1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Chẩn đoán thuyên tắc vi mạch huyết khối ở thận bằng mô bệnh học ở bệnh nhân suy thận tiến triển nhanh

9 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 506,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thuyên tắc vi mạch huyết khối (Thrombotic microangiopathy, TMA) là nhóm bệnh lý có biểu hiện lâm sàng nặng và tỷ lệ tử vong cao. Nghiên cứu này nhằm mục tiêu mô tả các đặc điểm về mô bệnh học và phân loại của TMA và những tổn thương khác đi kèm TMA thận ở các bệnh nhân có chẩn đoán lâm sàng suy thận tiến triển nhanh.

Trang 1

CHẨN ĐOÁN THUYÊN TẮC VI MẠCH HUYẾT KHỐI Ở THẬN BẰNG MÔ BỆNH HỌC Ở BỆNH NHÂN SUY THẬN TIẾN TRIỂN NHANH

Trần Hiệp Đức Thắng * , Trần Thị Bích Hương ** , Nguyễn Sào Trung ***

TÓM TẮT

Đặt vấn đê: Thuyên tắc vi mạch huyết khối (Thrombotic microangiopathy, TMA) là nhóm bệnh lý có biểu

hiện lâm sàng nặng và tỷ lệ tử vong cao Nghiên cứu này nhằm mục tiêu mô tả các đặc điểm về mô bệnh học và phân loại của TMA và những tổn thương khác đi kèm TMA thận ở các bệnh nhân có chẩn đoán lâm sàng suy thận tiến triển nhanh

Phương pháp: Trong 133 mẫu sinh thiết thận ở bệnh nhân suy thận tiến triển nhanh từ 12/2013 đến

3/2018, chúng tôi có 38 trường hợp (TH) TMA TMA ở thận được phân nhóm thành TMA cấp, mạn và mạn tính hoạt động dựa vào các đặc điểm mô học đặc trưng

Kết quả: Bệnh căn nguyên của 38 TH TMA bao gồm 31/38TH (81,6%) viêm thận lupus trong đó 26/31TH

phân loại IV, 6/38 TH (15,8%) bệnh thận IgA và 1TH (2,6%) %) xơ hóa cầu thận khu trú từng phần Về Phân nhóm TMA, chúng tôi có 17/38TH (45%) cấp, 9/38 TH (23%) mạn và 12/38 TH (32%) mạn hoạt động Viêm thận lupus là nguyên nhân chủ yếu gây TMA ở tất cả các phân nhóm, với 45% ở nhóm cấp, 13% ở nhóm mạn

và 24% ở nhóm mạn tính hoạt động Hình ảnh nhuộm huyết khối với fibrin trên miễn dịch huỳnh quang (44,7%) gặp ở cả viêm thận do lupus và bệnh thận IgA Ngoài huyết khối là tổn thương chủ yếu gặp ở tiểu động mạch (55,3% TH), tiểu động mạch còn có những tổn thương khác như phù nề và thoái hóa dạng nhầy áo trong

(73,7%), xơ hóa lớp áo trong (34,2%) Chúng tôi còn ghi nhận 55,3% TH có hình ảnh cầu thận thiếu máu Kết luận: Thuyên tắc vi mạch huyết khối ở thận có tổn thương thận đa dạng, và thường gặp trong suy thận

tiến triển nhanh

Từ khóa: thuyên tắc vi mạch huyết khối, suy thận tiến triển nhanh, viêm thận lupus, bệnh thận IgA

ABSTRACT

DIAGNOSING RENAL THROMBOTIC MICROANGIOPATHY BASED ON HISTOPATHOLOGY

IN RAPIDLY PROGRESSIVE RENAL FAILURE

Tran Hiep Duc Thang, Tran Thi Bich Huong, Nguyen Sao Trung

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 3 - 2019: 300 – 308

Objectives: Thrombotic microangiopathy (TMA) is a group of diseases presenting with severe clinical

manifestation and having high morality The aim of this study was to describe (1) the histopathological features and classification of TMA, and (2) the associated lesions in Rapidly progressive renal failure patients

Methods: From 133 kidney biopsies performed in patients presented with RPRF from 2013 to March 2018,

we diagnosed 38 TMA Renal TMA was classified as acute TMA, Chronic TMA and Chronic active TMA, defined by characteristic histopathology findings

Results: The etiologies associated with 38 cases of TMA included 31/38 (81.6%) lupus nephritis (LN) with

26/31 class IV; 6/38 (15.8%) IgA nephropathy (IgAN) and 1/38 (2.6%) focal segmental sclerosis (FSGS) TMA

*Khoa Giải phẫu bệnh, bệnh viện Nhân Dân Gia Định

**Phân môn Thận, Bộ Môn Nội, Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh

***Bộ môn Giải phẫu Bệnh, Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: BS Trần Hiệp Đức Thắng ĐT: 0908194918 Email:thangco19752003@yahoo.com

Trang 2

was classified as 17/38 (45%) acute TMA, 9/38 (23%) chronic TMA and 12/38 (32%) chronic active TMA LN was the major cause of all types of TMA with 45% in acute, 13% in chronic and 24% in chronic active group The staining of thrombi with fibrin in immunofluorescence (44.7%) presented both in LN and IgAN Apart from the thrombi presenting mainly in arterioles (55.3%), the associated arteriolar lesions also included edematous and mucinous intimal thickening (73.7%), fibro intimal sclerosis (34.2%) We also recognized 55.3% ischemic glomeruli

Conclusions: Pathological features of renal TMA can vary considerably and can be seen frequently in RPRF Keywords: thrombotic microangiopathy, rapidly progressive renal failure, lupus nephritis, IgA nephropathy

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thuyên tắc vi mạch huyết khối (Thrombotic

microangiopathy, TMA) là tình trạng bệnh lý

gây ra do huyết khối bít tắc tại các mạch máu

nhỏ gồm động mạch nhỏ, tiểu động mạch, mao

mạch(3,4) Thuyên tắc vi mạch huyết khối ở thận

(renal TMA) thường xảy ra ở các động mạch

gian tiểu thùy, tiểu động mạch và các mao mạch

của cầu thận Trước đây, người ta thường nghĩ

TMA hiếm gặp và hầu như chỉ gặp những

trường hợp TMA cấp Trong thực hành giải

phẫu bệnh thận, TMA ở thận thường đi kèm các

bệnh lý có biểu hiện lâm sàng nặng như tổn

thương thận cấp hoặc suy thận tiến triển

thrombotic microangiopathy) giúp xác định tình

trạng bệnh thận nặng cần điều trị khẩn cấp để

bảo tồn chức năng thận cho bệnh nhân(3)

Việc chẩn đoán TMA thận ở nước ta vẫn còn

khá mới cho các bác sĩ (BS) thận học cũng như

BS Giải phẫu bệnh Năm 2015, nhóm nghiên cứu

của chúng tôi đã báo cáo 38 trường hợp (TH)

chẩn đoán nguyên nhân ở bệnh nhân suy thận

tiến triển nhanh tiến hành tại Bệnh Viện Chợ

tham gia như thành viên của đề tài nghiên cứu

trên, bước đầu đã chẩn đoán được 7 bệnh nhân

đầu tiên TMA ở thận Do đó, đề tài này nhằm

mục tiêu mô tả (1) Đặc điểm mô bệnh học của

TMA, (2) phân loại của TMA và (3) những tổn

thương khác đi kèm TMA

VẬT LIỆU - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Vật liệu

Thiết kể nghiên cứu mô tả cắt ngang Mẫu

nghiên cứu bao gồm 38 trường hợp (TH) suy

thận tiến triển nhanh được BS Trần Hiệp Đức Thắng, khoa giải phẫu bệnh của BV Nhân Dân Gia Định chẩn đoán TMA từ 12/2013 đến 3/2018 Các mẫu sinh thiết thận gửi từ các bệnh viện của

TP Hồ Chí Minh bao gồm 30TH (78,9%) từ Bệnh viện Chợ Rẫy, 2TH (5,3%) từ Bệnh viện Đại Học

Y Dược TP Hồ Chí Minh, 3TH 3TH (7,9%) từ Bệnh viện Nhân Dân Gia Định và 3TH (7,9%) từ Bệnh viện Bình Dân

Về mô bệnh học thận, chúng tôi khảo sát dưới kính hiển vi quang học và kính hiển vi huỳnh quang

Khảo sát hiển vi quang học mô bệnh học thận

Mẫu sinh thiết thận bằng kim được cố định trong dung dịch formalin 10% đệm trung tính, trải qua giai đoạn khử nước và ngấm parafin nhanh trong vòng 3 giờ Sau đó khối parafin này được cắt thành các tiêu bản có độ dày 1 – 2

Hematoxyline Eosin (HE), Periodic acid Schiff (PAS), Trichrome và Silver(14)

Định nghĩa các bệnh lý và thương tổn

Suy thận tiến triển nhanh (STTTN)

Là một chẩn đoán lâm sàng, biểu hiện tình trạng suy giảm chức năng thận nhanh chóng (ít nhất 50% độ lọc cầu thận) trong khoảng thời gian ngắn từ vài tuần đến dưới ba tháng STTTN được chẩn đoán sau khi đã loại trừ tổn thương thận cấp (acute kidney injury - chức năng thận mất trong vòng vài giờ đến vài ngày) và bệnh thận mạn (chronic kidney disease, chức năng thận mất trong nhiều hơn 3 tháng đến nhiều năm(2) Chẩn đoán này được BS lâm sàng cung cấp trên phiếu gửi mẫu bênh phẩm sinh thiết

Trang 3

Thuyên tắc vi mạch huyết khối ở thận (renal

thrombotic microangiopathy)

Được xác định trên mô bệnh học bằng các

tổn thương ở động mạch, tiểu động mạch và

mao mạch cầu thận bao gồm:

- Thành lập huyết khối và bít tắc lòng mạch:

Dưới kính hiển vi quang học huyết khối gồm

hồng cầu, tơ huyết và thường kèm theo mảnh vỡ

khi nhuộm với Trichrome khác với các tổn

thương bít lòng mạch khác như hyaline hóa

nặng lớp áo trong của các tiểu động mạch hay

tổn thương xơ hóa lớp áo trong tiểu động mạch

hay động mạch Các mảnh vỡ hồng cầu xen lẫn

hồng cầu và tơ huyết và thường tẩm nhuận vào

khoảng dưới nội mô mao mạch, khoảng gian

mạch, áo trong và áo giữa tiểu động mạch hoặc

động mạch

- Các tổn thương đi kèm hay gặp gồm(4,18):

Hình ảnh thiếu máu ở các quai mao mạch

cầu thận, thường là nhăn nhúm co rút các mao

mạch, hình ảnh này quan sát rõ nhất dưới tiêu

bản nhuộm bạc và periodic acid schiff (PAS)

Tùy vào mức độ thuyên tắc, có thể thấy thiếu

máu ở vài quai mao mạch cầu thận đến nhiều

cầu thận thiếu máu và hoại tử cầu thận hoặc

hoại tử một phần vỏ thận

Ly giải các khoảng gian mạch: được định

nghĩa là tiêu biến chất nền các khoảng gian mạch

và thoái hóa tế bào gian mạch Khoảng gian

mạch phồng lên, lỏng lẻo, nhạt màu và cuối

cùng là biến mất khoảng gian mạch Các tế bào

gian mạch phù nề, có không bào, thoái hóa và

hoại tử Các quai mao mạch giãn rộng thành các

vi phình mạch

Phù nề và thoái hóa dạng nhầy lớp áo trong

tiểu động mạch và động mạch, có thể kèm theo

thấm nhập bọt bào

Phân loại thuyên tắc vi mạch huyết khối

Thuyên tắc vi mạch huyết khối (TMA)

được phân thành 3 giai đoạn giai đoạn sớm

(cấp), giai đoạn trễ (mạn) và giai đoạn mạn

tính hoạt động(4,18)

TMA cấp (acute TMA) - giai đoạn sớm

Ít nhất một động mạch hoặc một tiểu động mạch hoặc mao mạch cầu thận bị thuyên tắc do huyết khối, thường kèm theo tăng sinh và biến đổi dạng nhầy lớp áo trong của tiểu động mạch hoặc động mạch

TMA mạn (Chronic TMA) - giai đoạn trễ

Dày và xơ hóa lớp áo trong và có thể cho hình ảnh dạng vỏ hành của các tiểu động mạch hoặc động mạch

TMA mạn tính hoạt động (Chronic active TMA)

Tổn thương hỗn hợp vừa có tổn thương cấp tính vừa có tổn thương mạn tính

Chẩn đoán nguyên nhân của suy thận tiến triển nhanh dựa vào các tiêu chuẩn chẩn đoán sau

Viêm thận lupus được chẩn đoán chủ yếu bằng lâm sàng với ít nhất 4/11 tiêu chuẩn của Hiệp hội Thấp Hoa Kỳ kèm tổn thương thận xác định bằng protein niệu >0,5g/24h kèm hoặc không kèm trụ niệu bất thường Phân loại mô bệnh học của viêm thận lupus theo phân loại của Hội thận học Thế giới và Hội Giải Phẫu Bệnh Thận (ISN/RPS) năm 2004(17)

- Bệnh thận IgA chẩn đoán xác định dựa vào lắng đọng IgA ở gian mạch và phân loại theo Oxford năm 2009 và bổ sung năm 2016(6,8)

- Xơ chai cầu thận khu trú từng vùng: đặc trưng bằng hình ảnh đông đặc một phần hoặc toàn bộ các quai mao mạch cầu thận và thường kèm theo dính vào vách Bowman’s

Khảo sát miễn dịch huỳnh quang trực tiếp

Các tiêu bản nhuộm miễn dịch huỳnh quang trực tiếp với kháng thể Immunoglobuline A

Immunoglobuline M (IgM), Fibrin, C3c và C1q Chúng tôi đánh giá vị trí, kiểu và cường độ bắt huỳnh quang(14)

Chẩn đoán TMA dựa vào phối hợp kết quả sang thương trên kính hiển vi quang học và miễn dịch huỳnh quang Các kết quả sinh thiết thận đều do 1 BS giải phẫu bệnh thận (BS Trần

Trang 4

Hiệp Đức Thắng, Khoa Giải Phẫu Bệnh, Bệnh

viện Nhân Dân Gia Định) đọc và phân tích kết

quả Mẫu sinh thiết thận được xem là đạt yêu

cầu để chẩn đoán mô bệnh học nếu có ít nhất 7

cầu thận(1)

Xử lý thống kê

Thu thập và phân tích các số liệu các kết quả

chẩn đoán và các thông tin sẵn có trên phiếu gửi

GPB Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS

16.0 Kiểm định có ý nghĩa khi p<0,05

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trong 133 TH STTTN từ năm 2013 đến

năm 2018, chúng tôi ghi nhận có 38 TH

(28,57%) được chẩn đoán TMA thận Dùng

phép kiểm Kolmogorov – Smirnov để khảo sát

tính chuẩn của các biến số cho thấy hầu hết các

biến số không có phân phối chuẩn nên được

trình bày dưới dạng trung vị và khoảng tứ

phân vị (25%; 75%) Nhóm nghiên cứu có

những đặc điểm chung sau: Tuổi trung vị là 28

tuổi, trong đó nhiều nhất, 14/38 TH (37%),

bệnh nhân có độ tuổi 20 – 29 Trong 38 TH, 26

(68%) bệnh nhân nữ và 12 (32%) bệnh nhân

nam Tỷ lệ nam/nữ là 1:2,17

Đánh giá tiêu chuẩn mô bệnh phẩm đạt yêu cầu

Hầu hết mẫu thận (37/38BN, 97,4%) đạt yêu

cầu (>7 cầu thận) Chỉ 1 TH chỉ có 4 cầu thận

nhưng chúng tôi vẫn sử dụng TH này vì với tổn

thương tăng sinh lan tỏa, hình ảnh mô bệnh học

phù hợp với một viêm thận lupus class IV và

thấy rõ hình ảnh thuyên tắc nhiều tiểu động

mạch Trung vị số cầu thận quan sát được trên

mô sinh thiết là 21 cầu thận (16,5%;29%) Trung

vị của tỷ lệ cầu thận còn sống (viable glomeruli)

là 84 % (50,75%;100%) Mọi bệnh phẩm đều có

tiểu động mạch và mao mạch để quan sát 32

(84,2%) mẫu thận có động mạch để khảo sát

Đặc điểm mô bệnh học bệnh căn nguyên

Trong 38 TH TMA có 31 TH (81,6%) viêm

thận lupus Theo phân loại Lupus có 26/31TH

phân loại IV, 1/31TH phân loại V, 1/31TH phân

loại III-V, 2/31TH phân loại IV-V Một trường

hợp bệnh nhân có chẩn đoán lâm sàng viêm

thận lupus kèm tăng huyết áp ác tính nhưng giải phẫu bệnh không phân loại được lupus MDHQ,

25 TH (65,8%) IgG (+++), 3 TH (7,9%) IgG (++), 10

TH (26,3%) IgG (-), 22 TH (57,9%) C1q (+++), 10

TH (26,3%) C1q (++), 5 TH (13,2%) C1q (+) và 1

TH (2,6%) C1q (-)

6TH bệnh thận IgA (15,8%) Theo Oxford 6/6

TH (100%) tăng sinh tế bào và chất nền gian mạch, 6 TH (100%) có xơ hóa cầu thận khu trú từng phần, 4 TH (66,7%) tăng sinh nội mô mao mạch, 5 TH (83,3%) có xơ hóa mô kẽ và teo ống thận và 2 TH (33,4%) có tổn thương liềm MDHQ 1 TH (16,7%) IgA (+++), 3 TH (50%) IgA (++) và 2 TH (33%) IgA (+) ở gian mạch

Một trường hợp xơ hóa cầu thận khu trú từng phần (2,6%) Hình ảnh mô bệnh học của TMA giai đoạn trễ, các tiểu động mạch dày và

xơ hóa kèm phù nề lớp áo trong kèm với xơ hóa cầu thận khu trú từng phần và xơ hóa mô kẽ teo ống thận mức độ nặng Nhuộm miễn dịch huỳnh quang không thấy có lắng đọng phức hợp miễn dịch đặc hiệu

Phân loại thuyên tắc vi mạch huyết khối theo giai đoạn

Theo giai đoạn, TMA cấp thường gặp nhất

17 TH (45%) đều là viêm thận lupus TMA mạn tính hoạt động 12 TH (32%) với 9/12TH viêm thận lupus và 3/12TH bệnh thận IgA TMA mạn tính 9 TH (23%) gồm 5TH viêm thận lupus, 3TH bệnh thận IgA và 1TH Xơ hóa cầu thận khu trú

từng phần (Biểu đồ 1)

0

17

3 0 9

3 1 5

0 2 4 6 8 10 12 14 16 18

TTVMHK cấp TTVMHK mạnHĐ TTVMHK mạn

IgAN FSGS Lupus

Biểu đồ 1: Các loại TMA theo nguyên nhân

Trang 5

Các hình thái tổn thương mạch máu ở BN

thuyên tắc vi mạch huyết khối:

Các tổn thương chủ yếu ở mạch máu gồm

mao mạch cầu thận, các tiểu động mạch ở cực

mạch máu cầu thận hoặc các tiểu động mạch quanh ống thận mô kẽ, và các động mạch được

trình bày trong Bảng 1

Bảng 1: Các đặc điểm mô bệnh học ở mạch máu trong 38 trường hợp TMA:

Huyết khối mao mạch hoặc bít tắc lòng mao

mạch do cầu hyaline gặp hầu như ở TMA cấp

(12/13TH), chỉ có 1 trường hợp ở TMA mạn tính

hoạt động Huyết khối tiểu động mạch hay gặp

nhất (15/21TH) trong TMA cấp Phù nề và thoái

hóa dạng nhầy áo trong tiểu động mạch gặp

nhiều nhất trong TMA cấp (12/28TH), tiếp theo

là trong TMA mạn tính hoạt động (10/28TH) Xơ

hóa lớp áo trong tiểu động mạch chủ yếu gặp ở TMA mạn tính (8/13TH) Hình ảnh huyết khối nhuộm với fibrin trên miễn dịch huỳnh quang hay gặp nhất trong TMA cấp Các hình ảnh mô bệnh học đại diện của 3 trường hợp TMA cấp, TMA mạn tính và TMA mạn tính hoạt động

minh họa ở Hình 1

Hình 1: A Hình ảnh đại diện trường hợp viêm thận lupus class IV G A/C) kèm TMA cấp, cầu thận tăng

sinh tế bào nội mô kèm thuyên tắc tiểu động mạch ở cực mạch máu với ít mảnh vỡ hồng cầu B Trường hợp lupus class IV S (A/C) kèm TMA mạn tính hoạt động, tiểu động mạch phù nề kèm xơ hóa và thấm nhập bọt bào, bít hẹp lòng mạch C Trường hợp lupus class IV S (A/C) kèm TMA mạn tính, tiểu động mạch bít tắc do xơ hóa

lớp áo trong dạng vỏ hành

Hình thái tổn thương mạch máu và bệnh lý đi

kèm

Các tổn thương mạch máu mao mạch cầu

thận, các tiểu động mạch và các động mạch

tương ứng với chẩn đoán mô bệnh học đi kèm

gồm viêm cầu thận lupus, bệnh thận IgA và xơ

hóa cầu thận khu trú từng phần được trình bày

trong Bảng 2

Chỉ có 1 TH huyết khối động mạch ở viêm thận do lupus Cả 13/13 TH bít tắc lòng mao mạch và 3/3 TH phù nề và thoái hóa dạng nhầy

áo trong động mạch đều gặp ở viêm cầu thận do lupus Các tổn thương huyết khối tiểu động mạch, phù nề và thoái hóa dạng nhầy áo trong tiểu động mạch, xơ hóa lớp áo trong tiểu động mạch và hình ảnh nhuộm huyết khối lòng mao

Trang 6

mạch hoặc tiểu động mạch với fibrin trên

nhuộm miễn dịch huỳnh quang đều gặp ở viêm

thận do lupus hoặc bệnh thận IgA Ở TH xơ hóa

cầu thận khu trú từng phần, chỉ thấy hình ảnh

xơ hóa lớp áo trong các tiểu động mạch và cầu

thận thiếu máu của TMA mạn tính

Hình 2 minh họa trường hợp viêm thận

lupus có TMA đi kèm với tổn thương cầu hyaline bít lòng các quai mao mạch, hình ảnh nhuộm lòng mạch máu với fibrin trên miễn dịch huỳnh quang và hình cầu thận thiếu máu trên

tiêu bản nhuộm bạc

Bảng 2: Các đặc điểm mô bệnh học ở mạch máu và chẩn đoán mô bệnh học đi kèm

Hình 2: A Hình ảnh đại diện trường hợp viêm thận lupus class IV G (A/C) kèm TMA cấp, cầu thận tăng

sinh tế bào nội mô kèm bít tắc nhiều quai mao mạch do cầu hyaline (HEx400) B Trường hợp lupus class IV G (A/C) kèm TMA cấp, huyết khối tiểu động mạch nhuộm MDHQ dương tính với fibrin (IF, Fibrinx400)

C Trường hợp lupus class IV S (A/C) kèm TMA mạn tính hoạt động, cầu thận với các quai mao mạch thiếu máu

(Silverx400)

BÀN LUẬN

Thuyên tắc vi mạch huyết khối là tổn

thương bệnh học dẫn đến sự thành lập huyết

khối các mao mạch và các tiểu động mạch do

tổn thương nội mô mạch máu Nghiên cứu

chúng tôi ở 38 bệnh nhân ghi nhận các hình

ảnh TMA như kinh điển

Kiểu tổn thương này có thể do nhiều nguyên

nhân gây ra như nhiễm trùng (vi khuẩn, virus),

các loại thuốc (ức chế calcineurin, hóa trị,

clopidogrel, ticlopidine…), u bướu (bướu mạch

máu, ung thư biểu mô, bạch cầu cấp), bệnh mô

liên kết (lupus đỏ hệ thống, thấp khớp, hội

chứng kháng phospolipid), thai kỳ, tăng huyết

áp ác tính, nguyên nhân di truyền như bất thường về bổ thể và thiếu hoặc khiếm khuyết yếu tố ADAMTS 13(10)

Cho dù là nguyên nhân từ bệnh lý nào, TMA

có các hình ảnh mô học giống nhau tuy nhiên, hình ảnh thay đổi theo thời gian Ở giai đoạn sớm ta gặp TMA cấp Khi bệnh diễn tiến đến giai đoạn trễ, TMA sẽ thành mạn tính Các trường hợp bệnh tái diễn, chúng ta sẽ thấy vừa

có tổn thương thuyên tắc cấp tính, vừa có tổn thương mạn tính và thường được gọi là TMA mạn tính hoạt động(3,4)

+ Giai đoạn cấp: Hình ảnh TMA giai đoạn này gồm tế bào nội mô phồng to, lòng mao mạch

Trang 7

và tiểu động mạch tắc nghẽn do huyết khối, chủ

yếu gồm fibrin và mảnh vỡ hồng cầu Lớp áo

trong của mạch máu tăng sinh và biến đổi thoái

hóa dạng nhầy và chứa những mảnh vỡ hồng

cầu Ngoài ra chúng ta có thể thấy ly giải các

khoảng gian mạch và tẩm nhuận các mảnh vỡ

hồng cầu trong khoảng gian mạch Nếu tình

trạng thuyên tắc lan tỏa và nặng, có thể thấy

hoại tử cầu thận hay hoại tử ống thận hoặc hoại

tử một phần vỏ thận TH TMA cấp chúng tôi

chẩn đoán chủ yếu dựa vào hình ảnh bít tắc lòng

mạch do huyết khối với hồng cầu, fibrin và

mảnh vỡ hồng cầu Hình ảnh phồng tế bào nội

mô và ly giải khoảng gian mạch mô tả trong y

văn thực sự khó đánh giá vì chất lượng tiêu bản

cũng như thiếu kính hiển vi điện tử

+ Khi bệnh diễn tiến đến giai đoạn trễ hơn,

lớp áo trong của các mạch máu bắt đầu xơ hóa,

huyết khối và fibrin được thay thế một phần bởi

mô sợi và thấm nhập tế bào viêm chủ yếu bọt

bào Các huyết khối đã tổ chức hóa và tái tạo các

mạch máu Lớp áo trong các mạch máu tăng sản

và xơ hóa nhiều lớp cho hình ảnh dạng vỏ hành

Ngoài tổn thương tại mạch máu, trong giai đoạn

trễ, còn có những biến đổi tại (1) cầu thận (như

màng đáy đôi làm cho cầu thận có hình ảnh

giống như trong viêm cầu thận tăng sinh màng

Cầu thận có thể có vùng xơ hóa từng phần hoặc

bị xơ hóa toàn bộ) (2) Mô kẽ xơ hóa và ống thận

teo từng vùng tương ứng với những cầu thận bị

xơ hóa

Trong nghiên cứu của chúng tôi, do bệnh

nhân có bệnh cầu thận đi kèm, nên việc chẩn

đoán TMA mạn tính chủ yếu dựa vào tổn

thương của mạch máu và không quan tâm đến

tổn thường cầu thận và mô kẽ, ống thận Trong

các TH TMA mạn tính kèm với bệnh thận IgA

và xơ hóa khu trú từng phần, chúng tôi không

thấy hình ảnh màng đáy đôi giống như trong

viêm cầu thận tăng sinh màng Với các trường

hợp viêm thận do lupus, chẩn đoán TMA mạn

tính dựa vào tiêu chuẩn màng đáy đôi thực sự

khó khăn vì hình ảnh này cũng gặp trong viêm

cầu thận lupus class III – IV mà không có TMA

đi kèm(4) Miễn dịch huỳnh quang trong TMA nếu không đi kèm các bệnh lý khác như viêm thận lupus, bệnh thận IgA, viêm cầu thận tăng sinh màng … thường sẽ bắt không đặc hiệu với các kháng thể IgA, IgG, IgM, C3 Nếu lát cắt nhuộm Fibrin hiện diện các mạch máu thuyên tắc (thường là giai đoạn sớm), sẽ thấy nhuộm fibrin những vùng bị thuyên tắc Chúng tôi có 17 TH (44%) có fibrin dương tính trong lòng mao mạch

và tiểu động mạch, trong đó 16 TH viêm thận do

lupus và 1 TH bệnh thận IgA

Thuyên tắc vi mạch huyết khối và viêm thận do lupus

Thực sự chẩn đoán TMA trong viêm thận lupus trên lâm sàng đôi khi khó khăn vì các triệu chứng của TMA cũng gần giống như của viêm thận lupus, đặc biệt là viêm thận lupus nặng gồm thiếu máu, tán huyết, xuất huyết giảm tiểu cầu, tổn thương cơ quan như thần kinh, tổn thương thận, sốt… Vì vậy tiêu chuẩn mô bệnh học nên được xem là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán TMA ở bệnh nhân viêm thận lupus(15) Tổn thương bít tắc lòng mao mạch có thể do huyết khối hoặc do cầu hyaline trong lòng mao mạch Cầu hyaline là từ dùng để miêu tả các khối hình cầu giống như hyaline, ái toan và bắt màu nhuộm PAS trong lòng mao mạch cầu thận Cầu hyaline hay thuyên tắc hyaline là hình ảnh đặc trưng của kháng thể lạnh (cryoglobulin) đóng lại trong mao mạch cầu thận nhưng cũng

có thể gặp trong các trường hợp khác như hội chứng kháng phospholipid, thuyên tắc mao mạch hoặc khi các lắng đọng phức hợp miễn dịch quá nhiều và quá lớn làm bít lòng mao mạch và thường thỉnh thoảng gặp trong viêm thận do lupus(5,7)

Chúng tôi nhận thấy hầu hết TMA ở BN viêm thận lupus đều có phân loại class III, IV, Chủ yếu là TMA cấp

Thuyên tắc vi mạch huyết khối và bệnh thận IgA

Theo Hamid Nasri với nghiên cứu trên 102 trường hợp bệnh thận IgA nguyên phát, kết quả

Trang 8

chỉ có 2% trường hợp có TMA chẩn đoán xác

định bằng mô học(13) Về mô học, nhóm bệnh

nhân có TMA có tỷ lệ xơ hóa cầu thận và xơ hóa

mô kẽ teo ống thận nặng hơn nhóm không có

TMA Với kết quả phân loại theo Oxford thì

90,2% M1 (có tăng sinh gian mạch), 32% E1 (có

tăng sinh tế bào nội mô), 67% có S1 (xơ hóa từng

phần)(12) Trong nghiên cứu của chúng tôi, cả 6

trường hợp đều có tăng sinh khoảng gian mạch

(100%), 6 trường hợp (100%) đều có cầu thận xơ

hóa từng phần và 5/6 trường hợp (83,3%) xơ hóa

mô kẽ và teo ống thận mức độ trung bình và 2

trường hợp (33,3%) có liềm tế bào hoặc liềm sợi

tế bào Số trường hợp TMA trên bệnh thận IgA

trong nghiên cứu còn ít nên chúng tôi chưa tiến

hành phân tích so sánh các đặc điểm mô học

giữa những trường hợp bệnh thận IgA có TMA

và không có TMA

Hạn chế của nghiên cứu

(1) Thời điểm sinh thiết thận thường không

tương hợp với diễn tiến cấp của bệnh

(2) Việc xác định huyết khối chủ yếu dựa vào

1 BS giải phẫu bệnh thận

(3) Thiếu Kính hiển vi điện tử để xác định

những tổn thương TMA sớm nhỏ ở mao mạch

cầu thận

KẾT LUẬN

Trong 38 TH bệnh vi mạch huyết khối ở BN

suy thận tiến triển nhanh, chúng tôi có 31 TH

viêm thận lupus, 6 TH bệnh thận IgA và 1 TH xơ

chai cầu thận khu trú từng vùng Về phân loại,

chúng tôi có 17 TH cấp, 9 TH mạn, 12 TH mạn

tính hoạt động Các TH bít tắc lòng mao mạch

đều gặp ở viêm thận do lupus, bít tắc tiểu động

mạch chủ yếu gặp ở bệnh thận IgA Việc chẩn

đoán bệnh vi mạch huyết khối dựa vào mô bệnh

học đã góp phần quan trọng trong việc bổ sung

thêm 1 nhóm bệnh lý nặng, cần can thiệp cấp

cứu để hồi phục chức năng thận ở bệnh nhân

suy thận tiến triển nhanh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Amann K, Haas CS (2006) What you should know about the

work-up of a renal biopsy Oxford Journal Nephrol Dial

Transplant, 21(5):1157-1161

2 Bhowmik D, Sinha S, Gupt A, Tiwari SC, Agarwal SK (2011)

Clinical approach to rapidly progressive renal failure J Assoc

Physicians India, 59:38-41

3 Brocklebank V, Wood K.M, Kavanagh D (2018) Thrombotic

Microangiopathy and the Kidney Clin J Am Soc Nephrol,

13(2):300-317

4 Colvin RB (2011) Introduction to thrombotic microangiopathy

Diagnostic pathology Kidney Diseases, 1:364–369

5 D'Agati V, Stokes MB (2014) Renal disease in systemic lupus erythematosus, mixed connective tissue disease, Sjögren syndrome, and Rheumatoid arthritis Heptinstall's Pathology

and Renal Diseases, 7th Ed, Philadelphia, PA, Lippincott Williams

& Wilkins

6 D'Amico G (2000) Natural history of idiopathic IgA nephropathy: Role of clinical and histological prognostic factors

Am J Kidney Dis, 36:227–237

7 Daugas E, Nochy D, Huong DL, Duhaut P, Beaufils H, Caudwell V, Bariety J, Piette JC, Hill G (2002) Antiphospholipid

syndrome nephropathy in systemic lupus erythematosus J Am

Soc Nephrol, 13:42-52

8 Donadio JV (2002) IgA nephropathy The new England Journal of

medicine, 347(10):738-748

9 Fogazzi GB, Cameron JS (1999) The early introduction of

percutaneous renal biopsy in Italy Kidney International, 56:1951–

1961

10 Keir L, Coward RJM (2011) Advances in our understanding of the pathogenesis of glomerular thrombotic microangiopathy

Pediatric Nephrology, 26(4):523-533

11 Laszik ZG, Silva FG (2014) Hemolytic Uremic Syndrome, Thrombotic Thrombocytopenic Purpura, and Other Thrombotic

Microangiopathies Hepinstall's Pathology of the Kidney, 6th

Edition, p 702 – 764

12 Lee H, Yi SH, Seo MS, et al (2012) Validation of the Oxford Classification of IgA Nephropathy: A Single-Center Study in

Korean Adults The Korean Journal of Internal Medicine,

27(3):293-300

13 Nasri H, Mortazavi M, Ghorbani A, Shahbazian H, Kheiri S, Baradaran A, et al (2012) Oxford-MEST classification in IgA

nephropathy patients: A report from Iran J Nephropathol,

1(1):31–42

14 Silva FG, D’Agati VD, Nadasdy T (1996) Renal Biopsy

interpretation Churchill Livingstone

15 Song D, Wu L, Wang F, et al (2013) The spectrum of renal

thrombotic microangiopathy in lupus nephritis Arthritis Res

Ther, 15:R12

16 Trần Thị Bích Hương (2015) Đặc điểm lâm sàng và mô bệnh

Trang 9

học thận của suy thận tiến triển nhanh ở người trưởng thành tại

Bệnh viện Chợ Rẫy Y Học TP Hồ Chí Minh, 19(4):474, Chuyên

đề: Thận niệu

17 Weening JJ, D’Agati VD, Schwartz MM et al (2004)

Classification of glomerulonephritis in systemic lupus

erythematosus revisited Kidney Int, 65:521–530

18 Zhang PL, Prichard JW, Lin F, Shultz MF, Malek SK, Shaw JH, Hartle JE (2006) Chronic active thrombotic microangiopathy in

native and transplanted kidneys Ann Clin Lab Sci, 36(3):319-25

Ngày nhận bài báo: 01/04/2019 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 05/05/2019 Ngày bài báo được đăng: 10/06/2019

Ngày đăng: 15/01/2020, 20:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm