1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát công tác chăm sóc bệnh nhân có thẩm phân phúc mạc sau phẫu thuật tim tại khoa hồi sức Bệnh viện Nhi Đồng 2

6 141 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 286,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày khảo sát công tác chăm sóc bệnh nhân có thẩm phân phúc mạc sau phẫu thuật tim tại khoa Hồi sức Bệnh viện Nhi Đồng 2.

Trang 1

KHẢO SÁT CÔNG TÁC CHĂM SÓC BỆNH NHÂN CÓ THẨM PHÂN PHÚC MẠC SAU PHẨU THUẬT TIM TẠI KHOA HỒI SỨC

BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2

Phan Thị Huỳnh Nhi*, Huỳnh Thị Phương Thảo*, Nguyễn Thị Thu Trang*, Phan Vũ Minh Phương*,

Huỳnh Thị Thu Hương*,Nguyễn Đăng Khoa*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Khảo sát công tác chăm sóc bệnh nhân có thẩm phân phúc mạc sau phẫu thuật tim tại khoa Hồi

sức Bệnh viện Nhi Đồng 2

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Cắt ngang mô tả tất cả các bệnh nhân tại đơn vị Hồi sức tim từ

2/2015-9/2015 và các điều dưỡng tham gia chăm sóc

Kết quả: Tỉ lệ bệnh nhân có chỉ định thẩm phân phúc mạc là 7,7% và 62,5% bệnh nhân sau thẩm phân phục

hồi lại chức năng thận Điều dưỡng thực hiện đúng các bước như: gắn đúng hệ thống thẩm phân 100%, theo dõi lượng dịch ra mỗi chu kỳ 100%, theo dõi màu sắc dịch 100%, thay túi dịch đúng giờ 25%, thay băng chân catheter, soạn dụng cụ đầy đủ và kiểm tra túi dịch đạt 66,7%

Kết luận: Nhóm tuổi thường gặp biến chứng suy thận cấp sau phẫu thuật tim là sơ sinh và nhũ nhi Công

tác chăm sóc và theo dõi bệnh nhân có thẩm phân phúc mạc khá tốt, tuy nhiên vẫn còn các bước chưa làm tốt như thay túi dịch đúng giờ, và các bước chưa đạt tỉ lệ cao thay băng chân catheter hằng ngày, soạn dụng cụ đầy đủ và kiểm tra túi dịch

Từ khóa: thẩm phân phúc mạc, chăm sóc điều dưỡng, phẫu thuật tim, đơn vị chăm sóc đặc biệt

ABSTRACT

OBSERVE NURSING CARE OF PATIENTS UNDERGOING PERITONEAL DIALYIS AFTER CARDIAC

SURGERY IN INTENSIVE CARE UNIT - CHILDREN´S HOSPITAL 2

Phan Thi Huynh Nhi, Huynh Thi Phuong Thao, Nguyen Thi Thu Trang, Phan Vu Minh Phuong,

Huynh Thi Thu Huong, Nguyen Dang Khoa

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 4 - 2016: 156 - 161

Objective: Observe nursing care of patients undergoing peritoneal dialyis after cardiac surgery in Intensive

Care Unit - Children´s Hospital 2

Method: cross section study numbers of patients underdoing PD in ICU in the period time from Feb 2015

till Sept 2015

Result: Most of patients underdoing PD in ICU are neonates or small infants Percentage of patient has PD

indication is 7.7%, 62.5% patients underdoing PD improves renal function 100 % of nurse follow steps of procedure For example : 100 % set up right system, 100 % calculate the fluid balance every cycle, 100 % make remark on change of color of the the removal fluid, 25% change the bag of dialysis fluid on time, 66.7% practices good hygiene and keeps the catheter taped down on the skin

Conclusion: Most of the nurses have good practice of PD care Some steps must be improved are changing

the bags and good hygiene on the exit site

*Bệnh viện Nhi Đồng 2

Tác giả liên lạc: ĐD Phan Thị Huỳnh Nhi, ĐT: 090 133 1636, Email:tomato20686@yahoo.com.vn

Trang 2

Keywords: Peritoneal Dyalysis, Nursing care, Cardiac Surgery, Intensive Care Unit

