 19, 22, 23, 27, 29, 42
Mục tiêu 1.4: Đến năm 2016, các cơ quan trung ương và địa phương chủ chốt phối hợp với khu vực tư nhân và các cộng đồng thực
hiện và giám sát việc thực hiện các pháp luật, chính sách và chương trình nhằm sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và quản lý
môi trường, đồng thời thực hiện các cam kết trong các công ước quốc tế
12, 13, 14, 17, 18, 20, 25, 33
LĨNH VỰC TRỌNG TÂM THỨ HAI CỦA LHQ: TIẾP CẬN AN SINH XÃ HỘI VÀ CÁC DỊCH VỤ THIẾT YẾU CÓ CHẤT LƯỢNG
Mục tiêu 2.3: Đến năm 2016, chất lượng và quản lý hệ thống giáo dục và đào tạo được nâng cao đồng thời với việc tăng cường tiếp
Mục tiêu 2.4: Đến năm 2016, các cơ quan trung ương và địa phương, phối hợp với cộng đồng giải quyết bất bình đẳng một cách tích
cực hơn thong qua thực hiện và giám sát các luật, chính sách và chương trình nhằm thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ
nữ, ứng phó hiệu quả và bền vững với vấn đề HIV, giảm kỳ thị và phân biệt đối xử
10
LĨNH VỰC TRỌNG TÂM THỨ 3 CỦA LHQ: QUẢN TRỊ VÀ SỰ THAM GIA
Mục tiêu 3.1: Đến năm 2016, các cơ quan dân cử có khả năng tốt hơn trong việc xây dựng luật và giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước,
đồng thời đại diện cho nguyện vọng của nhân dân Việt Nam, đặc biệt là phụ nữ, dân tộc thiểu số, các nhóm dễ bị tổn thương và thiệt thòi khác 23, 28
Mục tiêu 3.2: Đến năm 2016, tất cả công dân, đặc biệt là các nhóm dễ bị tổn thương và thiệt thòi nhất, được hưởng lợi từ tăng cường cải cách
pháp luật và tư pháp, tăng khả năng tiếp cận công lý, nâng cao năng lực cán bộ pháp luật và tư pháp, và củng cố các khuôn khổ pháp lý quốc gia để
hỗ trợ thực hiện các công ước quốc tế mà Việt Nam đã phê chuẩn
23, 28, 44
Mục tiêu 3.3: Đến năm 2016, chất lượng hoạt động của các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương được cải thiện, thông
qua việc tăng cường điều phối, trách nhiệm giải trình, tính minh bạch và các nỗ lực chống tham nhũng, sẽ làm giảm sự chênh lệch và
bảo đảm tiếp cận dịch vụ công cho các nhóm dễ bị tổn thương và thiệt thòi nhất
23, 28, 33, 38, 39, 40, 42
Trang 6GIÁO DỤC
Trang 7Giáo dục
Điều 1: Hỗ trợ thực hiện Kế hoạch Hành động Quốc gia về Giáo dục cho Mọi người (2003 - 2015) thông qua việc thường xuyên rà soát, theo dõi và tăng cường phối hợp giữa các đối tác trong ngành giáo dục và huy động nguồn lực nhằm đạt các Mục tiêu về Giáo dục cho Mọi người vào năm 2015
x Được chỉ định là cơ quan điều phối của Quỹ Đối tác Toàn cầu về Giáo dục (GPE: trước đây còn gọi là Sáng kiến Giải ngân Nhanh Giáo dục cho Mọi người tại Việt Nam), UNESCO và Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp rà soát và cập nhật Kế hoạch hành động quốc gia Giáo dục cho mọi người 2003-2015, đồng thời nâng cao nhận thức về những ưu tiên Việt Nam cần phải đạt được đến 2015, với những thách thức vượt qua cả phổ cập giáo dục tiểu học và chú trọng đến chất lượng và bình đẳng cũng như phù hợp với Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 (CLPTGD) Văn phòng Khu vực về Giáo dục châu Á và Thái Bình Dương của UNESCO đã cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cho Bộ GD&ĐT cập nhật và lập dự toán tương ứng cho Kế hoạch Hành động đã được rà soát
Công tác cập nhật Kế hoạch hành động quốc gia Giáo dục cho mọi người 2003-2015 đã đưa ra những khuyến nghị sau: i) đảm bảo rằng những đối tượng thiệt thòi nhất được tiếp cận ít nhất một năm giáo dục mầm non có chất lượng, ii) tăng cường ngôn ngữ tiếng Việt thông qua tiếng mẹ đẻ và giáo dục hòa nhập và iii) cải thiện cơ chế đảm bảo chất lượng giáo dục cho mọi người (GDCMN) bằng việc tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục địa phương Trên cở sở Kế hoạch Hành động GDCMN cập nhật, cả giáo dục mầm non (phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi) và mô hình trường tiểu học mới nhằm nâng cao chất lượng tiểu học bước đầu được xác định là những ưu tiên GDCMN cần hỗ trợ kinh phí Bộ GD&ĐT, phối hợp với Nhóm Công tác Ngành Giáo dục (ESG) đã quyết định ưu tiên đề xuất dự án mô hình trường tiểu học mới để xin kinh phí của GPE, trong khi Ngân hàng Thế giới đã nhất trí tăng giá trị khoản vay cho dự án giáo dục mầm non
x Kinh phí hỗ trợ thực hiện dự án của Việt Nam trong khuôn khổ sáng kiến mô hình nhà trường kiểu mới của GPE VNEN), dựa trên Mô hình Escuela Nueva ở Colombia, được phê duyệt tại Hội nghị Ban Giám đốc Quỹ Toàn cầu vào ngày 31 tháng 7 năm 2012 Việt Nam đã nhận được khoản tài trợ trị giá 84,6 triệu USD cho dự án này Trong quá trình hình thành dự án, với việc chú trọng vào công tác đổi mới sư phạm toàn hệ thống lấy người học làm trung tâm, UNESCO đã đảm bảo công tác tham vấn và kêu gọi sự tham gia của các đối tác ESG, đồng thời đóng vai trò là đầu mối liên lạc giữa Việt Nam và Ban thư ký GPE, đặt tại Washington D.C
(GPE-x UNESCO đã tiếp tục cùng với Bộ Giáo dục và Đào tạo làm đồng chủ tịch Nhóm Công tác Ngành Giáo dục (ESG), một liên minh các tổ chức của chính phủ liên quan đến giáo dục, các nhà tài trợ song phương và đa phương cũng như các
tổ chức phi chính phủ quốc tế có mối quan tâm đến việc cải thiện hỗ trợ cho giáo dục tại Việt Nam Hoạt động của ESG bao gồm: (i) sơ đồ hoá các thành viên của nhóm đối tác tại Diễn đàn Hiệu quả Viện trợ tại Việt Nam, được tổ chức nhằm cung cấp thông tin đầu vào cho nội dung thảo luận về vai trò của Nhóm Đối tác về Hiệu quả Viện trợ của Việt Nam trong quá trình xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2011-2015 UNESCO đã đại diện cho ESG trong quy trình này; (ii) báo cáo hiệu quả viện trợ trong ngành giáo dục; (iii) vai trò và trách nhiệm của ESG phù hợp với CLPTGD 2011-2020, và hỗ trợ cho công tác triển khai thực hiện dự án GPE-VNEN tại Việt Nam, thông qua các cuộc thảo luận giữa các thành viên của ESG do Bộ GD&ĐT (Vụ Kế hoạch và Tài chính và Vụ Hợp tác Quốc tế) chủ trì
x Tiếp tục đóng vai trò là Cơ quan điều phối cho Quỹ Đối tác Toàn cầu về Giáo dục trong việc triển khai
dự án được GPE hỗ trợ kinh phí của Việt Nam giai đoạn 2012-2015
x Cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cho Bộ GD&ĐT trong việc giám sát thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục (2011-2020) thông qua các đợt đánh giá chung hàng năm
x Tiếp tục đóng vai trò là đồng chủ tịch của Nhóm Công tác Ngành Giáo dục (ESG) và Nhóm Điều phối Chương trình (PCG) Giáo dục của Chính phủ Việt Nam và Liên Hợp Quốc
Trang 8Giáo dục
Điều 1: (Tiếp)
x Cùng với các đối tác GDCMN tại Việt Nam, UNESCO đã hỗ trợ tổ chức Tuần lễ toàn cầu hành động giáo dục cho mọi người năm 2011 và 2012 Năm 2011, một chiến dịch truyền thông được tổ chức với chủ đề “Giáo dục cho phụ nữ và trẻ em gái thiệt thòi” Có 9 tổ chức, bao gồm Bộ GD&ĐT, Action Aid, Aide et Action, Child Fund, ILO, UNICEF, Ban điều phối Quốc gia Giáo dục cho mọi người, World Vision và UNESCO đã hỗ trợ chiến dịch này bằng việc xây dựng một trang web về Tuần lễ toàn cầu hành động giáo dục cho mọi người, đồng thời chia sẻ các thông điệp thông qua các buổi tọa đàm trên đài phát thanh và truyền hình với sự tham gia của các cơ quan giáo dục, giáo viên và người học là người dân tộc thiểu số
Một cuốn sách trong đó có các câu chuyện kể về việc giáo dục đã thay đổi cuộc đời của nhiều phụ nữ và trẻ em gái thiệt thòi như thế nào đã được xuất bản bằng tiếng Việt và đăng tải trên trang website của UNESCO
Năm 2012, sự kiện Tuần lễ GDCMN được tổ chức nhằm nâng cao nhận thức của công chúng và các cơ quan của Chính phủ về chăm sóc và giáo dục mầm non thông qua một sự kiện quốc gia với tựa đề: “Chung tay vì sự phát triển toàn diện của trẻ em” Mục tiêu của sự kiện năm nay nhằm nêu bật tầm quan trọng của các bậc phụ huynh, những người chăm sóc trẻ, các cơ quan của nhà nước và các ban ngành, đoàn thể, đồng thời thúc đẩy
sự phối hợp giữa các bên liên quan này trong vai trò là các tác nhân chủ chốt tham gia công tác chăm sóc và giáo dục mầm non
x Vụ Giáo dục Thường xuyên thuộc Bộ GD&ĐT và UNESCO Việt Nam đã tham gia sự kiện Ngày Quốc tế xóa mù chữ và Ngày Việt Nam xóa mù chữ cùng với Câu lạc bộ UNESCO “Chiến sĩ diệt dốt” Nguyễn Văn Tố, thuộc Hiệp hội UNESCO Việt Nam Trung tâm Giáo dục Thường xuyên Nguyễn Văn Tố, là nơi sinh hoạt của Câu lạc bộ
“Chiến sĩ diệt dốt”, được thành lập cách đây hơn 100 năm và ngày nay tổ chức các chương trình xóa mù chữ cho thanh thiếu niên, người lớn thất học và người học có hoàn cảnh khó khăn ở vùng Đồng bằng Sông Hồng
Các thành viên của câu lạc bộ bao gồm các cựu giáo chức và những người ủng hộ phong trào bình dân học vụ vào năm 1945 Hơn 80-90 năm trôi qua nhưng phong trào này vẫn còn sức sống, thể hiện trong việc vận động xây dựng và thực hiện các chương trình giáo dục xóa mù chữ và giáo dục không chính quy tới Đảng, Quốc hội
và trên báo chí Vụ Giáo dục Thường xuyên,Bộ GD&ĐT cũng tham vấn ý kiến của Câu lạc bộ trong quá trình xây dựng và giám sát các chương trình và chính sách xóa mù chữ
Tại lễ kỷ niệm lần thứ 74 ngày tiếng Việt được sử dụng làm chữ quốc ngữ tại Trung tâm Giáo dục Thường xuyên Nguyễn Văn Tố, Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Việt Nam nhấn mạnh rằng kỹ năng biết đọc biết viết là rất cần thiết trong xã hội tri thức hiện nay, nâng cao nhận thức của người dân về xây dựng xã hội học tập và kinh tế tri thức tại Việt Nam
Trang 9Giáo dục
Điều 2: Hỗ trợ thực hiện các kế hoạch và chương trình phát triển giáo dục của Chính phủ nhằm nâng cao chất lượng và sự phù hợp của giáo dục
ở mọi cấp học từ giáo dục mầm non đến giáo dục đại học và giáo dục không chính quy
x Cùng với Bộ GD&ĐT là đồng chủ tịch của Nhóm Điều phối Chương trình (PCG) của Liên hợp quốc về Giáo dục và Nhóm công tác ngành giáo dục (ESG), UNESCO đã hỗ trợ các tổ chức thành viên rà soát các dự thảo Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 (CLPTGD) của Việt Nam, cũng như những đóng góp của các bên liên quan để xây dựng bản chiến lược chính thức Chiến lược được Thủ tướng Chính phủ chính thức phê duyệt vào tháng 6 năm 2012
x Về giáo dục chất lượng, với sự hỗ trợ của Chương trình Đổi mới giáo dục cho phát triển khu vực châu Á-Thái Bình Dương (APEID), Bộ phận Giáo dục Đại học ở Pari và UNESCO Việt Nam, Cục Khảo thí và Kiểm định Chất lượng thuộc Bộ GD&ĐT đã hoàn thiện dự thảo Khung kiểm định và bảo đảm chất lượng (KĐ&ĐBCL) về giáo dục đại học Khung dự thảo này được xây dựng trên cơ sở phân tích hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và thực tiễn quốc gia, các thực tiễn tốt nhất quốc tế và đợt nâng cao năng lực tại Băng Cốc cho Tổ Công tác KĐ&ĐBCL của Việt Nam được thành lập từ khi bắt đầu triển khai dự án Bản sơ đồ hóa quốc gia về tình hình KĐ&ĐBCL giáo dục đại học Việt Nam và một nghiên cứu so sánh về KĐ&ĐBCL tại các quốc gia liên quan đã cung cấp thông tin cho xây dựng khung dự thảo Tổ công tác, bao gồm đại diện của Bộ GD&ĐT và các trường đại học, đã nâng cao năng lực qua đợt tập huấn một tuần với nội dung tập huấn về KĐ&ĐBCL, một hội nghị của Mạng lưới chất lượng châu Á-Thái Bình Dương (APQN), đại hội đồng thường niên của APQN và một chuyến tham quan học tập tại Văn phòng chuẩn quốc gia đánh giá chất lượng giáo dục (ONESQA) của Thái Lan Tổ công tác cũng tham dự Hội nghị thường niên 2010 về “Nâng cao chất lượng giáo dục đại học trong thế giới đang phát triển”
tại Băng Cốc Thông qua sáng kiến này, tổ công tác đã phối hợp chặt chẽ với các tư vấn quốc tế rà soát và sửa đổi khung dự thảo, đồng thời xây nâng cao năng lực của mình
x Một đề xuất thiết kế cơ quan kiểm định và đảm bảo chất lượng (KĐ&ĐBCL) theo hướng hội nhập quốc tế được xây dựng với sự hỗ trợ của APQN Năm cán bộ của Bộ GD&ĐT, phụ trách công tác hoạch định chính sách về đảm bảo chất lượng giáo dục đại học, đã nâng cao kiến thức về KĐ&ĐBCL sau khi tham gia lớp tập huấn thực hành 4 ngày và đi thực tế tại địa bàn, do cơ quan KĐ&ĐBCL của Nhật Bản, Viện Quốc gia về Bằng học thuật và Đánh giá trường Đại học (NIAD-UE) Nhật Bản tổ chức với sự hỗ trợ của APQN Mục tiêu của đợt tập huấn này là: (i) làm quen với các khái niệm, công cụ và các phương áp xây dựng, phát triển và duy trì một hệ thống KĐ&ĐBCL quốc gia; (ii) nắm rõ ý nghĩa của các phương án khác nhau và tư duy về việc hiệu chỉnh từng phương pháp cho phù hợp với bối cảnh quốc gia; (iii) thảo luận các ví dụ về kinh nghiệm quốc tế liên quan đến các phương án KĐ&ĐBCL độc lập; và (iv) rút ra bài học về những thực tiễn tốt hoặc mong muốn về công tác KĐ&ĐBCL độc lập
x Tiếp tục cung cấp hỗ trợ trong công tác giám sát và đánh giá Kế hoạch Phát triển Kinh tế - Xã hội và Chiến lược phát triển giáo dục trong những năm tới, trong đó đặc biệt quan tâm tới việc hỗ trợ các chính sách hướng tới xây dựng
xã hội học tập sáng tạo, bền vững và hòa nhập cũng như đảm bảo tiếp cận giáo dục có chất lượng của các đối tượng người học dân tộc thiểu số
x Tổ chức nghiên cứu và tìm hiểu các trường hợp điển hình về giáo dục hòa nhập trong đó chú trọng đến các nhóm thiệt thòi nhằm cung cấp các luận cứ cho công tác hoạch định chính sách và lập kế hoạch giáo dục
Trang 10Giáo dục
Điều 2: (Tiếp)
trong khuôn khổ Dự án phối hợp giữa IIEP và Trung tâm khu vực về giáo dục đại học và phát triển thuộc Tổ chức Các Bộ trưởng Giáo dục các nước Đông Nam Á (SEAMEO), với nhan đề “Vai trò của các chính sách điều hành và hệ thống quản lý: châu Á”, nhằm rà soát các dự thảo ban đầu về nghiên cứu điển hình của các quốc gia: Campuchia, Trung Quốc, Indonesia, Nhật Bản và Việt Nam Những phát hiện từ các nghiên cứu điển hình của các quốc gia này
về cải cách công tác quản trị đã được thảo luận, và những nội dung sửa đổi đã được các nhà nghiên cứu tham dự thống nhất Sau đó, một hội thảo khoa học phối hợp giữa Cơ quan Trao đổi Hàn lâm Đức (DAAD) và Viện Quy hoạch Giáo dục Quốc tế (IIEP) đã được tổ chức, chú trọng đến “Cải cách công tác quản trị trong giáo dục đại học”
40 chuyên gia giáo dục đại học đến từ châu Âu và châu Á đã trao đổi quan điểm về những phát hiện từ các nghiên cứu điển hình ở các quốc gia ở châu Á nêu trên đây về cải cách công tác quản trị, và so sánh những phát hiện đó với xu hướng hiện nay trong lĩnh vực giáo dục đại học ở châu Âu Các đại biểu còn thảo luận mức độ ảnh hưởng của việc cải cách quản trị ở cấp độ hệ thống tới nhà trường và các cơ chế điều hành ở cấp độ tổ chức, và những thách thức đối với các trưởng khoa những người xem xét việc phân cấp và tăng tính tự chủ cho nhà trường Kết quả sau hội thảo: các báo cáo nghiên cứu được sửa đổi, một diễn đàn chính sách được tổ chức tại Indonesia vào tháng 5/2011 và một ấn phẩm tổng hợp 5 trường hợp nghiên cứu đã được hoàn thành và công bố vào 2011
x Nhằm hỗ trợ quyết định của Việt Nam tiến hành đổi mới căn bản và toàn diện hệ thống giáo dục của đất nước, UNESCO, cùng UNICEF, đã hỗ trợ Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam tổ chức hội thảo đối thoại quy tụ của các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách trong nước và quốc tế, về những khuyến nghị hướng tới chuẩn hóa,
xã hội hóa và hội nhập quốc tế trong giáo dục Văn phòng Khu vực về Giáo dục châu Á và Thái Bình Dương của UNESCO đã có bài trình bày tham luận chính về viễn cảnh tương lai của giáo dục
x Văn phòng UNESCO tại Việt Nam đã hỗ trợ Văn phòng UNESCO tại Campuchia tổ chức chuyến tham quan học tập tại Việt Nam cho một phái đoàn gồm 10 đại biểu của Bộ Giáo dục, Thanh niên và Thể thao (MOEYS) Campuchia
Mục đích của chuyến thăm và làm việc là xây dựng năng lực cho đội ngũ lập kế hoạch cấp cao của MOEYS thông qua chia sẻ kinh nghiệm và những bài học thu được từ các quốc gia khác trong khu vực, đặc biệt là Việt Nam
Trong chuyến thăm và làm việc 5 ngày, phái đoàn Campuchia đã nâng cao hiểu biết về các vấn đề và thách thức trong việc hoạch định chính sách và xây dựng kế hoạch toàn ngành trong hệ thống giáo dục của Việt Nam cũng như sự liên kết và hài hòa giữa công tác lập kế hoạch ngành giáo dục và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Đoàn
đã chia sẻ các bài học và kinh nghiệm liên quan đến lập kế hoạch giáo dục, lập dự toán, quản lý tài chính, giám sát
và đánh giá ở cả cấp trung ương và địa phương, đặc biệt chú trọng đến việc xây dựng, triển khai và rà soát Chiến lược phát triển giáo dục Đoàn đã có các cuộc trao đổi trực tiếp với Bộ GD&ĐT do Thứ trưởng chủ trì và Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, đã đi thực địa tại tỉnh Quảng Ninh, thăm và làm việc với Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Ninh và một số trường trên địa bàn
x Năm 2013, IIEP dự kiến chuẩn bị một tập hợp các tóm tắt chính sách
về các vấn đề quản trị để
sử dụng trong thảo luận trực tuyến dành cho các nhà hoạch định chính sách, sẽ được tổ chức
vào mùa thu năm 2013
Trang 11Giáo dục
Điều 2: (Tiếp)
Ngoài ra, đoàn cũng thảo luận với Vụ Kế hoạch và Tài chính và Vụ Hợp tác Quốc tế, Bộ GD&ĐT về các phương thức viện trợ được Bộ áp dụng, sự hỗ trợ của các đối tác phát triển và các cơ chế điều phối viện trợ trong hệ thống giáo dục của Việt Nam
x Văn phòng UNESCO tại Băng Cốc tham gia và hỗ trợ đầu vào cho việc tích hợp có hệ thống công nghệ thông tin trong giáo dục trong Hội nghị quốc gia về “Công nghệ thông tin trong giáo dục ở Việt Nam: Tích hợp hay thay đổi?” do Viện Khoa học Giáo dục, Đại học Sư phạm Hà Nội và Tổ chức Hợp tác Phát triển và Hỗ trợ kỹ thuật vùng Fla-măng, Vương quốc Bỉ (VVOB) phối hợp tổ chức Mục tiêu của hội nghị là tăng cường đối thoại về các lĩnh vực
cụ thể của công nghệ thông tin trong giáo dục và nhằm phản ánh một tầm nhìn về giáo dục và vai trò của công nghệ thông tin để đổi mới và làm thay đổi giáo dục ở Việt Nam Nhiều giáo viên và giảng viên đại học đã tham dự hội nghị và tại đây họ học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy trên lớp liên quan tới các lĩnh vực mà hội nghị quan tâm Hội nghị cũng là cơ hội để họ kết nối công nghệ thông tin với phương pháp sư phạm trong giảng dạy và học tập Những kết quả thu được từ hội nghị là thông tin đầu vào cho các tư vấn chính sách và khuyến nghị của Viện Khoa học Giáo dục cho Bộ GD&ĐT nhằm định hình tầm nhìn quốc gia về công nghệ thông tin trong giáo dục
ở Việt Nam
Trang 12Giáo dục
Điều 3: Tăng cường năng lực của tổ chức và năng lực chuyên môn ở cấp quốc gia và tỉnh thành nhằm theo dõi và đánh giá chất lượng giáo dục
một cách hệ thống, bao gồm cả việc xây dựng và thực hiện các chương trình giảng dạy cũng như đánh giá kết quả của công tác xóa mù chữ
x Viện Thống kê của UNESCO (UIS), Văn phòng Khu vực về Giáo dục châu Á và Thái Bình Dương của UNESCO và Văn phòng UNESCO tại Việt Nam đã hoàn tất công tác hỗ trợ cho Việt Nam trong giai đoạn chuẩn bị Chương trình Giám sát và Đánh giá Trình độ biết chữ (LAMP) Nhóm công tác LAMP Việt Nam đã hoàn tất thử nghiệm các công
cụ LAMP được điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh của Việt Nam và triển khai một khảo sát thí điểm Khảo sát thí điểm giúp nhóm LAMP có hiểu biết đầy đủ hơn từ đó cải tiến phương pháp khảo sát Đề xuất chọn mẫu đối với khảo sát chính cũng đã được hoàn thiện Các chuyên gia trong nước thuộc Bộ GD&ĐT, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam và Tổng cục Thống kê đã nâng cao năng lực thông qua việc nghiên cứu các tài liệu và sổ tay hướng dẫn của LAMP, tham dự các đợt tập huấn do UIS tổ chức và trực tiếp thực hiện các hoạt động của chương trình trong
đó có hợp phần đánh giá tâm lý là hợp phần mới so với các phương pháp trước đây như các chỉ số thay thế về cấp trình độ
hay các cuộc điều tra tự khai báo UNESCO đã cung cấp trang thiết bị để tiến hành điều tra thực địa bao gồm máy ghi
âm, máy tính xách tay, modem không dây, máy ảnh, máy quét, đồng hồ bấm giây, máy tính xách tay, áo mưa, đèn pin, pin và văn phòng phẩm Trong số những nhiệm vụ mà các thành viên của Nhóm công tác LAMP phải thực hiện bao gồm xây dựng phần mềm, thu thập dữ liệu, tập huấn điều tra viên cũng như mã hóa và chấm điểm kết quả điều tra
x Thông qua việc tham gia, hoàn thành và báo cáo thành công các hoạt động khảo sát thực địa, toàn thể Nhóm công tác LAMP đã nắm rõ phương pháp triển khai LAMP cũng như các kỹ năng trong việc thu thập và phân tích số liệu Trên cơ sở giai đoạn thử nghiệm ban đầu, Bộ GD&ĐT đã quyết định triển khai khảo sát chính, đây là bước tiến quan trọng và sẽ cung cấp thông tin đầu vào cho việc xây dựng lộ trình hướng tới xã hội học tập Do sự tranh luận về chính sách giáo dục ở Việt Nam đã chuyển từ số lượng tiếp cận sang cải thiện chất lượng học tập, nên việc
có được các thông tin đáng tin cậy về tình trạng biết chữ phục vụ công tác lập kế hoạch và giám sát dựa trên minh chứng đã và đang trở nên ngày càng bức thiết Nguồn kinh phí cho khảo sát chính cần được xác định để hoàn thiện quy trình quan trọng này được bắt đầu từ năm 2007 và được quản lý bởi Ban dự án quốc gia bao gồm đại diện của Bộ GD&ĐT, Tổng cục thống kê và Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam Một tài liệu đề xuất huy động kinh phí đã được chuẩn bị cùng với sự phối hợp của Bộ GD&ĐT
x Các chuyên gia thống kê quốc gia của một số nước Nam và Đông Nam Á, trong đó có 2 chuyên gia của Bộ GD&ĐT Việt Nam, có khả năng sử dụng tốt hơn Danh mục Phân loại Giáo dục theo tiêu chuẩn quốc tế (ISCED) đã sửa đổi, một công cụ để tổng hợp, biên soạn và trình bày số liệu thống kê giáo dục ở cả cấp quốc gia và quốc tế, thông qua
x Phối hợp với Bộ GD&ĐT để xác định nguồn kinh phí cho việc triển khai khảo sát chính của LAMP làm cơ sở cho việc lên kế hoạch và tập trung hỗ trợ hướng tới
xây dựng xã hội học tập
x Triển khai thúc đẩy việc đưa Việt Nam gia nhập Mạng lưới Giám sát Chất lượng Giáo dục khu vực châu Á - Thái Bình Dương (NEQMAP)
Trang 13Giáo dục
Điều 3: (Tiếp)
Tiếp sau hội thảo khu vực tháng 9 năm 2012, Viện Thống kê UNESCO (UIS) đã phối hợp với Bộ GD&ĐT do Vụ Kế hoạch và Tài chính chủ trì và Tổng cục thống kê nhằm tài liệu hóa và báo cáo về số liệu thống kê giáo dục, phù hợp với Danh mục Phân loại giáo dục theo tiêu chuẩn quốc tế (ISCED) Kết quả sau chuyến làm việc này, UIS đã hiểu rõ hơn về những thách thức hiện tại mà Bộ GD&ĐT đang gặp phải trong việc tham gia tổng hợp số liệu thống kê giáo dục quốc tế, đồng thời UIS cũng hỗ trợ Việt Nam tăng cường năng lực thống kê của Bộ GD&ĐT để
có thể xây dựng bộ số liệu giáo dục có tính so sánh quốc tế Theo đó, Bộ GD&ĐT giờ đây có thể gửi ba bảng hỏi của UIS về giáo dục trước tiểu học và sau trung học, về tài chính giáo dục tiểu học và giáo dục đại học, để đảm bảo số liệu mới nhất có thể được đưa vào các ấn phẩm quốc tế chính năm 2013
Ngoài ra, UIS đã xác định ba thách thức chủ yếu cản trở việc tổng hợp các dữ liệu quốc gia và quốc tế về giáo dục bao gồm: ngôn ngữ, năng lực kỹ thuật và thông tin liên lạc về số liệu giữa các bộ Trong khi thách thức thứ
3 là một khó khăn cho UIS nếu muốn thực hiện bất kỳ hoạt động hỗ trợ nào, thì các giải pháp bước đầu đã được thực hiện để giải quyết hai trở ngại đầu tiên, chẳng hạn như phối hợp chặt chẽ với UNESCO Việt Nam để dịch các tài liệu quan trọng hỗ trợ thu thập dữ liệu UIS, trong đó đáng chú ý nhất là Hướng dẫn sử dụng ISCED
Hơn nữa, UIS sẽ tìm kiếm giải pháp tốt nhất có thể để hỗ trợ kỹ thuật cho Vụ Kế hoạch và Tài chính nhằm nâng cao năng lực báo cáo các dữ liệu giáo dục Cuối cùng, Vụ Kế hoạch và Tài chính và UIS đã nhất trí chọn Việt Nam là một quốc gia thí điểm trong các mô-đun khu vực mới về giáo viên ở cấp địa phương sẽ triển khai trong năm 2013
x Viện Quy hoạch Giáo dục Quốc tế (IIEP) đã tham gia một hội thảo tập huấn về "Chính sách và thực hành chống tham nhũng trong ngành giáo dục ở Việt Nam: mở đường cho cung cấp kết quả và giám sát tiến độ (Hà Nội, 11-13/10/2010) Hội thảo do Trung tâm Phòng chống tham nhũng (U4), Cơ quan Phát triển Bỉ (BTC) và IIEP đồng tổ chức Mục tiêu chính của hội thảo là: (i) xác định nguyên nhân và hậu quả của các hình thức tham nhũng phổ biến nhất trong lĩnh vực này, (ii) chia sẻ các công cụ và chiến lược đã được áp dụng trên thế giới nhằm cải thiện tính minh bạch và trách nhiệm trong lĩnh vực này, và (iii) hướng tới một chương trình nghị sự chống tham nhũng đáp ứng nhu cầu của ngành giáo dục ở Việt Nam Đại biểu tham dự hội thảo bao gồm các đại diện Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thanh tra Chính phủ, các đối tác phát triển, và các tổ chức xã hội dân sự tại Việt Nam Kết luận chính của hội thảo đã được trình bày trong Đối thoại chống tham nhũng lần thứ 8 vào tháng 10/2010
Trang 14Giáo dục
Điều 4: Tăng cường phân cấp quản lý hệ thống giáo dục và nâng cao năng lực của cán bộ quản lý giáo dục theo các cách tiếp cận mang tính hòa nhập trong việc lập kế hoạch giáo dục, thực hiện, giám sát và ra quyết định có cơ sở để đảm bảo chất lượng của các dịch vụ giáo dục, nhằm giảm
những cách biệt, đạt được bình đẳng giới và mở rộng cơ hội cho những bộ phận dân cư bị thiệt thòi
x Theo yêu cầu của Bộ GD&ĐT, UNESCO Việt Nam đã tích cực hỗ trợ xây dựng một chương trình tập huấn nâng cao năng lực lãnh đạo và quản lý giáo dục dành cho lãnh đạo các Cục, Vụ và cấp tương đương của Bộ GD&ĐT nhằm nâng cao năng lực thực hiện và quản lý các chính sách và kế hoạch toàn ngành giáo dục có tính nhạy cảm giới và hòa nhập, đồng thời đảm bảo công bằng trong tiếp cận giáo dục Phối hợp với Vụ Tổ chức Cán bộ thuộc
Bộ GD&ĐT và Học viện Quản lý Giáo dục, trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2012, có 5 khóa tập huấn đã được tổ chức, nâng cao năng lực quản lý và lãnh đạo cho đội ngũ quản lý giáo dục về những lĩnh vực chính sau:
(i) Lập kế hoạch chiến lược và quản lý dựa vào kết quả, (ii) Kỹ năng đàm phán và giao tiếp, (iii) Quản lý tài năng, (iv) Quản lý lập kế hoạch đồng tham gia và phát triển tổ chức, (v) Giảm thiểu rủi ro thảm họa và giáo dục trong tình trạng khẩn cấp (xem thêm nội dung báo cáo tại Điều 7 Bản ghi nhớ)
Nhu cầu tập huấn được dựa trên cơ sở một kịch bản/hồ sơ mong muốn đối với người cán bộ quản lý giáo dục
và kết quả của một đợt đánh giá tác phong công việc làm nền tảng cho việc xác định chương trình tập huấn gồm 14 học phần Các đợt tập huấn có sự tham gia của 75 Vụ, Cục trưởng và Phó Vụ, Cục trưởng của các Vụ, Cục trực thuộc Bộ GD&ĐT Trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2011, hai mô đun tập huấn đầu tiên được mở rộng cho 60 Giám đốc và Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo thuộc 57 tỉnh, thành phố Các học phần được tổ chức theo phương pháp cùng tham gia trong đó học viên phải tích cực, chủ động giải quyết vấn
đề trong học tập Sau mỗi đợt tập huấn, các cán bộ quản lý giáo dục đã xây dựng kế hoạch hành động tiếp theo những thay đổi trong tác phong công việc của bản thân Điều này được thực hiện dưới dạng cam kết thay đổi
mà những cán bộ quản lý, lãnh đạo các Cục, Vụ và tương đương của Bộ GD&ĐT sẽ thực hiện trong đơn vị mình với mục tiêu đạt được “tiêu chí mong muốn” về một hình ảnh người quản lý mẫu mực, đồng thời cải thiện tác phong trong công việc quản lý của mình
x Học viện Quản lý Giáo dục, một đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ GD&ĐT có trách nhiệm đào tạo, bồi dưỡng tất cả các cấp quản lý giáo dục, đã nâng cao kỹ năng lãnh đạo và quản lý các lớp tập huấn thông qua việc tham gia đầy đủ
và tích cực vào quy trình lập kế hoạch, triển khai và đánh giá tập huấn cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giáo dục cấp cao của trung ương và địa phương Các cán bộ tập huấn cấp cao của Học viện Quản lý Giáo dục đã luôn làm việc với các chuyên gia của UNESCO, đồng thời đã áp dụng các phương pháp tập huấn mới chẳng hạn như làm việc nhóm đồng tham gia, hoạt động đóng vai, nghiên cứu tình huống, quan sát thực tế, sử dụng các yếu tố xúc tác và phương pháp khích lệ, cũng như tập huấn qua công việc
x Huy động thêm nguồn kinh phí để hoàn tất việc triển khai các mô đun tập huấn cho cán bộ quản lý, lãnh đạo các Vụ, Cục và tương đương của Bộ GD&ĐT trong việc mở rộng nội dung tập huấn về giảm thiểu rủi ro thảm họa) và giáo dục trong tình trạng khẩn cấp cho đội ngũ cán
bộ quản lý giáo dục ở cấp
Sở
Trang 15Giáo dục
Điều 4: (Tiếp)
Một chương trình tập huấn về giới cho cán bộ lãnh đạo và quản lý giáo dục và bộ tài liệu tập huấn cho hướng dẫn viên đã được xây dựng trong khuôn khổ Chương trình chung về Bình đẳng giới giữa Liên Hợp Quốc và Chính phủ Việt Nam (JPGE) Chương trình tập huấn kéo dài 3 ngày được xây dựng với sự hỗ trợ kỹ thuật của Văn phòng Khu vực về Giáo dục châu Á và Thái Bình Dương của UNESCO tại Băng Cốc và được các chuyên gia về giới điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh Việt Nam Chương trình tập huấn nhằm nâng cao hiểu biết của cán bộ quản lý, lãnh đạo giáo dục ở cấp trung ương và địa phương về các khái niệm cũng như vấn đề về giới, tăng cường sự cam kết trong việc thúc đẩy bình đẳng giới cũng như năng lực trong việc phân tích và lồng ghép giới
Chương trình tập huấn về giới đã được thí điểm và đã tập huấn cho 140 cán bộ quản lý, lãnh đạo giáo dục tại các tỉnh của Việt Nam Kết quả phân tích từ bảng hỏi đánh giá trước và sau tập huấn cho thấy mức độ hiểu biết
về các khái niệm và vấn đề giới trong giáo dục của những người tham gia đã tăng lên và sự cam kết thúc đẩy bình đẳng giới trong môi trường giáo dục mạnh mẽ hơn
Những hoạt động này (đồng thời cũng bao gồm các hoạt động thuộc Điều 8 của Bản ghi nhớ) được thực hiện trong khuôn khổ Chương trình chung về Bình đẳng giới giữa Liên Hợp Quốc và Chính phủ Việt Nam được 12 cơ quan của Liên Hợp Quốc triển khai và tập huấn được tổng số 360 chuyên viên và cán bộ giáo dục (trong đó 36%
là nam giới), tăng cường hiểu biết về các vấn đề giới cũng như khả năng tiếp cận chương trình và thực tiễn đào tạo giáo viên mới và sáng tạo
x Kể từ tháng sáu năm 2012, 25 cơ quan giáo dục của Việt Nam đã nâng cao năng lực về công tác lập kế hoạch ngành giáo dục thông qua việc tham gia chương trình giáo dục từ xa của Viện Quy hoạch Giáo dục Quốc tế (IIEP) về Lập Kế hoạch ngành Giáo dục, được phát động trong 2 buổi lễ tổ chức tại Hà Nội (tại Học viện Quản lý Giáo dục và tại thành phố Hồ Chí Minh (tại Trường Cán bộ quản lý ngành giáo dục thành phố Hồ Chí Minh) Lễ khởi động tại Hà Nội có sự tham gia của Vụ phó Vụ Tổ chức cán bộ thuộc Bộ GD&ĐT, Cục trưởng Cục Nhà giáo
và Cán bộ Quản lý Cơ sở giáo dục thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giám đốc Học viện Quản lý Giáo dục, đại diện UNESCO, các tổ chức đào tạo và các nhà báo UNESCO Việt Nam đã hỗ trợ Bộ GD&ĐT trong việc xác định và thúc đẩy phối hợp với Học viện Quản lý Giáo dục tại Hà Nội và Trường Cán bộ quản lý ngành giáo dục thành phố Hồ Chí Minh-những cơ quan thường trực của chương trình này Đồng thời, UNESCO cũng đã giám sát chương trình bằng việc đi thị sát trong kỳ thi giữa kỳ vào ngày 31 tháng 10 tại cả hai cơ sở trên Chương trình kéo dài 11 tháng này, hiện nay đang được triển khai ở Indonesia, Thái Lan và Việt Nam sau hai lần thực hiện ở châu Phi, dưới sự tài trợ của J.P.Morgan và được tổ chức cùng với Khoa Sư phạm Trường Đại học Hồng Kông
Chương trình sẽ cấp cho những học viên hoàn thành theo yêu cầu một Chứng chỉ cao cấp về lập kế hoạch giáo dục Theo đó học viên sẽ tích lũy tín chỉ tiến tới chuyên ngành lập kế hoạch và quản lý giáo dục của IIEP, tạo cơ hội cho họ được học lên cao tại IIEP
x Các đàm phán tài trợ đang được tiến hành giữa J.P Morgan và IIEP để : (i)
tổ chức một buổi hội thảo chính sách cho các nhà hoạch định chính sách giáo dục cao cấp của Việt Nam, Thái Lan và Indonesia (có thể tổ chức ở Băng Cốc), (ii) cung cấp hỗ trợ kỹ thuật trong nước cho các
tổ chức đào tạo, bao gồm Học viện Quản lý Giáo dục tại Hà Nội và Trường Cán
bộ quản lý ngành giáo dục thành phố Hồ Chí Minh và (iii) hỗ trợ hoạt động do Trường Cán bộ quản lý ngành giáo dục thành phố
Hồ Chí Minh đề xuất dịch các tài liệu đào tạo về lập
kế hoạch ngành giáo dục sang tiếng Việt
Trang 16Giáo dục
Điều 4: (Tiếp)
Học viên theo học 6 mô đun: (i) Lập kế hoạch giáo dục: phương pháp, thách thức và khung tham chiếu quốc tế, (ii) Số liệu thống kê phục vụ công tác lập kế hoạch giáo dục, (iii) Điều tra phân tích ngành giáo dục, (iv) Lựa chọn
và xây dựng các mục tiêu và chiến lược chính sách nhằm cải thiện khả năng tiếp cận, bình đẳng và chất lượng trong giáo dục, (v) Dự báo và xây dựng kịch bản, và (vi) Giám sát và đánh giá kế hoạch toàn ngành giáo dục
x Là một phần của dự án "Minh bạch nhằm mục tiêu khuyến khích người nghèo”, 7 trường hợp nghiên cứu do IIEP
uỷ quyền về các kinh nghiệm sáng tạo đã được thực hiện ở Brazil, Campuchia, Ấn Độ, Peru, Nam Phi, Mỹ và Việt Nam được lựa chọn dựa trên các biến số khác nhau có thể ảnh hưởng đến mức độ minh bạch và trách nhiệm giải trình (ví dụ như nhóm mục tiêu so với phổ quát, có điều kiện so với không có điều kiện) Dự án phân tích ở Việt Nam là "Giáo dục tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn” (PEDC) Một phân tích so sánh và báo cáo tổng hợp
đã được xây dựng trên cơ sở 7 nghiên cứu trường hợp đã được công bố vào năm 2013 Các kết quả chính của nghiên cứu đã được thảo luận trong một hội thảo được tổ chức ở Brasilia (5-6 tháng 11 năm 2012)
Trang 17Giáo dục
Điều 5: Thúc đẩy và tăng cường học tập suốt đời trong khuôn khổ Thập kỷ Xóa mù chữ của Liên Hợp Quốc 2003 - 2012 và chiến lược của chính phủ về xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam 2011 - 2020, nhằm xóa mù chữ thông qua các chương trình xóa mù chữ cho tất cả mọi người, huy
động mạng lưới các trung tâm giáo dục thường xuyên và các trung tâm học tập cộng đồng
x Sau khi hoàn tất hoạt động phân tích tình hình học tập suốt đời (HTSĐ) ở Việt Nam và các cuộc tham vấn địa phương do một chuyên gia của UNESCO thực hiện, đã có các khuyến nghị về các mô hình xã hội học tập, cơ chế, phối hợp liên ngành, các vấn đề giới có liên quan, và mô hình tài chính để hỗ trợ nâng cao hiểu biết về khái niệm học tập suốt đời cũng như những thách thức hiện đang gặp phải ở trong nước Nghiên cứu này là một phần của hoạt động hỗ trợ chuyên môn cho Tổ thư ký Ban Chỉ đạo quốc gia xây dựng xã hội học tập do
Bộ GD&ĐT phụ trách
x Những khuyến nghị về nâng cao vai trò và trách nhiệm cho các Bộ, ngành hướng tới xây dựng xã hội học tập
được đưa vào Dự thảo Đề án xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2012-2020 là kết quả của hội thảo về Xác
định Vai trò và Trách nhiệm của các Bộ, Ngành trong việc xây dựng xã hội học tập, được tổ chức thông qua
nỗ lực chung của Ban Chỉ đạo xuốc gia xây dựng xã hội học tập, Viện Học tập Suốt đời UNESCO (UIL) và UNESCO Việt Nam Các cơ quan cấp cao của Chính phủ, đại diện của các tổ chức xã hội, chính trị, đoàn thể
và truyền thông đã tìm hiểu sự phát triển khái niệm học tập suốt đời trên trường quốc tế, đồng thời thảo luận những khuyến nghị về chính sách tại Việt Nam
x Tiếp thu những kết quả trong nghiên cứu phân tích tình hình HTSĐ ở Việt Nam, trong đó có việc cần nỗ lực nhằm thúc đẩy học tập suốt đời và đưa HTSĐ vào vị trí phù hợp với các chiến lược, văn hóa và truyền thống dân tộc, UNESCO và các đối tác đã thiết kế và phát động một cuộc triển lãm về tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh và học tập suốt đời Cuộc triển lãm này, được tổ chức nhờ sự hỗ trợ của Vụ Giáo dục Thường Xuyên thuộc Bộ GD&ĐT, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam và Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam, gồm gần
300 tư liệu, hiện vật trưng bày, phim, ảnh và có hơn 250.000 lượt khách tham quan Triển lãm được nhân rộng sang các bảo tàng ở tỉnh Cao Bằng, Nghệ An và Thành phố Hồ Chí Minh Cuộc triển lãm này được tổ chức lại một lần nữa khi phát động Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời lần đầu tiên ở Việt Nam (2-8 tháng
10 năm 2011) tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám với sự tham gia của Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT và các đại biểu cấp cao Trong sự kiện Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời lần thứ hai vào năm 2012, một lần nữa cuộc triển lãm được tỉnh Thừa Thiên-Huế tổ chức ở thành phố Huế có bổ sung thêm chủ đề về các nỗ lực của tỉnh trong xây dựng xã hội học tập
x Với nguồn kinh phí bổ sung được huy động từ Quỹ Kế hoạch Chung, UNESCO sẽ tiếp tục hỗ trợ xây dựng một lộ trình có sự tham vấn rộng rãi
về công tác xây dựng xã hội học tập sáng tạo, bền vững và hòa nhập UNESCO sẽ cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cho hoạt động xây dựng tầm nhìn ở cấp trung ương và cấp tỉnh để xác định tiêu chí mong muốn về
xã hội học tập ở Việt Nam, và tiêu chí mong muốn đối công dân học tập tích cực, và từ đó xây dựng Kế hoạch Hành động
để hiện thực hóa tầm nhìn đó UNESCO sẽ tiếp tục vận động cho mục tiêu này và vận động
sự tham gia và đóng góp có hệ thống của các tổ chức khác, đồng thời sẽ tiếp tục hỗ trợ chuyên môn cho Tổ thư ký Ban Chỉ đạo Quốc gia xây dựng xã hội học tập và Hội Khuyến học Việt Nam nhằm
hỗ trợ cho công cuộc xây dựng
xã hội học tập ở Việt Nam
Trang 18Giáo dục
Điều 5: (Tiếp)
x Các chuyên gia của Viện Học tập Suốt đời UNESCO (UIL), Bộ GD&ĐT và đội ngũ chuyên gia trong nước đã và đang phối
hợp xây dựng Cẩm nang về Xây dựng xã hội học tập – Cơ hội và trách nhiệm chung của mọi người cho các bên liên
quan chủ chốt đến HTSĐ nhằm giúp tạo ra và cung cấp các cơ hội HTSĐ Cuốn cẩm nay nang này được thiết kế sau một chuỗi các chuyến đi thực địa, tham vấn và các hội thảo được tổ chức ở cấp trung ương và cấp tỉnh nhằm đảm bảo tính phù hợp với nhu cầu thực tế của đất nước Cuộc tập huấn thí điểm về cách sử dụng cẩm nang, tăng cường năng lực cho
30 đại diện từ cơ quan quản lý giáo dục cấp trung ương, cấp tỉnh và địa phương đã được tổ chức, đồng thời cung cấp thông tin phản hồi để hoàn thiện chính thức dự thảo cẩm nang
x 97 chuyên gia quốc tế đã có cơ hội chia sẻ và thảo luận kinh nghiệm của họ về học tập suốt đời với hơn 300 nhà hoạch định chính sách, nhà giáo dục, chuyên gia và nhà nghiên cứu từ trung ương đến địa phương của Việt Nam, nêu bật những thực tiễn hay tại “Diễn đàn Việt Nam: Học tập suốt đời-Xây dựng xã hội học tập", do UNESCO tổ chức phối hợp với Hiệp hội các Trường Đại học nghiên cứu về học tập suốt đời thuộc Diễn đàn hợp tác Á–Âu (ASEM) và Bộ GD&ĐT
Đại diện cấp cao có mặt tại Diễn đàn gồm Phó Thủ tướng kiêm Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia xây dựng xã hội học tập, Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT, Đại sứ Đan Mạch tại Việt Nam, Giám đốc Văn phòng ILO tại Việt Nam, Giám đốc Văn phòng Khu vực về Giáo dục châu Á và Thái Bình Dương của UNESCO và Trưởng Đại diện Văn phòng UNESCO tại Việt Nam Kết quả của diễn đàn được được tổng hợp vào tài liệu tham khảo trong kỷ yếu và được chia sẻ với Ban Chỉ đạo quốc gia xây dựng xã hội học tập Kỷ yếu hội nghị cũng được trình bày tại Hội nghị Bộ trưởng Giáo dục ASEM lần thứ 3 tháng 5 năm 2011 ở Copenhaghen và phân phát cho các tác giả, nhà tài trợ, các học giả và những người tham gia diễn đàn Cuốn kỷ yếu đang được dịch sang tiếng Việt với kinh phí tài trợ từ Bộ GD&ĐT
x UNESCO đã hỗ trợ Bộ GD&ĐT, cụ thể là Vụ Giáo dục Thường xuyên và Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Không chính quy thuộc Viện KHGDVN xây dựng một bộ tiêu chí và quy trình để đánh giá hiệu quả của 11.000 trung tâm học tập cộng đồng (TTHTCĐ) trên khắp cả nước Đề xuất tự đánh giá này gồm các tiêu chí đánh giá dựa trên kết quả của các hội thảo tham vấn bao gồm các cuộc tham vấn cộng đồng và chuyến công tác thực tế tới các trung tâm này Bộ tiêu chí đánh giá này đã được Vụ Giáo dục thường xuyên thí điểm thêm ở 12 tỉnh chọn lọc và một số tỉnh đã xây dựng các bộ tiêu chí riêng bằng nhiều phương pháp khác nhau Vụ GDTX hiện đang dự kiến tiến hành đánh giá các TTHTCĐ vào tháng 10 năm 2013, trên cơ sở kinh nghiệm và các bài học thu được từ đợt thí điểm trên
x UNESCO đã hỗ trợ Bộ GD&ĐT tham gia và thuyết trình về những kết quả ban đầu trong quy trình xây dựng tiêu chí đánh giá TTHTCĐ tại Hội thảo Khu vực châu Á – Thái Bình Dương có chủ đề “Trung tâm Học tập Cộng đồng” được tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan năm 2011 với sự tham gia của đại diện 27 quốc gia Bộ GD&ĐT cũng tham dự hội thảo khu vực tương tự về HTSĐ cho mọi người năm 2012 Những sự kiện này được Văn phòng Khu vực về Giáo dục châu Á và Thái Bình Dương của UNESCO tổ chức đã tạo điều kiện cho Việt Nam tiếp xúc với các quốc gia khác có kinh nghiệm về vấn đề này
x Một bộ tài liệu hướng dẫn sẽ được xây dựng để tiến hành đánh giá tình hình của TTHTCĐ bằng cách sử dụng các tiêu chí
đã được kiểm nghiệm
Trang 19Giáo dục
Điều 5: (Tiếp)
x Trong khuôn khổ sáng kiến của Viện Học tập Suốt đời UNESCO (UIL) và Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, 15 nhà hoạch định chính sách của Bộ GD&ĐT, do Thứ trưởng Bộ GD&ĐT làm trưởng đoàn, đã nâng cao năng lực về quan điểm toàn cầu, nghiên cứu, chính sách và các thực tiễn tốt nhất về học tập suốt đời thông qua một chuyến tham quan học tập kéo dài 3 ngày tại Hamburg, Đức, trong đó họ đã trao đổi với UIL, các cơ quan của Chính phủ Đức, và các nhà trường địa phương về những kinh nghiệm về học tập suốt đời có thể triển khai áp dụng ở Việt Nam, bao gồm công tác đào tạo giáo dục, phát triển nhà trường, giáo dục không chính quy và các chương trình xóa mù chữ và thường thức cho các gia đình Chuyến tham quan học tập này được tổ chức kết hợp với chuyến thăm Đan Mạch của đoàn do Hiệp hội các trường Đại học nghiên cứu học tập suốt đời của ASEM và Bộ Giáo dục Đan Mạch tổ chức với kinh phí từ Dự án Giáo dục Phổ thông (Ngân hàng Thế giới)
x Tháng 9 năm 2012, một đề xuất các hoạt động nhằm hỗ trợ cho Ban Chỉ đạo quốc gia xây dựng xã hội học tập đã được trình lên Ủy ban Huy Động và Phân Bổ Tài Trợ Kế Hoạch Chung (OPFMAC) và UNESCO đã nhận được 90.660 USD để hỗ trợ cho Ban Chỉ đạo quốc gia xây dựng xã hội học tập và Tổ thư ký trong việc chủ trì đối thoại chính sách, nâng cao nhận thức cho các cơ quan cấp trung ương và địa phương cũng như các cuộc tham vấn cùng tham gia nhằm bước đầu xác định các tiêu chí mong muốn đối với công dân học tập và xã hội học tập của Việt Nam, đồng thời xác định những hoạt động ưu tiên để xây dựng và triển khai thực hiện đề án hướng tới tầm nhìn được đề ra về xã hội học tập hòa nhập, sáng tạo, và bền vững cho mọi người
x Với sự hỗ trợ của Văn phòng Khu vực về Giáo dục châu Á và Thái Bình Dương của UNESCO và UNESCO Việt Nam, với sự chủ trì của Vụ GDTX của Bộ GD&ĐT, Cẩm nang Giáo dục các bậc cha mẹ và Tài liệu hướng dẫn dành cho hướng dẫn viên đã được điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh Việt Nam nhằm củng cố và nâng cao chất lượng công tác giáo dục và chăm sóc trẻ thơ tại các trung tâm học tập cộng đồng của Việt Nam Các thực tiễn và nhu cầu hiện tại về giáo dục các bậc cha mẹ được xác định thông qua một bảng câu hỏi áp dụng tại 5 tỉnh, bao gồm các tỉnh có tỷ lệ cao người dân tộc thiểu số và cộng đồng sinh sống ở các làng vạn chài Cùng với Vụ Giáo dục Mầm non và Vụ GDTX của Bộ GD&ĐT, hai lớp tập huấn cán bộ cốt cán mỗi lớp kéo dài 4 ngày về giáo dục các bậc cha mẹ đã được tổ chức thông qua các TTHTCĐ: 63 cán bộ cốt cán (35 nữ và 28 nam) đã tiếp thu kỹ năng thông qua tập huấn cán bộ cốt cán, sau đó 386 cán bộ (228 nữ và 158 nam) đã tham dự các cuộc tập huấn phổ biến tiếp theo Các tỉnh đã tiếp thu mô hình này và tiếp tục phổ biến nhân rộng hơn nữa
x Bộ GD&ĐT đã cam kết đăng tải Cẩm nang Giáo dục các bậc cha mẹ và Tài liệu hướng dẫn dành cho hướng dẫn viên lên trang web của Bộ để hỗ trợ phổ biến trên phạm vi toàn
quốc
x UNESCO Băng Cốc sẽ tổ chức một hội thảo vào tháng 4 năm 2013 để tạo điều kiện cho Việt Nam và
6 quốc gia khác tham gia chia sẻ các thực tiễn tốt
và bài học kinh nghiệm rút ra từ quá trình triển khai bước đầu chương trình Giáo dục các bậc cha
mẹ và thảo luận về chiến lược đảm bảo sự bền vững và tiếp tục mở rộng
chương trình
Trang 20Giáo dục
Điều 5: (Tiếp)
x Ban Chỉ đạo quốc gia xây dựng xã hội học tập, Tổ thư ký và Bộ GD&ĐT đã được tiếp cận các thực tiễn quốc tế hay trong công cuộc xây dựng xã hội học tập thông qua một nghiên cứu so sánh do Viện Học tập Suốt đời UNESCO (UIL) thực hiện về xã hội học tập ở Nhật Bản, Singapore và Hàn Quốc Nghiên cứu này giúp bổ sung thông tin đầu vào tham khảo cho quá trình xây dựng Đề án xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2012-2020 của Việt Nam (xem nội dung tiếp theo đây)
x UNESCO đã hỗ trợ Ban Chỉ đạo quốc gia xây dựng xã hội học tập và Tổ thư ký tổ chức một hội thảo liên ngành nhằm thu thập những thông tin đầu vào cuối cùng để hoàn thiện Đề án xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2012-2020 của Việt Nam đồng thời cung cấp kỹ thuật cho công tác hoàn tất dự thảo để đệ trình lên các cấp lãnh đạo Hội thảo này
do Vụ GDTX,Bộ GD&ĐT và Hội khuyến học Việt Nam đồng chủ trì, với sự tham gia của các Bộ, ngành, đoàn thể liên quan, bao gồm Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Nội vụ, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
x UNESCO và UIL đã hỗ trợ cho Bộ GD&ĐT và các bên liên quan chủ chốt trong việc chuẩn bị và tổ chức sự kiện Tuần lễ học tập suốt đời tại Hà Nội vào tháng 10 năm 2011 Sự kiện này đã thúc đẩy cơ hội học tập suốt đời cho mọi người, với sự tham gia tích cực của các đơn vị cung ứng dịch vụ học tập suốt đời khác nhau, đồng thời nâng cao nhận thức
về ý nghĩa và tầm quan trọng của học tập suốt đời đối với các nhà hoạch định chính sách và những người làm thực
tế về học tập suốt đời Sự kiện này có sự tham gia của Phó Chủ tịch nước, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT và Phó Trưởng ban thường trực Ban Chỉ đạo xây dựng xã hội học tập, thể hiện một cam kết mạnh mẽ từ cấp cao
Là một phần của sự kiện Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời, Bộ GD&ĐT, UNICEF và UNESCO, với sự hỗ trợ của Văn phòng Khu vực về Giáo dục châu Á và Thái Bình Dương của UNESCO , đã phối hợp tổ chức một Diễn đàn có chủ đề Học cách chơi cùng bé nhằm nâng cao nhận thức của các bậc cha mẹ về cách làm các đồ chơi tại nhà một cách ít hoặc không tốn kém và thân thiện với môi trường, đồng thời chơi cùng con cái Năm 2012, cả 63 tỉnh, thành trong cả nước đã tổ chức sự kiện Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời dưới sự chỉ đạo và điều phối của Ban Chỉ đạo xây dựng
xã hội học tập, Bộ GD&ĐT và Tổ thư ký
x UNESCO tham dự kỷ niệm ngày Sách và Bản quyền Thế giới do Vụ Thư Viện, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các trường đại học, thư viện tỉnh, thành phố và địa Phương Tham dự sự kiện này còn có đại diện của Ban Tuyên giáo Trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ giáo dục và Đào tạo, Bộ Thông tin và Truyền thông, Trung ương Đoàn TNCSHCM, bạn đọc ở mọi lứa tuổi, các nhà hoạch định chính sách, cán bộ thư viện và nhà nghiên cứu Đại diện của UNESCO Việt Nam đã có bài phát biểu tại lễ khai mạc với nội dung nâng cao nhận thức của công chúng về ý nghĩa của việc biết chữ và đọc sách đối với hoàn thiện bản thân, phát triển xã hội và thực hiện các quyền cơ bản của con người
Trang 21Giáo dục
Điều 6: Hỗ trợ thực hiện Thập kỷ Giáo dục vì Phát triển Bền vững của Liên Hợp Quốc (2005 - 2014) nhằm định hướng lại giáo dục chính quy và không chính quy cũng như các chương trình dạy và học ở mọi cấp và tăng cường năng lực tích hợp giáo dục vì sự phát triển bền vững nhằm giải
quyết một cách có hiệu quả các vấn đề đang nổi lên liên quan đến phát triển bền vững, đặc biệt là sự thích ứng và giảm thiểu biến đổi khí hậu
x Chương trình tập huấn giáo dục vì sự phát triển bền vững cho giáo viên, học sinh, phụ huynh và các thành viên cộng đồng đã được tổ chức thông qua việc triển khai Giai đoạn 2 của Chương trình "Khu dự trữ sinh quyển – An ninh kinh tế và môi trường" (BREES) (xem thêm nội dung báo cáo tại Điều 14 của Bản ghi nhớ)
x UNESCO Việt Nam đã nhận được kinh phí của Quỹ Tín thác Nhật Bản (JFIT), thuộc chương trình BREES trọng điểm trong khu vực của UNESCO Jakarta, trong đó chú trọng đến công tác ứng phó biến đổi khí hậu và giảm nghèo của khu vực dài hạn, để triển khai giai đoạn 3 của chương trình BREES dự kiến diễn ra tại các tỉnh thuộc Khu Dự trữ Sinh quyển châu thổ đồng bằng sông Hồng (xem thêm nội dung báo cáo tại Điều 14 của Bản ghi nhớ)
x Tiếp thu ý kiến của cơ quan thường trực về biến đổi khí hậu của Bộ GD&ĐT, Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, UNESCO Việt Nam đã hỗ trợ chuyên môn quốc tế và trong nước cho xây dựng Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu ngành Giáo dục giai đoạn 2011 - 2015, một kết quả lớn trong việc ghi nhận tiềm năng của hệ thống giáo dục ứng phó các thách thức của biến đổi khí hậu Hoạt động này được thực hiện bằng việc tham gia các hội nghị Ban chỉ đạo kế hoạch hành động và nhóm công tác kỹ thuật có trách nhiệm dự thảo kế hoạch Các Bộ phận Khoa học Tự nhiên và Giáo dục ở UNESCO Pari và các Văn phòng khu vực tại Băng Cốc và Jakarta đã cung cấp thông tin đầu vào kỹ thuật cho quá trình này Kế hoạch hành động được xây dựng theo tinh thần của Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày 02 tháng 12 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, trong đó quy định “ứng phó biến đổi khí hậu là trách nhiệm của toàn thể hệ thống chính trị, xã hội, các ngành, các tổ chức ở tất cả các cấp và mọi cá nhân”, đồng thời được định hướng bởi nguyên lý phát triển bền vững Theo đó, Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu yêu cầu tất cả các bộ ngành phải xây dựng và thực hiện kế hoạch hành động
x Bộ tài liệu đa phương tiện Dạy và Học vì một Tương lai Bền vững của UNESCO (TLSF) đã được dịch sang tiếng
Việt và điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh của Việt Nam Bản tiếng Việt chính thức bao gồm 27 mô đun với hơn 100 giờ thực hành phát triển chuyên môn, bao gồm các nghiên cứu điển hình và ví dụ cụ thể theo bối cảnh cho Việt Nam, để sử dụng trong các khóa đào tạo giáo viên cũng như bồi dưỡng cho các đối tượng giáo viên, cán
bộ xây dựng chương trình, các nhà hoạch định chính sách giáo dục và tác giả của các tài liệu về giáo dục Nhóm công tác kỹ thuật của dự án cũng đã xây dựng một tài liệu hướng dẫn bổ sung để hỗ trợ các giảng viên sư phạm
và giáo viên của Việt Nam trong việc sử dụng tài liệu giáo dục vì sự phát triển bền vững trong lớp học
x Triển khai thực hiện Giai đoạn 3 của Chương trình
"Khu dự trữ sinh quyển –
An ninh kinh tế và môi trường" (BREES) (xem thêm nội dung báo cáo tại Điều 14 của Bản ghi nhớ)
Trang 22Giáo dục
Điều 6: (Tiếp)
Trong quá trình điều chỉnh đặc biệt chú trọng đến vấn đề lồng ghép giới bao gồm các vấn đề về giới đặc biệt trong bối cảnh của Việt Nam (chẳng hạn, kiến thức bản địa của phụ nữ dân tộc thiểu số), đồng thời cung cấp các công cụ để sử dụng các chỉ số nhằm xác định những thông tin có thể giúp giáo viên phối hợp tốt hơn với học sinh trong việc giải quyết các vấn đề về bình đẳng và công bằng giới Quy trình này được xây dựng với sự hỗ trợ của Văn phòng Khu vực về Giáo dục châu Á và Thái Bình Dương của UNESCO, Chương trình Đổi mới giáo dục cho phát triển khu vực châu Á-Thái Bình Dương (APEID) và Ban thư ký Thập kỷ vì sự phát triển bền vững (DESD) tại UNESCO Pari Bộ tài liệu TLSF chính thức được Bộ GD&ĐT thông qua làm nguồn tài liệu đào tạo giáo viên chính quy Các giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục thuộc 5 tỉnh thí điểm đã nâng cao năng lực thông qua tham gia tập huấn tích hợp các chủ đề và phương pháp Giáo dục vì sự phát triển bền vững và Dạy và Học vì một tương lai bền vững vào kế hoạch bài giảng TLSF đã được sử dụng làm công cụ chính để đào tạo, bồi dưỡng giáo viên trong Giai đoạn 2 của Chương trình BREES, đồng thời sẽ tiếp tục được sử dụng trong Giai đoạn 3
Bổ sung cho bộ tài liệu TLSF, UNESCO-APEID đã tổ chức hội thảo về Tái định hướng đào tạo giáo viên chất lượng hướng tới Giáo dục cho mọi người (GDCMN) và Giáo dục vì sự Phát triển bền vững (GDPTBV) trong tháng 6 năm
2011 ở Vịnh Hạ Long Hội thảo do JFIT hỗ trợ, được tổ chức dưới sự phối hợp giữa UNESCO Việt Nam, IBE, Bộ GD&ĐT và Trung tâm Nghiên cứu & Xúc tiến Giáo dục vì sự Phát triển bền vững (CEREPROD) Trong hội thảo, 70 giảng viên và giáo viên tham gia đã nâng cao năng lực trong việc tích hợp GDCMN và các nguyên tắc GDPTBV vào chương trình giảng dạy và tài liệu giảng dạy, các đại biểu được nghe giới thiệu sáu vấn đề chuyên đề: bảo vệ môi trường, biến đổi khí hậu, giáo dục nhân quyền, sự hiểu biết giữa các nền văn hóa, nhạy cảm giới và đa ngôn ngữ giáo dục Ba mô-đun do IBE chuẩn bị về biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường và nhạy cảm giới đã được dịch ra tiếng Việt và chia sẻ với các đại biểu tham gia hội thảo
cách tiếp cận rộng hơn và liên quan mật thiết đến nhau trong Giáo dục vì sự Phát triển bền vững (GDPTBV) tại Hội nghị Quốc gia về Giáo dục ứng phó biến đổi khí hậu: “Chia sẻ kinh nghiệm và tăng cường hợp tác nhằm hỗ trợ công tác giáo dục ứng phó biến đổi khí hậu ở Việt Nam”, do Bộ GD&ĐT, các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế phối hợp với Liên Hợp Quốc tổ chức tại Hà Nội vào tháng 3 năm 2011 Sự tham gia này là một
lưới các trường liên kết (ASPnet) và làm việc với Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam, và các cán bộ của Văn phòng UNESCO tại Việt Nam
Trang 23Giáo dục
Điều 6: (Tiếp)
x Diễn đàn Giáo dục vì sự Phát triển bền vững, với sự chỉ đạo của Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam và UNESCO Việt Nam, với sự tham gia của một nhóm các chuyên gia từ nhiều ngành khác nhau, cũng như các cơ quan, tổ chức công và tư nhân, đã xây dựng Kế hoạch hành động quốc gia Giáo dục vì Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2010-2014, trong đó nêu: i) xây dựng các khóa học trực tuyến về Giáo dục vì sự Phát triển bền vững cho giáo viên, ii) tổ chức các hoạt động nâng cao nhận thức cho các trường học và báo giới rộng rãi hơn; và iii) tăng cường sự hợp tác và liên kết giữa các bên liên quan ở địa phương Kế hoạch hành động này được Ủy ban về Thập kỷ GDPTBV của Việt Nam, với thành phần bao gồm Bộ Ngoại giao, Bộ GD&ĐT, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nội vụ, Bộ Tài nguyên và Môi trường,
Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính, Văn phòng Chính phủ và nhiều cơ quan liên quan khác, đảm bảo một môi trường thuận lợi để tích hợp nội dung Giáo dục vì sự Phát triển bền vững vào xã hội học tập được định hướng ở Việt Nam
Tháng 9 năm 2012, Ủy ban về Thập kỷ giáo dục vì sự phát triển bền vững của Việt Nam và Diễn đàn Giáo dục vì
sự Phát triển bền vững đã tổ chức một cuộc họp kiểm điểm tiến độ thực hiện Kế hoạch hành động quốc gia Giáo dục vì Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2010-2014, đồng thời hỗ trợ chia sẻ kiến thức và thực tiễn về giáo dục vì sự phát triển bền vững của các bên liên quan, cũng như tăng cường hiểu biết toàn diện và triển khai các hoạt động giáo dục vì sự phát triển bền vững trong nhiều lĩnh vực khác nhau Hội thảo quy tụ các bên liên quan chủ chốt Trung tâm Nghiên cứu và Giáo dục Môi trường (CERE), Đại học Sư phạm Hà Nội, và Ủy ban Quốc gia Chương trình Con người và Sinh quyển Việt Nam (MAB Việt Nam) đã trình bày các cách tiếp cận sáng tạo đối với giáo dục vì sự phát triển bền vững, dựa trên kinh nghiệm của Chương trình BREES tại Việt Nam, giáo dục vì sự phát triển bền vững trong học tập suốt đời, cũng như những ví dụ về sự tham gia của cộng đồng hướng tới nền kinh tế xanh và xã hội xanh Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam và Trung tâm Sống và Học tập đã chú trọng vai trò nòng cốt của thanh niên trong việc thúc đẩy và triển khai các hoạt động liên quan đến giáo dục vì sự phát triển bền vững Hội thảo này do Chủ tịch Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam kiêm Thứ trưởng Bộ Ngoại giao chủ trì đã nêu bật sự cần thiết phải lồng ghép giáo dục vì sự phát triển bền vững vào cả giáo dục chính quy và không chính quy Việc xây dựng tài liệu thông tin, giáo dục và truyền thông, đặc biệt là thông qua truyền thông, được trình bày tại Diễn đàn, được xem là một kênh quan trọng để thúc đẩy giáo dục vì sự phát triển bền vững
x Các Văn phòng UNESCO tại Việt Nam, Jakarta, Băng Cốc và Diễn đàn Ứng phó Biến đổi Khí hậu của UNESCO (ED/UNP/DESD và Bộ phận Khoa học) đã hỗ trợ xây dựng học liệu về “Giáo dục Ứng phó Biến đổi Khí hậu vì sự Phát triển Bền vững” cho giáo dục chính quy và không chính quy làm phương tiện nâng cao nhận thức cho người học là người lớn và công chúng tại Việt Nam
Trang 24Giáo dục
Điều 6: (Tiếp)
Năng lực của các hướng dẫn viên tại hơn 100 trung tâm học tập cộng đồng đã tăng cường để sử dụng học liệu nhằm nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậu tại các trung tâm học tập cộng đồng (TTHTCĐ) tương ứng Theo đó, 2.075 hướng dẫn viên tại 105 TTHTCĐ thuộc 5 tỉnh đã được tập huấn về “hiểu biết và thích ứng biến đổi khí hâu”.Dựa trên thông tin phản hồi thu được trong các đợt tập huấn này, một tài liệu hướng dẫn đã được soạn thảo làm công cụ hỗ trợ xây dựng kế hoạch hành động cộng đồng Tài liệu này đã được xuất bản và sử dụng trong quá trình xây dựng Kế hoạch Hành động cộng đồng ứng phó với biến đổi khí hậu Khu Bảo tồn sinh quyển thế giới Cát Bà, đồng thời sẽ được sử dụng làm cơ sở để xây dựng các sáng kiến tương tự cho các cộng đồng ở Khu Bảo tồn sinh quyển Huế và Đồng bằng Sông Hồng (xem thêm nội dung báo cáo tại Điều 16 của Bản ghi nhớ) Ngoài tài liệu hướng dẫn kể trên, hai tư liệu đã được xây dựng và phát sóng tới đông đảo các tầng lớp nhân dân: (i) một đoạn phim tư liệu dài 20 phút được phát sóng trên kênh truyền hình trung ương có tựa đề “Biến đổi khí hậu và kế hoạch hành động cộng đồng” và (ii) một bản tin về “Tài liệu hóa các hành động giảm nhẹ và thích ứng biến đổi khí hậu ở cấp cộng đồng tại Việt Nam” Với sự hỗ trợ của UNESCO, Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Bộ GD&ĐT sử dụng các bảng câu hỏi đánh giá nhanh để ghi lại những trải nghiệm trong công tác giảm nhẹ và thích ứng biến đổi khí hậu ở cấp cộng đồng của Việt Nam Kết quả đánh giá xác định được mức độ hiểu biết của các cộng đồng địa phương cũng như những hoạt động mà họ xúc tiến để ứng phó biến đổi khí hậu Các bảng hỏi cũng cung cấp các thông tin có giá trị về mức độ hiệu quả của tài liệu hướng dẫn trong công tác xử lý các vấn đề biến đổi khí hậu Thông tin này được sử dụng để điều chỉnh và cải thiện nội dung tài liệu
bền vững trên phạm vi toàn quốc thông qua dự án Giáo dục vì sự Phát triển bền vững Samsung-UNESCO, qua đó góp phần hình thành xã hội có khả năng thích ứng và bền vững hơn bằng việc tạo ra một môi trường thuận lợi để thúc đẩy giáo dục vì sự phát triển bền vững Dự án kéo dài 2 năm này sẽ góp phần hiện thực hóa tầm nhìn quốc gia về xã hội học tập tại Việt Nam Sử dụng hình thức học tập trực tuyến và học tập hỗn hợp để nâng cao năng lực, dự án liên ngành này sẽ chú trọng đến (i) nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên nhằm bối cảnh hóa và tích hợp nội dung giáo dục vì sự phát triển bền vững vào các thực tiễn nhà trường thông qua xây dựng, thử nghiệm và phổ biến các tài nguyên giáo dục mở về giáo dục vì sự phát triển bền vững; (ii) nâng cao nhận thức về giáo dục vì
sự phát triển bền vững cho hiệu trưởng nhà trường, phụ huynh học sinh và các cơ quan trung ương và địa phương thông qua một quy trình cùng tham gia nhằm góp phần vào một môi trường thuận lợi để lồng ghép nội dung giáo dục vì sự phát triển bền vững; (iii) nâng cao nhận thức của truyền thông về giáo dục vì sự phát triển bền vững; và (iv) tài liệu hóa các bài học thu được và xây dựng các nội dung khuyến nghị để tham khảo trong quá trình đẩy mạnh lồng ghép nội dung giáo dục vì sự phát triển bền vững tại Việt Nam và cấp độ toàn cầu Đề xuất
dự án này được xây dựng phối hợp với Bộ phận Giáo dục vì sự Phát triển bền vững ở UNESCO Pari, các Văn phòng UNESCO ở Băng Cốc, Jakarta và Việt Nam (xem thêm nội dung báo cáo tại Điều 16 của Bản Ghi nhớ)
x Triển khai dự án giáo dục vì sự phát triển bền vững Samsung-UNESCO
và đảm bảo mô hình
thành công
Trang 25Giáo dục
Điều 7: Tăng cường năng lực sẵn sàng ứng phó của ngành giáo dục đối với thiên tai và các rủi ro khác cũng như năng lực ứng phó của ngành giáo dục trong những trường hợp khẩn cấp, bằng cách xây dựng chuẩn quốc gia và các hướng dẫn dựa trên chuẩn mực quốc tế, hỗ trợ việc tự đánh giá của các
trường và thông qua việc tăng cường khả năng ứng phó của cộng đồng giáo dục
x Dưới sự chủ trì của Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Bộ GD&ĐT, cùng với sự hỗ trợ của UNESCO, Tài liệu Tiêu chuẩn giáo dục trong tình trạng khẩn cấp: Phòng ngừa, Ứng phó, Phục hồi của Liên minh Giáo dục trong tình trạng khẩn cấp (INEE)
đã được dịch đang tiếng Việt và điều chỉnh cho phù hợp với Việt Nam, có tham khảo ý kiến của 50 đại diện thuộc các đơn vị chức năng của Bộ GD&ĐT và các ban ngành chủ chốt khác, cũng như các bên liên quan đến công tác phòng ngừa và ứng phó thảm họa, đại diện của các cơ quan Liên Hợp Quốc cũng như các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế Tài liệu hướng dẫn hoàn chỉnh đã được xây dựng nhằm hỗ trợ tốt hơn nữa cho công tác áp dụng các tiêu chuẩn vào Việt Nam
x Một sự kiện nhằm thúc đẩy Giảm thiểu Rủi ro Thảm họa và Giáo dục trong tình trạng khẩn cấp được Thứ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo chủ trì do UNESCO phối hợp với INEE, Bộ GD&ĐT, UNICEF và Tổ chức Cứu trợ Trẻ em tổ chức với sự có mặt của hơn 90 đại biểu trong đó những cơ quan tham gia chính có bài trình bày tham luận về lĩnh vực tương ứng Sự kiện này cũng trùng hợp với Hội nghị Nhóm Công tác Thường niên của INEE, giúp các thành viên của INEE có cơ hội tham dự sự kiện chia sẻ kinh nghiệm, các thực tiễn hay quốc tế, đồng thời nâng cao nhận thức của họ về nỗ lực của Việt Nam trong công tác giáo dục trong tình trạng khẩn cấp
x Thông qua quy trình tham vấn rộng rãi các bên liên quan, một công cụ tự đánh giá của nhà trường nhằm xác định, ghi nhận và giải quyết những hiểm họa và nguy cơ trong trường học, cùng với sự tham gia của cộng đồng địa phương như một chiến lược giảm thiểu rủi ro thảm họa đã được xây dựng, đồng thời đã được thử nghiệm tại 10 trường ở Hà Nội và Huế Hoạt động thử nghiệm này cho thấy nhiều thông tin sâu làm cơ sở cho việc chỉnh sửa công cụ tự đánh giá Dưới sự chủ trì của Vụ Công tác học sinh, sinh viên thuộc Bộ GD&ĐT và với sự hỗ trợ của UNESCO, các đơn vị chức năng của Bộ GD&ĐT, chính quyền địa phương, các tổ chức trong nước và quốc tế, giáo viên, hiệu trưởng nhà trường, học sinh và phụ huynh đã tham gia thẩm định
và thử nghiệm công cụ với sự tham gia của Ban chỉ huy phòng chống lụt bão, Hội phụ nữ và Đoàn thanh niên ở địa phương
Trong suốt quá trình thử nghiệm, những người tham gia đã xây dựng một ý thức làm chủ công cụ, đồng thời cung cấp thông tin phản hồi và khuyến nghị để hoàn thiện bộ công cụ Chẳng hạn, hiệu trưởng của Trường Trung học cơ sở Yên Sở tại Hà Nội,
đã đề xuất một kỹ thuật vẽ bản đồ hiểm họa thông qua tính năng Google Maps (bản đồ trên google) để nắm rõ và đánh giá môi trường xung quanh nhà trường, theo đó xác định được những nguy cơ tiềm tàng đối với nhà trường Vì hầu hết các nhà trường ở Việt Nam đều có máy tính, truy cập Internet và có máy chiếu, nên việc áp dụng phương pháp này để đánh giá bản
đồ nhà trường cũng là một phương pháp hiệu quả để thu hút sự quan tâm của học sinh trong việc tìm hiểu về công nghệ thông tin và truyền thông nhờ có những nội dung cụ thể và thiết thực Dưới sự chủ trì của Cục Cơ sở vật chất và Thiết bị trường học, đồ chơi trẻ em thuộc Bộ GD&ĐT, công cụ tự đánh giá này hiện đang trong quá trình chỉnh sửa lần cuối và giai đoạn thử nghiệm lần thứ hai hiện sắp được thực hiện nhằm thể chế hóa công cụ để áp dụng đồng loạt trên phạm vi toàn quốc UNESCO là đơn vị chủ trì quy trình với việc hoàn tất biểu mẫu và tài liệu hướng dẫn giúp cho các trường có thể xây dựng kế hoạch phòng ngừa dựa trên kết quả của hoạt động tự đánh giá
x Huy động kinh phí để cho
ra ấn phẩm tài liệu hướng dẫn cho Việt Nam về cách
áp dụng các tiêu chuẩn tối thiểu
x Thực hiện giai đoạn thí điểm thứ hai bộ công cụ tự đánh giá tại các nhà trường
ở Huế và Hà Nội, hoàn thiện công cụ để chính thức công nhận và phổ biến rộng rãi trên phạm vi toàn quốc, đồng thời thiết kế phương pháp thử nghiệm giúp xây dựng Kế hoạch phòng chống thảm họa của nhà trường
x Tiếp tục hỗ trợ Trung tâm Nghiên cứu và đào tạo về biến đổi khí hậu và giảm thiểu rủi ro thuộc Học viện Quản lý giáo dục xây dựng một Kế hoạch hành động
và các đề xuất dự án
x Hỗ trợ Trung tâm của Học viện Quản lý giáo dục trong việc tích hợp nội dung biến đổi khí hậu và giảm thiểu rủi ro vào chương trình đào
tạo của Viện
Trang 26Giáo dục
Điều 7: (Tiếp)
x Một mô đun tập huấn và cẩm nang bổ sung về giảm thiểu rủi ro thảm họa và quản lý rủi ro thảm họa dành cho hiệu trưởng nhà trường nhằm tích hợp nội dung phòng chống thảm họa vào các hoạt động nhà trường đã được UNESCO
và Học viện Quản lý Giáo dục phối hợp xây dựng, qua đó năng lực của cán bộ của Học viện Quản lý Giáo dục được tăng cường Năm 2011, 36 hiệu trưởng và phó hiệu trưởng (18 nam và 18 nữ) tại Hà Nội và Thừa Thiên-Huế đã được tập huấn về tài liệu này
x Với sự hỗ trợ của UNESCO, năm 2012, Học viện Quản lý Giáo dục đã thành lập Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo về biến đổi khí hậu và giảm thiểu rủi ro trực thuộc Học viện Học viện Quản lý Giáo dục là đơn vị sự nghiệp duy nhất được
Bộ GD&ĐT giao trách nhiệm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục và hiệu trưởng ở tất cả các cấp trong ngành giáo dục (trên 10.000 lượt người một năm), và đã và đang là đối tác trong nước chính của UNESCO trong lĩnh vực nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý giáo dục và giảm thiểu rủi ro thảm họa kể từ năm 2009 Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược quốc gia phòng chống và giảm nhẹ thiên tai của ngành Giáo dục giai đoạn 2011 – 2020, được thông qua hồi tháng 9 năm 2011, đã xác định sự cần thiết phải ưu tiên nâng cao năng lực nhằm triển khai Chiến lược quốc gia một cách tốt hơn Học viện Quản lý Giáo dục và Trung tâm Nghiên cứu và đào tạo về biến đổi khí hậu và giảm thiểu rủi ro theo đó sẽ chú trọng đến việc thể chế hóa các nghiên cứu và nỗ lực đào tạo nhằm tiến hành tập trung, bồi dưỡng cho các cán bộ quản lý giáo dục, sinh viên và hiệu trưởng trường phổ thông về lĩnh vực biến đổi khí hậu và giảm thiểu rủi ro thảm họa, trên cơ sở kinh nghiệm của Học viện trong lĩnh vực này
phòng UNESCO xây dựng, huy động được 285.000 USD, từ Chương trình hỗ trợ liên ngành của UNESCO cho các quốc gia hậu xung đột và hậu thiên tai và Diễn dàn liên ngành về sự đóng góp của UNESCO cho công tác giảm nhẹ và thích ứng biến đổi khí hậu Chương trình này nhằm mục đích tăng cường năng lực liên ngành tại Việt Nam hướng tới phòng ngừa và ứng phó thảm họa toàn diện cũng như thích ứng biến đổi khí hậu thông qua các kế hoạch hành động cộng đồng, và góp phần xây dựng Đề án giảm thiểu rủi ro thảm họa toàn diện với các nội dung chính sau đây: (i) thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng kế hoạch phòng ngừa thảm họa cho nhà trường; (ii) tăng cường năng lực của truyền thông nhằm thực hiện công tác truyền thông hiệu quả các thông tin liên quan tới phòng ngừa thảm họa;
(iii) tăng cường khả năng chống chịu trước các thảm họa môi trường tại các khu di sản của UNESCO; (iv) thúc đẩy sử dụng dữ liệu vệ tinh cho công tác ra quyết định dựa trên minh chứng; (v) thúc đẩy hợp tác đa ngành để phòng ngừa thảm họa hiệu quả ở cấp cộng đồng và; (vi) xây dựng kế hoạch hành động cộng đồng để phòng ngừa, ứng phó thảm họa và thích ứng biến đổi khí hậu Chương trình này sẽ được thực hiện tại tỉnh Thừa Thiên-Huế, tỉnh duyên hải thường chịu tác động của lũ lụt Nội dung tài liệu được xây dựng thông qua chương trình này sẽ được phổ biến rộng rãi để tiếp cận các nhà trường và cộng đồng trên phạm vi toàn quốc
x Xây dựng một khóa đào tạo về giảm nhẹ rủi ro thảm họa và thích ứng biến đổi khí hậu và phổ biến tới tất cả các cán bộ giáo dục của Việt Nam
x Triển khai một dự án liên ngành về phòng ngừa, ứng phó thảm họa và thích ứng biến đổi khí
hậu
Trang 27Giáo dục
Điều 7: (Tiếp)
x Tháng 9 năm 2011, với sự hỗ trợ của UNICEF và UNESCO, Bộ GD&ĐT đã thông qua Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược quốc gia phòng chống và giảm nhẹ thiên tai của ngành Giáo dục, giai đoạn 2011 – 2020
x Tháng 9 năm 2012, 43 cán bộ lãnh đạo của các Vụ/Cục trực thuộc Bộ GD&ĐT và các cán bộ nghiên cứu, giảng viên của Học viện Quản lý Giáo dục tăng cường năng lực và hiểu biết về vai trò của họ là các nhà hoạch định chính sách thông qua một khóa tập huấn theo nhu cầu về giảm thiểu rủi ro thảm họa và giáo dục trong tình trạng khẩn cấp do UNESCO Việt Nam tổ chức, phối hợp với Bộ GD&ĐT, Học viện Quản lý Giáo dục, Liên minh Giáo dục trong tình trạng khẩn cấp (INEE) và Văn phòng Khu vực về Giáo dục châu Á và Thái Bình Dương của UNESCO tại Băng Cốc
Nội dung tập huấn được thiết kế thông qua nỗ lực hợp tác giữa Bộ GD&ĐT, UNESCO Việt Nam và Công ty Tư vấn Osman Công ty Tư vấn Osman được thành lập dưới sự chỉ đạo của ông Moustafa Osman, một chuyên gia quản lý thảm họa, đồng thời là một giảng viên thỉnh giảng về quản lý thảm họa tại Trường Đại học Birmingham Ông Moustafa được lựa chọn làm chuyên gia tư vấn để tổ chức tập huấn nhờ có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý rủi ro thảm họa và phục hồi nhân đạo hậu xung đột Ông đã tổ chức tập huấn trên 30 quốc gia, đồng thời cũng là một cán bộ tập huấn nguồn về Tiêu chuẩn giáo dục trong tình trạng khẩn cấp: Phòng ngừa, Ứng phó, Phục hồi của INEE và Hiến chương Nhân đạo và các Tiêu chuẩn tối thiểu trong cứu trợ nhân đạo (SPHERE) cho nhiều quốc gia bằng tiếng Anh và tiếng Ả-rập
Khóa tập huấn có sự tham gia của 2 Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, đó là: Thứ trưởng Trần Quang Quý, phụ trách lĩnh vực phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro thảm họa và biến đổi khí hậu; và Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển, là người cùng với UNESCO đồng chủ trì cả Nhóm Điều phối Chương trình Giáo dục của LHQ và Chính phủ Việt Nam và Nhóm Công tác Ngành Giáo dục quy tụ các cơ quan của chính phủ, các nhà tài trợ song phương và đa phương và các tổ chức phi chính phủ quốc tế, với mong muốn hài hòa hóa và thống nhất hiệu quả viện trợ trong ngành giáo dục Sự có mặt của hai vị Thứ trưởng và lĩnh vực phụ trách tương ứng của họ đã nêu bật tầm quan trọng của công tác điều phối nội
bộ khi ra quyết định ở tầm quốc gia về phòng chống, ứng phó thảm họa và thích ứng biến đổi khí hậu
Cũng tại khóa tập huấn, các đại biểu đã cùng nhau thảo luận về Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược quốc gia phòng chống và giảm nhẹ thiên tai của ngành Giáo dục giai đoạn 2011 – 2020, được thông qua một năm trước đó, và những tiềm năng của Kế hoạch trong việc thể chế hóa nội dung giảm thiểu rủi ro thảm họa ở Việt Nam Thông qua bài tập thực hành, đại biểu đã được yêu cầu lựa chọn một lĩnh vực chủ chốt trong Kế hoạch hành động và phát triển thành kế hoạch công tác khả thi trong đó thể hiện kết quả mong muốn, hoạt động, nguồn lực cần thiết, những thông tin về địa bàn thực hiện, ai thực hiện và khi nào thực hiện Trong khuôn khổ thời gian hạn hẹp, đại biểu đã xây dựng các kế hoạch chi tiết và khả thi về cơ sở hạ tầng an toàn ở Đồng bằng sông Cửu Long, xây dựng Hệ thống thông tin quản lý, đưa kiến thức vào nhà trường và nâng cao năng lực cho công tác hoạch định chính sách, và nhiều lĩnh vực khác Các kế hoạch công tác này đề ra khung thời gian, kèm theo các chỉ số được lượng hóa
Trang 28Giáo dục
Điều 8: Hỗ trợ việc rà soát và đổi mới chương trình giảng dạy, bao gồm tăng cường năng lực của cơ sở giáo dục nhằm cải tiến công tác đào tạo
giáo viên trước và sau khi vào nghề nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng của giáo viên để thực hiện chương trình giảng dạy mới vào năm 2015
x UNESCO đã hỗ trợ cho Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý cơ sở giáo dục thuộc Bộ GD&ĐT tiến hành rà soát năng lực và kỹ năng sư phạm của giáo viên tiểu học trong các chương trình đào tạo và bồi dưỡng giáo viên Trên cơ sở một nghiên cứu các thực tiễn hay của quốc tế và chuẩn giáo viên tiểu học của Việt Nam, kết quả rà soát chỉ ra rằng khái niệm kỹ năng sư phạm có trong chuẩn giáo viên vẫn chưa đủ mạnh và chưa khuyến khích áp dụng phương pháp dạy và học tích cực
Các khuyến nghị được đưa ra từ công tác rà soát bao gồm: (i) xây dựng các mô đun chính đào tạo giáo viên trong
đó chú trọng đến những kỹ năng sư phạm cần thiết mà hiệu trưởng và giáo viên xác định là còn “yếu” hay
“hổng” để có thể nâng cao kết quả học tập của tất cả các em học sinh thông qua việc áp dụng phương pháp dạy
và học tích cực, (ii) xây dựng thêm tài liệu để trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ ‘đúng mực’ đối với việc tổ chức giáo dục hòa nhập, (iii) Bộ GD&ĐT phê duyệt và phổ biến bộ tài liệu tổng hợp trong đó bao gồm các thực tiễn thành công về việc học ngôn ngữ thứ hai, toán thực hành và sử dụng các trò chơi trong dạy toán, giáo dục hòa nhập, và áp dụng góc học tập và không gian học tập trong lớp học, (iv) xây dựng các mô đun đào tạo, bồi dưỡng giáo viên mới về các chủ đề như “Xây dựng nhà trường thành cộng đồng học tập” và “Thúc đẩy tính sáng tạo trong giảng dạy ở nhà trường và các cụm trường”, (v) khởi xướng một trang web dành riêng cho việc đổi mới giảng dạy trên lớp nhằm chia sẻ các ý tưởng rộng khắp cả nước, tập hợp các nghiên cứu trên lớp ở trường đại học và đóng vai trò là nguồn tạp chí và sách báo để phổ biến các công trình hữu ích và chuyên sâu của giáo viên, (vi) tăng cường hỗ trợ cho việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong lớp học, (vii) tăng cường hỗ trợ giảng dạy tiếng Anh bằng nhiều phương pháp khác nhau, (viii) cung cấp tài liệu, hướng dẫn và tập huấn về cách đánh giá hình thành nhằm cải thiện khả năng học tập của học sinh, và (ix) xây dựng tài liệu nhằm hỗ trợ cho đội ngũ hướng dẫn viên trong trường để họ hỗ trợ tiền công vụ cho những giáo viên mới
x Bộ GD&ĐT, Văn phòng Quốc tế về Giáo dục của UNESCO (IBE-Geneva) và UNESCO Việt Nam đã phối hợp tiến hành rà soát và phân tích định kiến giới (ví dụ như thành kiến và rập khuôn về giới) trong sách giáo khoa tiểu học Thông qua trao đổi trực tuyến và một số hội thảo, các khái niệm và phương pháp luận liên quan đến phân tích sách giáo khoa trên quan điểm giới đã được điều chỉnh, và áp dụng trong bối cảnh Việt Nam Những phát hiện của hoạt động rà soát này đã cung cấp thông tin cho Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 -
2020 cũng như Báo cáo Đánh giá Giới của Ngân hàng Thế giới năm 2011 Sau quá trình rà soát sách giáo khoa, UNESCO đã hỗ trợ xây dựng các tài liệu hướng dẫn về cách tổ chức các cuộc rà soát tương tự trong tương lai Sử dụng tài liệu hướng dẫn này, đội ngũ kỹ thuật của Bộ GD&ĐT đã tăng cường năng lực trong việc chủ trì các đợt
rà soát và đánh giá vấn đề lồng ghép giới tiếp theo trong ngành giáo dục
Trang 29Giáo dục
x Văn phòng Khu vực về Giáo dục châu Á và Thái Bình Dương của UNESCO và UNESCO Việt Nam đã hỗ trợ Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý cơ sở giáo dục thuộc Bộ GD&ĐT triển khai các mô đun đào tạo giáo viên về lồng ghép giới trong giảng dạy và lớp học Các mô đun đào tạo giáo viên được xây dựng với sự hỗ trợ của Văn phòng Quốc tế
về Giáo dục của UNESCO (IBE-Geneva) và cung cấp một khung khái niệm và phương pháp cho các cơ sở đào tạo giáo viên để giải quyết những vấn đề về giới cũng như lồng ghép bình đẳng giới vào các chương trình đào tạo giáo viên tương ứng của mình Các mô đun này hỗ trợ các cơ sở đào tạo giáo viên phát triển những năng lực cần thiết để giải quyết các vấn đề về giới, đồng thời thúc đẩy bình đẳng giới trong nhà trường và lớp học cũng như ở cấp cộng đồng
Các mô đun này được xây dựng dựa trên Luật Bình đẳng giới và Luật Phòng, chống bạo lực gia đình của Việt Nam Ngoài ra, các mô-đun này cũng đã được thử nghiệm thành công và được thẩm định tại 2 hội thảo tập huấn cán bộ cốt cán cho 58 cán bộ cốt cán cấp tỉnh (45 nữ, 13 nam) Tại các hội thảo thực hành, cũng qua các trao đổi trực tuyến, các học viên đã tăng cường hiểu biết về thúc đẩy bình đẳng giới, tiến hành phân tích giới và lồng ghép giới Sau đó, chính các học viên đã được tập huấn tiếp tục tổ chức một loạt các hội thảo tập huấn ở cấp tỉnh Các mô đun bao gồm những nội dung khuyến nghị cho giáo viên và tài liệu hướng dẫn chi tiết (ví dụ làm rõ khái niệm và hoạt động) để tích hợp bình đẳng giới vào các bối cảnh đào tạo giáo viên khác nhau, bao gồm đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và phát triển chuyên môn ngay tại nhà trường Các mô đun sau khi được điều chỉnh đã được phổ biến rộng rãi để sử dụng làm tài liệu tham khảo của Bộ GD&ĐT trong chương trình đào tạo giáo viên chuẩn của Bộ, đồng thời phân phát tới các cơ sở đào tạo giáo viên trên khắp cả nước UNESCO, Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý cơ sở giáo dục, Bộ GD&ĐT và các tư vấn trong nước đã cùng xây dựng bộ tài liệu hướng dẫn cho tập huấn viên cũng như những khuyến nghị đối với các hoạt động đẩy mạnh lồng ghép giới trong giáo dục Một
số khuyến nghị được đưa vào Dự thảo Kế hoạch hành động về bình đẳng giới ngành Giáo dục 2011-2015 Những hoạt động này là một phần của Chương trình chung về Bình đẳng giới giữa Liên Hợp Quốc và Chính phủ Việt Nam do 12 cơ quan của Liên Hợp Quốc thực hiện (xem thêm báo cáo nội dung tại Điều 4 của Bản ghi nhớ)
Trang 30Giáo dục
x UNESCO, UNICEF và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã hỗ trợ Bộ GD&ĐT, dưới sự chỉ đạo của Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, tổ chức sự kiện Ngày Nhà giáo Việt Nam với chủ đề “Giáo viên: Động lực của sự phát triển bền vững ở Việt Nam”, hưởng ứng Ngày Quốc tế Hiến chương các Nhà giáo: “Sự phục hồi bắt đầu từ giáo viên” Buổi lễ kỷ niệm này được tổ chức phối hợp với Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 tại tỉnh Vĩnh Phúc, có sự tham gia của các giáo viên, giảng viên sư phạm, sinh viên sư phạm và các đối tác ngành giáo dục để tỏ lòng biết ơn tất cả các nhà giáo đã đóng vai trò nòng cốt trong việc hình thành lối sống của trẻ em cũng như những đóng góp to lớn của họ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và tri thức
UNESCO đã tổ chức một cuộc thi ảnh và một cuộc triển lãm nhân sự kiện này, nhằm khắc họa hình ảnh người giáo viên trong đời sống sinh hoạt và công việc thường nhật Thông qua những hoạt động này, UNESCO đã góp phần nâng cao nhận thức về vai trò hết sức quan trọng của giáo viên, đồng thời nêu bật sự cần thiết phải đảm bảo giáo dục có chất lượng trong
xã hội đương đại Sự kiện tôn vinh này cũng là dịp để Bộ GD&ĐT thể hiện cam kết tăng cường tuyển dụng giáo viên, tranh thủ sự tham gia của giáo viên trong công tác ra quyết định, duy trì mức độ đầu tư tài chính cho các chính sách và chương trình quốc gia, cũng như các chế độ thu hút và giữ chân giáo viên trong nghề
x Việt Nam đã tổ chức hội thảo thẩm định của Nhóm Công tác Quốc tế về Giáo viên Giáo dục cho Mọi người tại Hà Nội, với sự tham gia của Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý cơ sở giáo dục thuộc Bộ GD&ĐT Tại hội thảo, các nghiên cứu trường hợp của Bangladesh, Indonesia và Việt Nam cung cấp thông tin về một nghiên cứu khu vực: “Giải quyết tồn tại về Giáo viên GDCMN:
Đâu là những yếu tố cần thiết để đảm bảo các chính sách và thực tiễn hiệu quả ở các quốc gia châu Á?”, đã được thảo luận,
và các thông tin đầu vào và thông tin phản hồi từ các quốc gia tham gia đã được thu thập để thẩm định báo cáo nghiên cứu
Theo những phát hiện của báo cáo nghiên cứu trong khu vực, nghiên cứu trường hợp của quốc gia Việt Nam đã chỉ ra rằng, ngoài việc cung cấp đủ số lượng giáo viên, quốc gia này cũng đang chú trọng đến việc tăng cường kỹ năng và năng lực của giáo viên, đồng thời nâng cao trình độ của họ nhằm đảm bảo công tác dạy và học có chất lượng cho mọi người
x Năng lực của giáo viên phổ thông và giảng viên đại học đã được tăng cường để có thể tích hợp hiệu quả công nghệ thông tin vào thực tiễn giảng dạy, thiết kế và khuyến khích các hoạt động dựa trên công nghệ thông tin lấy người học làm trung tâm và phát triển một chiến lược hỗ trợ toàn bộ các trường học tích hợp công nghệ thông tin trong giáo dục, thông qua hai hội thảo do UNESCO Băng Cốc tổ chức: "Hội thảo nâng cao năng lực Dạy học theo dự án và Cộng tác từ xa" Trường Đại học
Sư phạm Hà Nội, Hiệp hội Hợp tác Phát triển và Hỗ trợ Kỹ thuật vùng Fla-măng, Vương quốc Bỉ (VVOB), và Hội đồng Anh tại Việt Nam đóng vai trò là các đối tác địa phương Trong suốt hội thảo, quan hệ đối tác giữa các giảng viên và giáo viên đã được tăng cường thông qua khuyến khích nhóm giảng viên tiếp tục thực hiện các hỗ trợ sau đào tạo theo yêu cầu đồng thời giám sát các hoạt động, chẳng hạn như tổ chức các hội thảo bổ sung và hướng dẫn các nhóm dự án thúc đẩy và thực hiện các dự án trường học liên ngành hoặc liên trường tương ứng của họ Một số nhóm dự án đã tham gia cuộc thi Giải thưởng Dạy học theo dự án, kết quả là hai đội Việt Nam đã được trao giải thưởng thực hiện dự án, và tham dự Hội thảo khu vực về Thực hành sáng kiến công nghệ thông tin trong giảng dạy và học tập do UNESCO Băng Cốc tổ chức
x Hoàn thiện và phân phối ấn phẩm của UNESCO "Hướng dẫn khu vực về Dạy học theo dự án (PBL) và
Cộng tác từ xa
Trang 31Giáo dục
Điều 9: Tăng cường đào tạo giáo dục kỹ thuật và dạy nghề (TVET), bao gồm việc phổ biến TVET cho học sinh và phụ huynh cũng như củng cố các
mối liên kết giữa các doanh nghiệp và đào tạo để cải tiến chất lượng của các chương trình TVET
x Trung tâm Quốc tế về Đào tạo Nghề của UNESCO (UNESCO-UNEVOC), phối hợp với Bộ GD&ĐT và UNESCO Việt Nam, đã chủ trì một hội nghị tham vấn các Trung tâm quốc gia của mạng lưới UNEVOC tại khu vực châu Á -Thái Bình Dương nhằm củng cố hiểu biết về các vấn đề HIV/AIDS trong khu vực, chia sẻ kinh nghiệm của các quốc gia, đồng thời xem xét cách thức thúc đẩy lồng ghép tốt hơn nữa nội dung giáo dục phòng chống HIV/AIDS vào chương trình dạy nghề 45 đại biểu thuộc 7 quốc gia (Việt Nam, Lào, Campuchia, Indonesia, Malaysia, Sri Lanka
và Mông Cổ), bao gồm các cán bộ lãnh đạo và các nhà hoạch định chính sách, các chuyên gia xây dựng chương trình, giảng viên sư phạm, các đối tác phát triển và các tổ chức xã hội dân sự cùng đại diện của các trung tâm quốc gia thuộc mạng lưới UNEVOC, đã dự hội nghị 4 ngày tại Hạ Long
Mục tiêu của hội nghị tham vấn quốc tế này bao gồm: (i) thu thập những thông tin mới nhất hiện có và những bài học thu được về những phương pháp thành công được áp dụng trong tích hợp nội dung phòng chống HIV/AIDS vào công tác lập kế hoạch và quản lý dạy nghề; (ii) xác định những thực tiễn tốt nhất làm minh chứng cho những kinh nghiệm sáng tạo và triển vọng về dạy nghề đã được lồng ghép vào nỗ lực ứng phó quốc gia phòng chống HIV/AIDS một cách hiệu quả như thế nào; (iii) thiết lập khung phối hợp trong tương lai của mạng lưới UNEVOC nhằm mục đích tạo các nguồn lực dạy và học và các công cụ mới sẵn có; và (iv) rà soát và làm sáng
tỏ vai trò và trách nhiệm của các trung tâm quốc gia thuộc mạng lưới UNEVOC trong khu vực
Trong suốt quá trình tập huấn, đại biểu có cơ hội xây dựng mối quan hệ đối tác với các đồng nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dạy nghề trong toàn khu vực, thúc đẩy vai trò của của các trung tâm UNEVOC, đồng thời đẩy mạnh cam kết tích hợp nội dung giáo dục phòng chống HIV vào chương trình dạy nghề Ngoài ra, các đại biểu còn xây dựng và thông qua một loạt các chiến lược nhằm tăng cường hiệu quả và chất lượng của các trung tâm UNEVOC ở từng quốc gia tương ứng
Những cam kết hành động nhằm tăng cường ứng phó HIV/AIDS thông qua dạy nghề bao gồm: (i) nâng cao hình ảnh của các trung tâm dạy nghề quốc gia thuộc mạng lưới UNEVOC; (ii) tăng cường trao đổi và hợp tác với các bên liên quan ở cấp quốc gia, khu vực và thế giới; (iii) tổ chức và tham gia tích cực các hoạt động của mạng lưới
ở cấp quốc gia và tiểu vùng về các vấn đề dạy nghề; (iv) thể hiện vai trò lãnh đạo ở cấp tiểu vùng về các chủ đề
cụ thể; và (v) xác định những thực tiễn hiệu quả thông qua các Cổng Thông tin Điện tử Mạng lưới UNEVOC và các dịch vụ trực tuyến khác của UNEVOC
Trang 32
Giáo dục
Điều 10: Tăng cường sự ứng phó toàn diện của ngành giáo dục đối với công tác phòng chống HIV/AIDS, giảm thiểu sự kỳ thị thông qua việc cải tiến chương trình giảng dạy, đào tạo giáo viên, nâng cao nhận thức của công chúng và củng cố năng lực điều phối cũng như thông qua giám sát
và đánh giá
x UNESCO, UNICEF, UNAIDS, một phần của Nhóm Phối hợp của LHQ về HIV, đã hỗ trợ Bộ GD&ĐT thành lập và điều hành Ủy ban Liên Vụ/Cục về Phòng chống HIV/AIDS (ICHA) Sau khi công tác điều phối của ICHA được tăng cường, Nhóm Phối hợp của LHQ về HIV (UNSHE) hiện đang hỗ trợ Bộ GD&ĐT triển khai Kế hoạch hành động phòng, chống HIV/AIDS của ngành Giáo dục giai đoạn 2011-2015, trong đó cụ thể hóa chiến lược 5 năm để các đơn vị chức năng trực thuộc Bộ GD&ĐT xây dựng các hoạt động ứng phó giáo dục toàn diện về HIV/AIDS Việc lồng ghép nội dung phòng chống HIV/AIDS trong Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 là kết quả của quy trình vận động chính trị mạnh mẽ của ICHA và UNSHE thông qua một số sự kiện tham vấn, dưới sự chủ trì của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam và Vụ Công tác học sinh, sinh viên
x Về lâu dài, Kế hoạch hành động phòng, chống HIV/AIDS của ngành Giáo dục giai đoạn 2011-2020, Tầm nhìn 2030
đã được Bộ GD&ĐT xây dựng với sự hỗ trợ của UNESCO và UNICEF Mục tiêu chung của Kế hoạch hành động này
là củng cố kiến thức và kỹ năng về công tác phòng chống HIV/AIDS cho các đối tượng người học, giáo viên và cán
bộ công nhân viên khác trong giáo dục, đồng thời góp phần triển khai Chiến lược Quốc gia phòng, chống HIV/AIDS Kế hoạch hành động cũng là một công cụ để huy động nguồn lực nhằm hỗ trợ Bộ GD&ĐT trong việc lồng ghép và tăng cường nội dung phòng chống HIV/AIDS trong hệ thống giáo dục
Chín (09) nhóm giải pháp thực hiện và sáu (06) chương trình đã được đề xuất để thực hiện mục tiêu Các chương trình lớn bao gồm: (i) tiến hành điều tra đánh giá và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và chính sách liên quan đến giáo dục phòng chống HIV/AIDS; (ii) biên soạn tài liệu và lồng ghép kiến thức phòng chống HIV/AIDS vào giáo dục nhà trường và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên trong việc thực hiện giáo dục phòng chống HIV/AIDS; (iii) cung cấp các dịch vụ thông tin, truyền thông và tư vấn về phòng chống HIV/AIDS tại các cơ sở giáo dục và cộng đồng; (iv) thu thập và tổng hợp thông tin về phòng chống kỳ thị và phân biệt đối xử trong nhà trường, xây dựng và nhân rộng các mô hình giáo dục giảm nhẹ kỳ thị
và phân biệt đối xử đối với trẻ em và những người bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS; (v) xây dựng hệ thống giám sát và đánh giá, cùng với các bộ công cụ và các chỉ số để giám sát tình hình ứng phó ngành giáo dục với HIV/AIDS; và (vi) huy động sự tham gia của học sinh, sinh viên và toàn thể cộng đồng tham gia giáo dục phòng chống HIV/AIDS
x Tiếp tục hỗ trợ ICHA thông qua Ban Thư ký –Vụ Công tác học sinh, sinh viên, Bộ GD&ĐT
Trang 33Giáo dục
Điều 10: (Tiếp)
x Bộ GD&ĐT, với sự hỗ trợ của UNESCO, đã điều chỉnh Cẩm nang Giáo dục Phòng chống HIV/AIDS của Văn phòng Khu vực về Giáo dục châu Á và Thái Bình Dương của UNESCO cho phù hợp với bối cảnh Việt Nam, bổ sung khái niệm giảm thiểu kỳ thị Đội ngũ cán bộ đào tạo của Bộ GD&ĐT và 454 hướng dẫn viên của Trung tâm học tập cộng đồng (TTHTCĐ) (46% là nữ) thuộc 130 TTHTCĐ tại 23 tỉnh, thành đã nâng cao khả năng giảng dạy của mình
về phòng chống HIV/AIDS và giảm kỳ thị thông qua các lớp tập huấn trong đó áp dụng nhiều phương pháp tương tác và đồng tham gia được trình bày trong Cẩm nang Giáo dục Phòng chống HIV/AIDS Tiếp đó, 35 cán bộ giáo dục được lựa chọn trong số những học viên tham gia tập huấn để trở thành cán bộ tập huấn cốt cán tiến hành phổ biến phương pháp mới ở cấp huyện và cấp xã Các vấn đề về giới được lồng ghép vào 5 mô đun của Cẩm nang Cùng với Vụ GDTX,Bộ GD&ĐT, chương trình tập huấn hiện đang được mở rộng cho 50 TTHTCĐ tại 5 tỉnh có đông người dân tộc thiểu số
x UNESCO đã hỗ trợ một nghiên cứu định tính có chủ đề “Phòng chống kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS thông qua trung tâm học tập cộng đồng” tại 3 tỉnh (Điện Biên, Quảng Ninh và Tây Ninh), những nơi có đông các nhóm dân tộc thiểu số Nghiên cứu này đã xem xét những thay đổi trong thái độ và hành vi của người học đối với những người bị nhiễm HIV/AIDS trước và sau khi được tập huấn nâng cao nhận thức Những phát hiện của nghiên cứu so sánh này hình thành một thông tin đầu vào giá trị cho các đợt tập huấn về giảm thiểu kỳ thị và phân biệt đối xử thông qua giáo dục không chính quy
x UNESCO và Tổ chức Cứu trợ Trẻ em đã hỗ trợ Bộ GD&ĐT xây dựng dự thảo chương trình giáo dục về sức khỏe sinh sản và phòng chống HIV/AIDS cấp giáo dục trung học và tiến hành thử nghiệm chương trình này tại tỉnh Hải Phòng, nơi có tỷ lệ người lây nhiễm HIV cao nhất tại Việt Nam Trong suốt quá trình triển khai dự án này, hơn 90 giáo viên và 85 cán bộ giáo dục đồng đẳng thuộc các trường trung học và trung tâm học tập cộng đồng đã tham gia tập huấn thí điểm và triển khai chương trình giáo dục mới được xây dựng Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng
đã tích cực chủ trì dự án này nhằm đảm bảo rằng các hoạt động được triển khai theo đúng kế hoạch đề ra cho phép chương trình giáo dục này được tiếp tục sử dụng trong dạy và học
Trang 34Giáo dục
Điều 10: (Tiếp)
x Việt Nam được đưa vào danh sách các quốc gia thí điểm trong Sáng kiến Khung Giám sát và Đánh giá HIV/AIDS Toàn cầu Bộ GD&ĐT đã sử dụng Khung Giám sát và Đánh giá Toàn cầu về Ứng phó với HIV/AIDS của toàn ngành Giáo dục của UNESCO để xây dựng các công cụ phù hợp với bối cảnh quốc gia Bộ phận Giáo dục của UNESCO tại Pari, thông qua Đơn vị Giáo dục và Phòng chống HIV/AIDS của Phòng Giáo dục vì Hòa bình và Phát triển Bền vững, đã hỗ trợ xây dựng nội dung tập huấn cán bộ cốt cán về cách sử dụng khung giám sát và đánh giá trên với những ví dụ về thực tiễn hay quốc tế Dự thảo Khung Giám sát & Đánh giá đã được xây dựng cung cấp các nội dung hướng dẫn chi tiết để lập kế hoạch, triển khai, giám sát, đánh giá và báo cáo một cách hệ thống các hoạt động phòng chống HIV/AIDS trong hệ thống giáo dục Đây là kết quả của nỗ lực hợp tác giữa UNESCO, UNICEF, UNAIDS, Trường Đại học Mahidol (Thái Lan), Tổ chức Cứu trợ Trẻ em và Bộ GD&ĐT Khung Giám sát & Đánh giá này được thiết kế nhằm mục đích kết nối với Khung Giám sát & Đánh giá Phòng chống HIV/AIDS quốc gia, Hệ thống Thông tin Quản lý Giáo dục (EMIS) và khung giám sát và đánh giá toàn cầu để đảm bảo một chiến lược ứng phó HIV/AIDS toàn diện ngành giáo dục Hiện đang thử nghiệm 3 chỉ số trong khung giám sát và đánh giá toàn cầu và 3 chỉ số đặc trưng của Việt Nam Quy trình này do Vụ Kế hoạch và Tài chính thuộc Bộ GD&ĐT chủ trì, với sự phối hợp của Vụ Công tác học sinh, sinh viên
Bộ GD&ĐT nộp một bản thuyết trình, được xây dựng với sự hỗ trợ của UNESCO Việt Nam, về tiến độ thực hiện thí điểm các chỉ số giám sát HIV/AIDS để chia sẻ với các bên hữu quan quốc tế tại Hội nghị Thẩm định Kỹ thuật và Lập kế hoạch Phổ biến Kết quả Thử nghiệm các Chỉ số Nhạy cảm HIV/AIDS trong hệ thống giám sát và đánh giá giáo dục quốc gia được tổ chức tại Johannesburg Hội nghị này nhằm mục đích (i) cập nhật tình hình triển khai sáng kiến toàn cầu và khu vực, đồng thời đôn đốc tất cả các đối tác trong tiến trình thử nghiệm và quá trình rà soát và thẩm định những phát hiện cũng như các bài học thu được từ các cuộc thử nghiệm trong khu vực và quốc gia; (ii) đưa ra các khuyến nghị về: (a) danh sách chính thức các chỉ số ở cấp trường, (b) định nghĩa chính thức các chỉ số, và (c) các phương pháp thu thập dữ liệu khả thi đối với những chỉ số đề xuất (gồm hệ thống EMIS, các cuộc điều tra cấp trường, điều tra dân số); và (iii) xây dựng lộ trình để phổ biến các chỉ số đề xuất ở cấp độ toàn cầu và khu vực, cũng như hỗ trợ nhân rộng việc áp dụng các chỉ số đề xuất ở cấp quốc gia
Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở châu Á xây dựng một khung giám sát và đánh giá về giáo dục phòng chống HIV/AIDS Dự thảo đề xuất khung giám sát và đánh giá được trình bày tại Pari trong Hội nghị Kỹ thuật Quốc tế về Khung Giám sát và Đánh giá Toàn cầu về Ứng phó với HIV/AIDS toàn diện ngành Giáo dục tại Băng Cốc trong Hội nghị Khu vực châu Á – Thái Bình Dương của UNESCO về xây dựng chương trình phòng chống HIV/AIDS
Trang 35Giáo dục
Điều 10: (Tiếp)
x Với sự hỗ trợ của tư vấn HIV/AIDS cấp khu vực tại Văn phòng khu vực về Giáo dục châu Á và Thái Bình Dương của UNESCO, 4 đại diện của Bộ GD&ĐT đã tham gia một chuyến tham quan học tập tại Thái Lan vào năm 2011
để tham dự triển lãm mang tên: “Tình dục lành mạnh: Câu chuyện tình yêu” được tổ chức tại Bảo tàng Khoa học Quốc gia Thái Lan Sau chuyến tham quan học tập với sự hỗ trợ của UNESCO, Vụ Công tác học sinh, sinh viên đã
tổ chức một hội thảo lập kế hoạch với các bên liên quan chủ chốt để chia sẻ kinh nghiệm chuyến đi, đồng thời lên kế hoạch tổng thể để tổ chức một diễn đàn tương tự ở Việt Nam sử dụng cách tiếp cận giáo dục đồng đẳng
UNESCO đã phối hợp với Trung tâm Sáng kiến Sức khỏe và Dân số (CCIHP) để thực hiện dự án nghiên cứu về kiến thức của vị thành niên và thanh niên về HIV/AIDS và sức khỏe tình dục với nguồn kinh phí hỗ trợ từ Cơ quan phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DFID) được giải ngân thông qua Quỹ Kế hoạch Chung của LHQ tại Việt Nam
CCIHP đã tiến hành điều tra khảo sát trực tuyến toàn diện và tổ chức các cuộc thảo luận nhóm đối tượng thanh niên, phụ huynh và giáo viên, và đang hoàn thiện báo cáo nghiên cứu 46% người đồng tính nữ, đồng tính nam, lưỡng tính và chuyển giới tính Việt Nam tham gia khảo sát trả lời rằng họ từng bị phân biệt đối xử và bạo hành tại trường học do xu hướng giới tính hoặc giới của họ Những phát hiện của nghiên cứu này sẽ được sử dụng làm cơ sở cho hội thảo 4 ngày vào tháng 12 năm 2012 để phổ biến báo cáo về kiến thức vị thành niên liên quan đến HIV/AIDS và sức khỏe tình dục, và tập huấn cho thanh niên về chuẩn bị cuộc triển lãm đồng đẳng được tổ chức vào năm 2013, phối hợp với Bộ GD&ĐT và Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
x UNESCO đã hỗ trợ cho cán bộ của CCIHP tham dự cuộc tham vấn được tổ chức lần đầu tiên về vấn đề bắt nạt đồng tính trong các cơ sơ giáo dục diễn ra tại Rio de Janeiro, Brazil vào 12 năm 2011
x Phối hợp với Tổ chức Cứu trợ Trẻ em cấp khu vực, UNESCO đã phát triển một khung khái niệm nhằm thúc đẩy các quyền của trẻ em đồng tính nữ, đồng tính nam, lưỡng tính và chuyển đổi giới tính (LGBT) ở châu Á Trong báo cáo về hoạt động rà soát tài liệu do UNESCO đã đề cập tới một nghiên cứu do Viện Nghiên cứu Kinh tế, Xã hội và Môi trường (ISEE) thực hiện với sự tài trợ của Tổ chức Cứu trợ Trẻ em Việt Nam về 25 trẻ em đường phố thuộc nhóm LGBT ở thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu cho thấy trẻ em đường phố LGBT hình thành một nhóm đặc biệt dễ bị tổn thương và thường bị xã hội bỏ rơi
x Tiếp tục chuẩn bị cho hội thảo kéo dài 4 ngày vào tháng 12 năm 2012 để phổ biến báo cáo về kiến thức vị thành niên liên quan đến HIV/AIDS và sức khỏe tình dục, đồng thời tập huấn cho thanh niên nhằm chuẩn bị cho cuộc triển lãm đồng đẳng vào năm 2013 về sức khỏe tình dục
x Xây dựng cuộc triển lãm đồng đẳng để tiến hành
tổ chức vào năm 2013, phối hợp với Bộ GD&ĐT
an toàn cho tất cả học sinh, kể cả học sinh thuộc
nhóm LGBT
Trang 36Giáo dục
Điều 11: Lồng ghép đa dạng văn hóa và ngôn ngữ vào các chương trình dạy và học nhằm tăng cường một nền văn hóa hòa bình và hiểu biết bằng cách khuyến khích sự tham gia của cộng đồng và học viên thông qua việc địa phương hóa chương trình giảng dạy và phát triển tài liệu học
tập theo địa phương
x Một tài liệu hướng dẫn về giáo dục di sản hiện đang được Vụ Giáo dục Trung học thuộc Bộ GD&ĐT xây dựng với
sự tham gia của các chuyên gia giáo dục và văn hóa cấp cao Tài liệu này sẽ được thử nghiệm tại 6 tỉnh trên phạm vi cả nước trong học kỳ 2 của năm học 2012-2013 Thông tin phản hồi thu được trong quá trình thử nghiệm sẽ được sử dụng để hoàn thiện bản thảo trước khi nhân rộng ra toàn quốc dự kiến vào đầu năm 2013-
2014 (xem thêm nội dung báo cáo tại Điều 34 của Bản ghi nhớ) Giảng dạy thí điểm đã được tổ chức tại hai trường nhằm cung cấp thông tin đầu vào cho tài liệu hướng dẫn để củng cố chương trình giáo dục bằng những kinh nghiệm thực tiễn như học sinh lớp 1 đến thăm một ngôi đền và học sinh lớp 7 đã đến thăm Bảo tàng Phụ
nữ Việt Nam
x Nhân rộng mô hình giáo dục tại bảo tàng và di sản văn hóa sang các nhà trường khác, phối hợp với
Bộ GD&ĐT
x Tiến hành rà soát các rào cản đối với giáo dục chất lượng cho học sinh dân
tộc thiểu số
Trang 37KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 38Khoa học tự nhiên
Điều 12: Tham gia, thông qua các sáng kiến quốc gia, vào các Chương trình Đầu tầu khoa học khu vực với sự điều phối của Văn phòng Khu vực về Khoa học khu vực châu Á và Thái bình dương của UNESCO Chương trình này tập trung vào: a) Nước cho các thành phố bền vững (SWITCH-in-Asia), b) Các Khu Dự trữ Sinh quyển và thích nghi với biến đổi khí hậu (BREES), c) Giáo dục Khoa học kết hợp với Giáo dục vì Sự phát triển
(COMPETENCE), và d) Ứng phó với thiên tai của các trường học và cộng đồng
x Văn phòng UNESCO tại Việt Nam đã hỗ trợ các cơ quan đối tác của Chính phủ Việt Nam xây dựng và triển khai các hợp phần đặc thù của Việt Nam thuộc các chương trình đầu tầu khu vực của Văn phòng Khu vực về Khoa học châu Á và Thái Bình Dương của UNESCO tại Jakarta, đó là:
của các đối tác trong nước và sẵn sàng chia sẻ với các nhà tài trợ tiềm năng Đồng thời, đã xây dựng một tài liệu dự án thí điểm trong khuôn khổ Chương trình SWITCH châu Á tại Hà Nội sau hội nghị khởi động Liên minh Kiến thức (Learning Alliance), bao gồm thiết lập quan hệ đối tác giữa các bên liên quan chủ chốt trong lĩnh vực tài nguyên nước (xem thêm nội dung báo cáo tại Điều 13 của Bản ghi nhớ)
Chương trình “Khu dự trữ sinh quyển – An ninh kinh tế và môi trường” (BREES) tại Khu Dự trữ Sinh quyển Cát Bà, UNESCO hiện nay đã nhận được nguồn kinh phí để bắt đầu triển khai Giai đoạn 3 Chương trình “Khu
dự trữ sinh quyển – An ninh kinh tế và môi trường” (BREES) tại Khu dự trữ sinh quyển châu thổ Sông Hồng
Phương pháp tiếp cận cũng đã được tăng cường nhằm kết nối các hợp phần hiệu quả hơn, đồng thời nâng cao tính bền vững của dự án Đề xuất triển khai giai đoạn 3 được MAB Việt Nam, Văn phòng UNESCO tại Việt Nam và Văn phòng UNESCO tại Jakarta tích cực phối hợp xây dựng
- Trong khuôn khổ chương trình Giáo dục Khoa học kết hợp với Giáo dục vì sự Phát triển (COMPETENCE), đã
tổ chức một khóa tập huấn, nhằm tăng cường năng lực cho đội ngũ giảng viên Việt Nam về nội dung Năng lượng vì sự Phát triển bền vững, một phần cấu thành của Dự án hợp tác giữa Quỹ Tín thác Nhật Bản (JFIT) và UNESCO về Phối hợp Huy động Kiến thức Khoa học & Công nghệ ở Khu vực châu Á – Thái Bình Dương
x Hai đại biểu thuộc Chương trình Con người và Sinh quyển Việt Nam (MAB Việt Nam) đã được hỗ trợ tham dự Hội nghị lần thứ 6 Mạng lưới các Khu Dự trữ Sinh quyển khu vực Đông Nam Á (SeaBRnet), sự kiện diễn ra hai năm một lần, được tổ chức tại Khu Dự trữ Sinh quyển Cibodas của Indonesia vào tháng 2 năm 2011 Các đại biểu của Việt Nam đã tham gia trao đổi cấp tiểu vùng về những thách thức mà các Khu Dự trữ Sinh quyển đang phải đối mặt, trong đó đặc biệt chú trọng đến tác động của biến đổi khí hậu, những vấn đề liên quan đến vai trò của người dân bản địa và kiến thức của họ trong việc quản lý các Khu Dự trữ Sinh quyển, cũng như tình trạng thiếu
thông tin về hệ sinh thái, điều kiện kinh tế và đời sống của người dân tại các Khu Dự trữ Sinh quyển
x Tiếp tục hỗ trợ xây dựng
và triển khai các hợp phần đặc thù của Việt nam trong các chương trình đầu tầu khu vực
Trang 39Khoa học tự nhiên
Điều 12: (Tiếp)
x Văn phòng UNESCO tại Jakarta và Văn phòng UNESCO tại Việt Nam đã hỗ trợ Mạng lưới khu vực về Chương trình Con người và Sinh quyển (MAB) bằng việc tổ chức cho đoàn đại biểu thuộc Ủy ban Quốc gia Chương trình Con người và Sinh quyển Đông Timo và Philipin tham quan Khu Dự trữ Sinh quyển Cát Bà, qua đó họ được tìm hiểu
về quy trình triển khai chương trình BREES tại Cát Bà, đồng thời gặp gỡ các cán bộ quản lý và những đối tượng hưởng lợi từ dự án Ngoài ra, họ cũng gặp gỡ các cán bộ của Văn phòng UNESCO tại Việt Nam, Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam và MAB Việt Nam, để cùng nhau thảo luận những thách thức và giải pháp tiềm năng cho các Khu Dự trữ Sinh quyển khu vực châu Á - Thái Bình Dương
Trang 40Khoa học tự nhiên
Điều 13: Xúc tiến các cơ hội phát triển, áp dụng và thực hiện các giải pháp và phương pháp tiếp cận khoa học, công nghệ và kinh tế - xã hội đã được thử nghiệm để góp phần vào việc xây dựng cách thức quản lý nước một cách có hiệu quả và bền vững; tiếp tục tiến hành các dự án quản lý tài nguyên nước bền vững cho những cộng đồng dân cư dễ bị tổn thương bởi biến đổi khí hậu, đặc biệt là ở vùng sâu vùng xa; xây dựng những cách tiếp cận nhằm quản lý có hiệu quả các tầng ngậm nước và sông ngòi quốc gia và xuyên biên giới, và thông qua đó tạo điều kiện cho sự phối
hợp với các đối tác khác trong lĩnh vực tài nguyên nước của Liên Hợp Quốc
x Trong khuôn khổ Chương trình Thủy văn Quốc tế (IHP) giai đoạn 7, do Quỹ Tín thác Nhật Bản tài trợ, UNESCO
đã và đang hỗ trợ Uỷ ban quốc gia về Chương trình Thuỷ văn Quốc tế (IHP Việt Nam) và các hoạt động của Ủy ban trong khu vực (được mô tả sau đây), cũng như hỗ trợ tổ chức Hội nghị Ban Chỉ đạo Khu vực Đông Nam Á - Thái Bình Dương (RSC-SEAP) lần thứ 18 (RSC-SEAP) tại Hà Nội vào tháng 10 năm 2010:
UNESCO đã triển khai Dự án “Đánh giá Hệ thống Dự báo và Cảnh báo Lũ lụt” nhằm hiểu rõ các cơ chế và
hệ thống khác nhau hiện đang được áp dụng trong việc cung cấp các thông tin dự báo, cảnh báo cũng như các biện pháp phòng chống hiệu quả cho người dân bị ảnh hưởng bởi lũ lụt ở các quốc gia trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương Vào tháng 6 năm 2012, 36 đại biểu của Việt Nam thuộc các cơ quan của Chính phủ đã được tập huấn tại Hà Nội về cách sử dụng Hệ thống phân tích lũ tích hợp (IFAS) UNESCO, cùng với Trung tâm Quốc tế về Quản lý Tai biến và Rủi ro tài nguyên nước của Nhật Bản (ICHARM), được Quỹ Tín thác Nhật Bản tài trợ đã hỗ trợ Việt Nam nâng cao năng lực cho các cơ quan Chính phủ, các viện nghiên cứu và các trường đại học trong việc dự báo lũ lụt thông qua khóa tập huấn về IFAS, một hệ thống phân tích dòng chảy lũ tích hợp phục vụ công tác dự bão lũ lụt hiệu quả và chất lượng ở các quốc gia đang phát triển (xem thêm ở hợp phần truyền thông tại Điều 38 của Bản ghi nhớ)
(Asia-Pacific FRIEND), Uỷ ban quốc gia về Chương trình Thuỷ văn Quốc tế (IHP Việt Nam) đã góp phần xây dựng một bản Danh sách các dòng sông (Catalogue of Rivers) Trong đó có 8 lưu vực sông của Việt Nam là: Sông
Kỳ Cùng, Sông Thu Bồn, Sông Ba, Sông Sêrêpôk, Sông Cầu, Sông Trà Khúc, Sông Chảy và Sông Hương
x Duy trì hỗ trợ cho các hoạt động đầu tầu của Chương trình Thủy văn Quốc tế giai đoạn 7 và các chương trình xuyên suốt khác cũng như tiếp tục hỗ trợ IHP Việt Nam
Việt Nam cùng với Chương trình Thuỷ văn Quốc tế của UNESCO, Uỷ ban Chương trình Thuỷ văn Quốc tế/Chương trình Tài nguyên Nước và Thuỷ Văn (IHP/HWRP) của Đức, IRD, Văn phòng UNESCO Jakarta; Văn phòng Khu vực về Khoa học châu Á và Thái Bình Dương của UNESCO và UNESCO Việt Nam sẽ phối hợp tổ chức Hội nghị Quốc
tế BẠN HỮU-Nước Water) lần thứ 7 về Thuỷ văn trong một Thế giới đang Thay đổi: Khía cạnh Môi trường và Con người