ĐẶT VẤN ĐỀ

Suy thận cấp trên bệnh nhân sau phẫu thuật

tim là một biến chứng nặng Phương pháp thẩm

phân phúc mạc (TPPM) có hiệu quả, giảm được

chi phí điều trị và biến chứng so với chạy thận

nhân tạo hoặc lọc máu liên tục(1,7,3,6,4)

Tại đơn vị hồi sức tim (HST) – khoa Hồi

sức - Bệnh viện nhi đồng 2, trong năm đầu

thành lập (2009) tiếp nhận phẫu thuật cho 82

trường hợp bệnh tim bẩm sinh, năm 2012 tăng

lên 245 trường hợp(5) Bên cạnh những phẫu

thuật tim bẩm sinh thường gặp, bệnh viện đã

tiến hành phẫu thuật cho nhiều trường hợp

tim bẩm sinh phức tạp Do đó, số bệnh nhân

gặp biến chứng suy thận cấp sau phẫu thuật

tim càng tăng lên, bệnh nhân cần thẩm phân

phúc mạc ngày càng nhiều

Do đó, việc chăm sóc bệnh nhân sau phẫu

thuật tim có thẩm phân phúc mạc; theo dõi

lượng dịch vào ra đề phòng thừa dịch và thiếu

dịch là hết sức quan trọng, góp phần cứu sống

bệnh nhân qua giai đoạn nguy hiểm Tuy

nhiên, công tác chăm sóc bệnh nhân có thẩm

phân phúc mạc là bệnh nhân nhi thường khó

khăn hơn rất nhiều so với bệnh nhân người

lớn, đặc biệt là trên một bệnh nhân nhi vừa

sau một phẫu thuật tim

Vì vậy, chúng tôi làm nghiên cứu này nhằm

khảo sát công tác chăm sóc và theo dõi bệnh

nhân có thẩm phân phúc mạc sau phẫu thuật tim

tại khoa hồi sức bệnh viện Nhi Đồng 2 để phát

huy những mặt tốt và khắc phục những mặt còn

hạn chế để công tác chăm sóc bệnh nhân ngày

càng hoàn thiện hơn

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định tỉ lệ bệnh nhân có TPPM sau phẫu

thuật tim tại đơn vị hồi sức tim-Khoa hồi sức

Xác định tỉ lệ đặc điểm lâm sàng bệnh nhân

có TPPM

Xác định tỉ lệ các tai biến xảy ra: chảy máu, rỉ

dịch chân catheter, tắc catheter, tụt catheter, nhiễm trùng chân catheter

Xác định tỉ lệ điều dưỡng thực hiện đúng thao tác kỹ thuật TPPM

TỔNG QUAN Y VĂN

Thẩm phân phúc mạc là phương pháp sử dụng màng bụng của người bệnh làm màng lọc thay thế cho thận suy, để lọc các chất chuyển hóa, nước điện giải ra khỏi cơ thể người bệnh và giúp cân bằng nội môi

Với phương pháp thẩm phân phúc mạc, thay

vì được lọc máu bằng màng lọc nhân tạo bên ngoài cơ thể, máu sẽ được lọc bên trong cơ thể thông qua phúc mạc Đây là màng mỏng bao quanh bên ngoài các tạng trong ổ bụng

Nguyên tắc hoạt động của phương pháp thẩm phân phúc mạc

Dịch thẩm phân sẽ được đưa vào bụng thông qua ống thông Sau đó các chất độc sẽ được hấp thu bởi dịch thẩm phân bằng cơ chế khuếch tán và nước sẽ được hấp thu bởi sự chênh lệch nồng độ glucose có trong dịch thẩm phân và trong máu bệnh nhân thông qua phúc mạc Dịch lọc chứa các chất thải và nước sẽ được đưa ra ngoài và được thay thế bằng lượng dịch sạch mới cho lần thẩm phân sau

Phúc mạc cho phép các chất thải của cơ

thể thấm qua nó từ các mạch máu nhỏ Bằng

cách đưa một dung dịch thẩm phân vào khoang phúc mạc, thông qua 1 ống gọi là ống thông Tenckhoff, sau đó đưa ra ngoài trở lại, chất thải

có thể được lọc ra khỏi máu

Ưu điểm của phương pháp thẩm phân phúc mạc

Thẩm phân phúc mạc có thể cung cấp quá trình lọc máu tốt, hiệu quả cao nhưng cần phải được theo dõi cẩn thận Quá trình phải được thực hiện hằng ngày và chỉ ngưng tiến hành khi

có bất thường xảy ra

Trang 3

Nhược điểm của phương pháp thẩm phân

phúc mạc

Có thể có vấn đề nếu dịch bị rỉ ra vùng bẹn

hoặc xung quanh ống thông khi thẩm phân

Nhiễm trùng là nguy cơ lớn có thể xảy ra,

nhiễm trùng thường thấy trong lượng dịch thoát

ra hoặc ngay trong ổ bụng, quan trọng nhất là

viêm phúc mạc

Trong thời gian dài, phúc mạc có thể có hiện

tượng dày lên làm cho quá trình thẩm phân

không còn hiệu quả Dịch thẩm phân có thể cần

phải được thay đổi hoặc bệnh nhân phải đổi

sang phương pháp chạy thận nhân tạo

Nghẹt catheter

Tụt catheter(8)

Theo quy trình TPPM của BYT và quy trình

TPPM bệnh nhân nhi tại khoa Hồi sức, BV Nhi

Đồng 2 Gồm các bước như sau :

Bước 1: Mang khẩu trang, rửa tay thường

quy

Bước 2: Soạn dụng cụ

Bước 3: Gắn hệ thống thẩm phân

Kiểm tra túi dịch

Sát trùng tay nhanh

Mang găng vô khuẩn

Tách rời hai túi và hai dây

Cắt ngang dây dẫn dưới van xanh lá 0,5 cm

Bẻ van màu xanh lá

Gắn dây truyền dịch 20 giọt vào túi dịch

Treo túi dịch lên trụ treo, đuổi khí

Gắn vào ba chia gồm: catheter thẩm phân,

đầu nối còn lại của dây truyền dịch, túi đong

nước tiểu theo giờ

Bước 4: Gắn vào máy truyền dịch, cho dịch

vào theo y lệnh

Bước 5: Ngâm dịch

Bước 6: Xả dịch

Chu kỳ thẩm phân

Thông thường 1 chu kỳ 60 phút (có thể chu

kỳ 30 phút, 2 giờ hoặc 3 giờ tùy theo y lệnh Bác sĩ)

Thể tích dung dịch cho vào 1 chu kỳ dựa vào

số cân nặng của BN (kg) Thời gian cho dịch vào thường từ 10 – 20 phút

Thời gian lưu dịch trong ổ bụng khoảng 20 –

25 phút

Thời gian xả dịch ra khoảng 30 phút Bước 7: Dọn dẹp dụng cụ, rửa tay, ghi hồ sơ

Chăm sóc và theo dõi

Dung dịch thẩm phân phải làm ấm phù hợp với bệnh nhân

Khóa đường ra khi cho dịch vào, khóa đường vào khi cho dịch ra

Lượng dịch ra  lượng dịch vào

Theo dõi sát số lượng, tính chất, màu sắc của dịch ra

Theo dõi tình trạng ổ bụng nơi đặt catheter

Để tránh nghẹt catheter nên pha Heparin vào dung dịch thẩm phân

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Phương pháp nghiên cứu

Mô tả hàng loạt ca

Đối tượng nghiên cứu

Tất cả các bệnh nhân phẫu thuật tim hở tại khoa Hồi sức từ tháng 2/2015 đến tháng 9/2015

có chỉ định TPPM Điều dưỡng tham gia chăm sóc bệnh nhân

Phương pháp chọn mẫu

Chọn mẫu không xác suất

Cỡ mẫu

Lấy toàn bộ mẫu

Thu thập số liệu

Dựa vào:

Trang 4

- Bệnh án mẫu thiết kế sẵn (đính kèm)

- Phiếu chăm sóc và hồ sơ bệnh án

- Huấn luyện điều dưỡng quan sát

KẾT QUẢ

Qua thời gian nghiên cứu có 16 trường hợp

sau phẫu thuật tim có TPPM Chúng tôi ghi nhận

được một số kết quả như sau:

Tỉ lệ bệnh nhân có TPPM

Tại đơn vị Hồi sức tim từ 2/2015 - 9/2015 có

207 trường hợp phẫu thuật tim

Chỉ định TPPM: 16 trường hợp (7,7%)

Đặc điểm lâm sàng và bệnh lý mắc phải

Nhóm tuổi

Bảng 1: Nhóm tuổi

Nhóm tuổi Số lượng (n=16) Tỉ lệ (%)

Giới tính

Bảng 2: Giới tính

Giới tính Số lượng (n=16) Tỉ lệ (%)

Phân loại bệnh

Bảng 3: Phân loại bệnh

Chẩn đoán Số lượng (n=16) Tỉ lệ (%)

Hẹp khí quản,còn ống động

mạch

Nơi đặt catheter

Bảng 4: Nơi đặt catheter

Thời gian lưu catheter

Bảng 5: Thời gian lưu catheter

Lượng nước tiểu trước TPPM

Bảng 6: Lượng nước tiểu trước TPPM

Lượng nước tiểu sau TPPM Bảng 7: Lượng nước tiểu sau TPPM

Nước tiểu bình thường

Các tai biến Bảng 8: Các tai biến

Các tai biến Số lượng (n=16) Tỉ lệ (%)

Vùng da xung quanh catheter sưng nề

Trong đó

Bảng 9: Các tai biến

catheter

Thời gian lưu

Vùng da sưng

nề

Tỉ lệ Điều dưỡng tham gia chăm sóc bệnh nhân có TPPM đúng qui trình

Qua khảo sát có 12 điều dưỡng tham gia chăm sóc bệnh nhân có TPPM Kết quả như sau:

Trang 5

Bảng 10: Điều dưỡng tham gia chăm sóc bệnh nhân

có TPPM đúng qui trình

đúng (n=12)

Tỉ lệ(%)

Rửa tay trước khi chuẩn bị

dụng cụ

Theo dõi lượng dịch ra mỗi

chu kỳ

BÀN LUẬN

Thứ nhất, tỉ lệ bệnh nhân có TPPM do có

biến chứng suy thận sau phẫu thuật tim

khoảng gần 10% Tỉ lệ này phù hợp với tình

hình hiện tại là bệnh viện tiến hành phẫu

thuật cho nhiều trường hợp bệnh khó, phức

tạp hơn như chuyển vị đại động mạch (31,2%),

tứ chứng Fallot (25%) Trong đó,nhóm tuổi

chiếm tỉ lệ cao cần được TPPM là nhóm trẻ

dưới 1 tuổi (62,5%), kế đến là nhóm từ 1 đến 3

tuổi (37,5%) Với kết quả trên ta thấy, trong

năm vừa qua nhóm trẻ thường gặp biến

chứng nặng sau phẫu thuật tim tại khoa Hồi

sức là sơ sinh và nhũ nhi Điều này cho thấy

tuổi bệnh nhân càng nhỏ càng có nguy cơ xảy

ra biến chứng nặng sau phẫu thuật lớn như

phẫu thuật tim, và thủ thuật TPPM có biến

chứng suy thận trên những bệnh nhân nhi này

thường rất khó khăn, từ quy trình đặt catheter

của Bác sĩ cho đến quy trình chăm sóc và theo

dõi của điều dưỡng

Thứ hai, chúng tôi ghi nhận trong 16

trường hợp thì trước TPPM có 43,7% trường hợp có biểu hiện vô niệu, còn lại là thiểu niệu Sau TPPM, bệnh nhân phục hồi chức năng thận khá cao (62,5% bệnh nhân có nước tiểu bình thường) Điều này cho thấy TPPM thật sự

có hiệu quả đối với bệnh nhân nhi có tổn thương thận sau phẫu thuật tim Bên cạnh đó, bệnh nhân gặp tai biến trong TPPM chiếm tỉ lệ khá ít, chỉ có 2 trường hợp có dấu hiệu sưng

nề xung quanh chân catheter (12,5%), rỉ dịch chân catheter có 1 trường hợp (6,3%), 2 trường hợp biến chứng này có thời gian lưu catheter tương đối lâu ngày (8-14 ngày), nơi đặt catheter đều ở khoa Hồi sức tim Do đó,vấn đề đặt catheter ở nơi cần sự vô trùng cao như phòng mổ và rút catheter sớm khi hết chỉ định TPPM là rất cần thiết để phần nào làm giảm tỉ

lệ nhiễm khuẩn cho bệnh nhi cũng như giảm bớt chi phí điều trị Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Bùi Quốc Thắng và Yuji Hiramatsu năm 2012(2) là: TPPM là phương pháp đơn giản, an toàn, hiệu quả và kịp thời hồi phục chức năng thận sau phẫu thuật tim ở trẻ em và trẻ sơ sinh, biến chứng trong thẩm phân xảy ra ít

Thứ ba, kỹ thuật theo dõi và chăm sóc bệnh nhân nhi của điều dưỡng khá tốt Tuy nhiên, bên cạnh các bước đạt tỉ lệ cao nhất (100% điều dưỡng thực hiện), thì tỉ lệ điều dưỡng thay túi dịch đúng thời gian chỉ đạt 25%, tỉ lệ điều dưỡng

có thay băng chân catheter mỗi ngày, soạn dụng

cụ đầy đủ và có kiểm tra túi dịch đạt tỉ lệ chưa cao (66,7%) Điều này cũng phù hợp với tình hình hiện tại là bệnh nhân phẫu thuật tim ngày càng tăng, điều dưỡng trẻ ngày càng nhiều và chưa được đào tạo chuyên nghiệp về TPPM cho bệnh nhân nhi, còn lúng túng và thiếu sót trong thực hiện quy trình là khó tránh khỏi

Trang 6

KẾT LUẬN

Qua kết quả trên, chúng tôi có kết luận như

sau:

Nhóm tuổi thường gặp biến chứng suy thận

cấp cần TPPM là sơ sinh và nhũ nhi

Loại bệnh nhân có biến chứng suy thận cao

nhất là chuyển vị đại động mạch và tứ chứng

Fallot

TPPM tại đơn vị Hồi sức tim- khoa Hồi sức

đạt hiệu quả tốt và ít xảy ra biến chứng

Công tác chăm sóc bệnh nhân có TPPM khá

tốt, đa số điều dưỡng thực hiện tốt kỹ thuật theo

dõi và chăm sóc, tuy nhiên vẫn còn các bước

chưa hoàn chỉnh cần khắc phục

KIẾN NGHỊ

Qua kết quả trên, chúng tôi có kiến nghị như

sau:

Thường xuyên tái huấn luyện quy trình theo

dõi và chăm sóc bệnh nhân có TPPM

Tăng cường giám sát thực hiện quy trình

TPPM tại khoa Hồi sức, đặc biệt đơn vị Hồi sức

tim

Cần có đội ngũ điều dưỡng được đào tạo

chuyên nghiệp và hạn chế luân chuyển điều

dưỡng làm việc trong đơn vị HST

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bonilla–Félix M (2009), Peritoneal dialysis in the pediatric

intensive care unit setting Perit Dial Int; 29(Suppl 2):S183–5

2 Bùi Quốc Thắng, Yuji Hiramatsu (2012), Sử dụng phương pháp thẩm phân phúc mạc sau phẫu thuật bệnh lý tim bẩm

sinh ở trẻ em và trẻ sơ sinh Tạp chí y học Tập 16 Số 1 trang

388

3 Chan KL, Ip P, Chiu CS, Cheung YF (2003), Peritoneal dialysis after surgery for congenital heart disease in infants and young

children Ann Thorac Surg; 76:1443–9

4 Dittrich S, Dähnert I, Vogel M, Stiller B, Haas NA, Alexi– Meskishvili V, et al(1999), Peritoneal dialysis after infant open

heart surgery: observations in 27 patients Thorac Surg; 68:160–3

5 Huỳnh Thị Phương Thảo(2013) Khảo sát công tác chăm sóc

bệnh nhân sau mổ tim hở tại đơn vị Hồi sức tim - BV Nhi

đồng 2 sau 3 năm thành lập Tạp chí y học Tập 17 Số 6,trang 1

6 Pederson KR, Hjortdal VE, Christensen S, Pederson J, Hjortholm, Larsen S, et al (2008) Clinical outcome in children with acute renal failure treated with peritoneal dialysis after

surgery for congenital heart disease Kidney Int Suppl;

(108):S81–6

7 Ramage IJ, Beattle TJ (1999) Acute renal failure following

cardiac surgery Nephrol Dial Transplant; 14:2777

8 Ree L (2008) Peritoneal dialysis clinical practice guidelines for

http://www.renal.org/docs/default-source/special-interest- groups/bapn/clinical-standards/bapn-pd-standards-and-guidelines.pdf?sfvrsn=2 , xem 9/2015

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 06/6/2016

Ngày đăng: 15/01/2020, 20:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm