1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát hiệu quả giảm cân bằng phương pháp luyện tập dưỡng sinh trên bệnh nhân thừa cân béo phì

8 97 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 370,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khảo sát hiệu quả giảm cân và so sánh chất lượng cuộc sống của bệnh nhân thừa cân béo phì trước và sau khi tập dưỡng sinh 3 tháng.

Trang 1

KHẢO SÁT HIỆU QUẢ GIẢM CÂN BẰNG PHƯƠNG PHÁP LUYỆN TẬP

DƯỠNG SINH TRÊN BỆNH NHÂN THỪA CÂN BÉO PHÌ

Ngô Viên Thành*, Nguyễn Mạnh Trí ** , Phạm Huy Hùng *

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Thừa cân béo phì là một trong những vấn đề thường gặp ở các quốc gia phát triển và đang phát

triển, nhất là ở đô thị làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống cũng như yếu tố nguy cơ về bệnh tật Hiện nay có nhiều phương pháp điều trị Tây y, Đông y kết hợp; trong đó phương pháp dưỡng sinh (PPDS) mang lại hiệu quả đáng kể

Mục tiêu: Khảo sát hiệu quả giảm cân và so sánh chất lượng cuộc sống của bệnh nhân thừa cân béo phì

trước và sau khi tập dưỡng sinh 3 tháng

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 39 bệnh nhân được chẩn đoán thừa cân béo phì được điều trị tại

Viện Y học dân tộc Hồ Chí Minh Phương pháp nghiên cứu trước-sau (before – after study) với mục tiêu là điểm

số trung bình trong thang điểm chất lượng cuộc sống (WHOQOL-BREF) với sai số không quá 2 điểm

Kết quả: Điểm số trung bình về mặt sức khỏe thể chất trước khi nghiên cứu là 7,38 ± 4,63, điểm số

trung bình mặt sức khỏe sau khi nghiên cứu là 10,56 + 3,91, điểm số giảm trung bình là 3,17 ± 3,53 (p < 0,05) Chỉ số cân nặng giảm sau khi điều trị so với trước khi điều trị là 1,73 ± 2,108 (p < 0,05), chỉ số BMI giảm sau khi điều trị so với trước khi điều trị là 0,938 ± 0,911 (p < 0,05), chỉ số vòng eo giảm sau khi điều trị so với trước khi điều trị là 1,48 ± 1,53 (p < 0,05) Tác dụng phụ sau khi tập dưỡng sinh cao nhất là nhức mỏi cơ thể chiếm tỷ lệ 35,9% số người nghiên cứu

Kết luận: PPDS làm tăng chất lượng cuộc sống về mặt sức khỏe thể chất và có hiệu quả giảm cân

của bệnh nhân thừa cân béo phì trước và sau khi tập dưỡng sinh trong 3 tháng

Từ khoá: Béo phì, Thừa cân, Phương pháp dưỡng sinh

ABSTRACT

SURVEY ON WEIGHT LOSS EFFECTIVENESS BY NOURISHING LIFE METHODS

IN OBESITY PATIENT

Ngo Vien Thanh, Nguyen Manh Tri, Pham Huy Hung

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol 22 - No 5- 2018: 142 - 149

Background: Overweight and obesity is one of the most common problems in developed and developing

countries, especially in urban areas, which affects the quality of life as well as risk factors for disease Nowaday, there are many Western and Oriental therapies, in which the method of nourishing brings significant effects

Objectives: Study on weight loss effectiveness and compare life quality of overweight, obesity patients before

and after 3 months of training nourishing method

Methods: 39 patients were diagnosed with overweight, obesity treated at the Ho Chi Minh Institute of

Traditional Medicine The study was designed by before – after study with the goal of average score on the quality

of life scale (WHOQOL-BREF score) with no more than 2 points errors

Khoa Y học cổ truyền - Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh

**

Bộ môn Y học cổ truyền - Đại học Y Phạm Ngọc Thạch

Trang 2

Results: The mean score on physical health before study was 7.38 ± 4.63, the mean score on physical health

after study was 10.56 ± 3.91, the decrease median score was 3.17 ± 3.53 (p < 0.05) The weight index decreased after treatment compared before treatment was 1.73 ± 2.108 (p < 0.05) The BMI reduced after treatment compared before treatment (0.938 ± 0.911) (p < 0.05), the waist index declined after treatment was 1.48 ± 1.53 (p

< 0.05) The most common side effects were body aches which accounted for 35.9% of the patients

Conclusion: Nourishment method make to increase the quality of life in terms of physical health and

weight-loss effects of overweight and obesity patients before and after 3 months

Keywords: Obesity, Overweight, Nourishing life method

ĐẶT VẤN ĐỀ

Cũng như các nước đang phát triển,

những thay đổi lối sống một cách nhanh

chóng trong vài thập kỉ trở lại đây, Việt Nam

đã chứng kiến sự gia tăng nhanh chóng của

tình trạng thừa cân, béo phì trong dân số…

Theo thống kê của WHO, trong năm 2014 tỉ lệ

người lớn béo phì là 20,6% tăng hơn 15% so

với năm 2010 (17,4%)(7) Béo phì từng được coi

là một vấn đề của quốc gia có thu nhập cao

Nhưng hiện tại, thừa cân và béo phì đang gia

tăng ở các nước thu nhập thấp và thu nhập

trung bình, đặc biệt là ở đô thị Béo phì là yếu

tố nguy cơ chính của các bệnh tim mạch, đái

tháo đường, rối loạn cơ xương, gây ảnh hưởng

đến đời sống của người bệnh(3) Thừa cân và

béo phì, cũng như các bệnh không truyền

nhiễm, phần lớn là phòng ngừa được(5) Sự

phòng ngừa đó được thể hiện thông qua việc

hình thành sự lựa chọn lành mạnh của người

dân về các loại thực phẩm và hoạt động thể

chất thường xuyên(7)

Phương pháp dưỡng sinh (PPDS) của bác sĩ

Nguyễn Văn Hưởng là phương pháp được xây

dựng dựa trên cơ sở kinh nghiệm y học cổ

truyền của dân tộc ta, có tham khảo thêm về khí

công của Trung Quốc, Yoga của Ấn Độ và lấy

học thuyết của Pavlop làm cơ sở y học hiện đại

để giải thích cụ thể các cơ chế thủ thuật động

tác(6) … Các kĩ thuật ấy kết hợp thành một hệ

thống toàn diện, tổng hợp liên hoàn nếu áp dụng

đúng sẽ xây dựng được sức khỏe toàn diện về

mặt thể xác và tinh thần(4)

Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu khảo sát, đánh giá hiệu quả giảm cân của các phương pháp tập thể dục, ăn kiêng, khí công, Yoga trên bệnh nhân thừa cân béo phì, nhưng tại Việt Nam chưa tìm thấy nghiên cứu nào về hiệu quả giảm cân của phương pháp dưỡng sinh

Câu hỏi nghiên cứu

Phương pháp dưỡng sinh có hiệu quả làm giảm cân trên những người thừa cân béo phì hay không?

Mục tiêu nghiên cứu

Khảo sát hiệu quả giảm cân của việc tập

DS đối với bệnh nhân thừa cân béo phì trong

3 tháng

So sánh chất lượng cuộc sống về mặt sức khỏe thể chất của bệnh nhân thừa cân béo phì trước và sau khi tập dưỡng sinh 3 tháng

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân BMI> 23 đến điều trị tại viên Y Học Dân Tộc TPHCM, trong thời gian từ tháng

10 năm 2015 đến tháng 7 năm 2016

Cỡ mẫu

39 trường hợp

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Bệnh nhân được chẩn đoán xác định là thừa cân béo phì theo tiêu chuẩn của WHO(8) (Bảng 1)) Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu Bệnh nhân đến khám bệnh trong thời gian nghiên cứu được chọn liên tiếp

Trang 3

Bảng 1 Bảng đánh giá BMI theo chuẩn của Tổ chức

Y tế thế giới và dành riêng cho người châu Á

(kg/m2)

IDI & WPRO BMI (kg/m2)

Cân nặng thấp (gầy)

Bình thường 18,5-24,9 18,5-22,9

Thừa cân 25 23

Tiền béo phì 25-29,9 23-24,9

Béo phì độ I 30-34,9 25-29,9

Béo phì độ II 35-39,9 30

Béo phì độ III 40 40

Tiêu chuẩn loại trừ khỏi mẫu

Bệnh nhân tâm thần

Bệnh nhân có các cấp tính, cấp cứu, ngoại khoa

Bệnh nhân có tiền căn suy tim

Bệnh nhân có hội chứng liệt nửa người, hai

chi dưới, liệt tứ chi

Bệnh nhân có các bệnh về khớp nặng

Bệnh nhân không đồng ý tham gia quá trình

nghiên cứu

Bệnh nhân tự ý bỏ trong quá trình nghiên cứu

Bệnh nhân không có khả năng nghe và hiểu

tiếng Việt tốt

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu đoàn hệ, so sánh trước - sau

Các bước tiến hành nghiên cứu

Trước khi nghiên cứu

Liên hệ phòng kế hoạch tổng hợp, trưởng

khoa Dưỡng Sinh trưởng phòng khám béo phì

của Viện Y Học Dân Tộc TP.HCM

Sau khi đã được chấp thuận, các bệnh

nhân đến khám tại phòng khám béo phì được

chẩn đoán là thừa cân béo phì được mời vào

nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu: 3 tháng Trong 3 tháng

đó, bệnh nhân đi tập dưỡng sinh đều đặn 5

ngày/ tuần, mỗi ngày 1 tiếng Có 3 khung giờ cho

bệnh nhân lựa chon: 6 giờ 30 đến 8 giờ, từ 8 giờ

đến 9 giờ 30, chiều từ 14 giờ đến 15 giờ 30 Các

động tác dưỡng sinh sẽ được xoay vòng để mỗi

tuần đều tập được 60 động tác dưỡng sinh

Ngoài ra trong khi tập, các nhân viên của khoa Dưỡng sinh sẽ theo dõi, sữa chữa những động tác làm sai

Thời điểm phỏng vấn bệnh nhân: trước khi tập dưỡng sinh và sau khi tập dưỡng sinh 3 tháng Bệnh nhân được người nghiên cứu phỏng vấn trực tiếp dựa trên bảng đánh giá chất lượng cuộc sống của WHO về mặt sức khỏe thể chất

Khi tiến hành nghiên cứu

Hỏi, đo cân nặng chiều cao, huyết áp, đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân về mặt sức khỏe thể chất trước khi tập dưỡng sinh, dựa vào bộ câu hỏi WHOQOL-BRE(9)

Hướng dẫn bệnh nhân tập Dưỡng sinh đều đặn, theo dõi bệnh nhân trong quá trình tập luyện, trợ giúp bệnh nhân Bệnh nhân sẽ được tập luân phiên 60 động tác tương ứng với giáo

án của khoa Dưỡng Sinh, Viện Y học dân tộc Tp.HCM

Sau 3 tháng đánh giá lại chất lượng cuộc sống về mặt sức khỏe thể chất của bệnh nhân

Từ các dữ liệu đã có tiến hành tổng hợp kết quả, phân tích và rút ra kết luận

Chỉ tiêu đánh giá kết quả nghiên cứu

Đặc điểm các chỉ số nhân trắc của đối tượng nghiên cứu: cân nặng, chiều cao, BMI: dựa vào thăm khám lâm sàng

Đánh giá chất lượng cuộc sống về mặt sức khỏe thể chất của bệnh nhân dựa vào bộ câu hỏi WHOQOL-BREF(9) Bộ câu hỏi đánh giá chất lượng cuộc sống của WHO: WHOQOL-BREF đã được chứng minh là có hiệu lực, và được sử dụng như là công cụ đo chất lượng cuộc sống của bệnh nhân trên toàn thế giới, được WHO dịch ra nhiều thứ tiếng, có độ nhạy và đặc hiệu cao WHOQOL-BREF gồm có các phần:

Tổng quát về chất lượng cuộc sống và sức khỏe (Overall Quality of Life and General Health)

Sức khỏe thể chất (Physical Health)

Vấn đề về tâm lý (Psychological)

Các mối quan hệ xã hội (Social relationships)

Trang 4

Môi trường sống (Enviroment)

Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy việc thay

đổi chất lượng cuộc sống về mặt môi trường

sống, các mối quan hệ xã hội, các vấn đề tâm

lý là không khả thi Do đó, trong nghiên cứu

này chúng tôi chọn mặt sức khỏe thể chất làm

mục tiêu chính để đánh giá chất lượng cuộc

sống của bệnh nhân Gồm có 7 câu hỏi, mỗi

câu có 5 mức độ trả lời tương ứng với điểm từ

1 đến 5; bệnh nhân đọc và khoanh câu trả lời

phù hợp nhất; một lần trước khi tập dưỡng

sinh, lần thứ nhì sau khi tập dưỡng sinh 3

tháng Bảy câu hỏi như sau:

Về mặt nào đó, ông/bà có thường bị đau

nhức / tê mỏi cơ thể không?

Ông/bà có phải thường xuyên phải dùng

thuốc (thuốc uống đông/tây y; thuốc tiêm/bôi)?

Mức

độ

Không

bao giờ

Hiếm khi

Thỉnh thoảng

Khá thường xuyên

Thường xuyên

Điểm 1 2 3 4 5

Ông/bà có đủ năng lượng trong các hoạt

động hàng ngày không?

Mức

độ

Hoàn toàn

không

Một chút

Vừa

Điểm 1 2 3 4 5

Khả năng đi lại của ông / bà như thế nào?

Mức độ hài lòng của ông/bà đối với giấc ngủ

như thế nào?

Mức độ Hoàn toàn

không

Một chút

Bình thường Hài lòng

Rất hài lòng Điểm 1 2 3 4 5

Mức độ hài lòng của ông/bà đối với các

hoạt động tự chăm sóc (tắm rửa, vệ sinh ) như

thế nào?

Mức độ hài lòng của ông / bà về năng lực

làm việc (kinh nghiệm, kỹ năng …) của mình

như thế nào?

Mức

độ

Hoàn toàn

không

Một chút

Bình thường Hài lòng

Rất hài lòng

Điểm 1 2 3 4 5

Kiểm soát yếu tố gây sai số

Các số liệu nhân trắc và đo HA: Người

nghiên cứu trực tiếp đó cân nặng, đo chiều cao,

HA từ đầu đến cuối nghiên cứu bằng cùng loại cân, cùng thước đo chiều cao và cùng dụng cụ

đo HA Sử dụng các công cụ chuẩn (cân, thước)

và sử dụng kỹ thuật chính xác, thực hiện đúng theo thường quy và thống nhất phương pháp điều tra trong tất cả điều tra viên để tránh sai số

do người đo và dụng cụ

Xử lý số liệu

Số liệu được thu thập bằng các mẫu (trong phần phụ lục), được nhập vào máy vi tính và xử

lý bằng phần mềm excel 2007

Phép kiểm Student-T được sử dụng để so sánh các giá trị trung bình trước khi tập dưỡng sinh và sau khi tập dưỡng sinh 3 tháng

Các biến số định tính được trình bày dưới dạng tỉ lệ phần trăm: giới tính, dân tộc, nơi cư trú, tôn giáo, nghề nghiệp, trình độ học vấn, tình trạng kinh tế

Các biến số định lượng được trình bày dưới dạng trung bình và độ lệch chuẩn: tuổi, huyết

áp, cân nặng, chiều cao, BMI

Sử dụng chỉ số Skewness, sai số chuẩn của chỉ số Skewness (SE of Skewness), chỉ số Kurtosis, sai số chuẩn của chỉ số Kurtosis (SE of Kurtosis) để đánh giá biến định lượng có phân phối chuẩn hay không Chỉ số Skewness dùng để đánh giá sự mất đối xứng của biến định lượng, chỉ số Kurtosis đánh giá mức độ nhọn của phân phối Chấp nhận biến định lượng là phân phối chuẩn nếu: Tỉ số ׀ Skewness / SE of Skewness ׀ <

2 và ׀ Skewness / SE of Kurtosis ׀ < 2

KẾT QUẢ Đặc điểm dịch tễ

N=39 (nam: 2, nữ: 37), tuổi TB: 60,2 + 9,6, BMI trung bình: 25,4 + 2.1

Tiền căn và bệnh lý kèm theo: thoái hóa khớp: 48,7%, đái tháo đường: 17,9%, tăng huyết áp: 30,8%, RLLM: 51,3%, RL giấc ngủ: 23,1%, Hen: 10,3%, TMCT: 10,3%, UT phổi 2,6%, không: 5,1%

Trang 5

Biến số cân nặng, vòng eo, BMI trước và

sau khi tập dưỡng sinh không có phân phối

chuẩn Sau khi tập dưỡng sinh: cân nặng, chu

vi vòng eo, BMI giảm so với trước khi tập

Bảng 2 Đặc điểm chỉ số nhân trắc của nhóm nghiên cứu TRƯỚC và SAU tập, N = 39

N= 39

Trung bình 60,02 ± 58,29 ± 153,53 ± 153,53 ± 90,97 ± 89,49 ± 25,44 ± 24,7 ±

6,612 5,876 5,139 5,139 7,457 6,684 2,193 2,103 Chỉ số cao nhất 83 77 165 165 118 112 36,4 33,77 Chỉ số thấp nhất 50 46 145 145 78 78 23,2 21,58 Chỉ số Skewness 1,36 0,776 0,547 0,547 1,071 0,871 3,325 2,446 Sai số chuẩn của chỉ

số Skewness 0,378 0,378 0,378 0,378 0,378 0,378 0,378 0,378 Chỉ số Kurtosis 3,990 1,855 -0,208 -0,208 3,102 1,887 16,286 9,985 Sai số chuẩn của chỉ

số Kurtosis 0,741 0,741 0,741 0,741 0,741 0,741 0,741 0,741

Bảng 3 Điểm số đánh giá chất lượng cuộc sống về mặt sức khỏe thể chất, N = 39

Trung bình 7,38 ± 4,63 10,56 ± 3,91 3,17 ± 3,53

Điểm cao nhất 18 18 15

Chỉ số Skewness 0,002 -0,218 1,148

Sai số chuẩn của chỉ số 0,378 0,378 0,378

Chỉ số Kurtosis -0,686 -0,271 2,446

Sai số chuẩn của chỉ số Kurtosis 0,741 0,741 0,741

Bảng 4 So sánh mức độ giảm cân của những người

thừa cân và những người béo phì

Cân nặng giảm

Phân loại Số lượng Trung bình

Thừa cân 18 1,194 ± 1,963 Béo phì 21 2,19 ± 2,164

t – test -1,494

Độ tự do (df) 37

Nhận xét: Mức giảm cân nặng giảm ở hai

nhóm thừa cân và béo phì không khác nhau

Bảng 5 Tác dụng phụ sau khi tập dưỡng sinh

Mệt mỏi 12 30,77

Nhức mỏi cơ thể 14 35,9

Ăn không ngon 3 7,69

Rối loạn giấc ngủ 3 7,69

BÀN LUẬN

Đặc điểm chỉ số nhân trắc học trước và sau khi

tập dưỡng sinh

Theo nghiên cứu của Pan HJ và cộng sự, chỉ

số cân nặng giảm sau khi điều trị so với trước

khi điều trị là 6,9 + 5,2 (p < 0,05), chỉ số BMI giảm

sau khi điều trị so với trước khi điều trị là 2,5 +

1,8 (p < 0,05), chỉ số vòng eo giảm sau khi điều trị

so với trước khi điều trị là 5,9 + 4,7 (p < 0,05)(5) Trong nghiên cứu của chúng tôi, chỉ số cân nặng giảm sau khi điều trị so với trước khi điều trị là 1,73 + 2,108 (p < 0,05), chỉ số BMI giảm sau khi điều trị so với trước khi điều trị là 0,938 + 0,911 (p

< 0,05), chỉ số vòng eo giảm sau khi điều trị so với trước khi điều trị là 1,48 + 1,53 (p < 0,05) Theo y văn, béo phì là do tình trạng cân bằng dương tính và sự tích lũy năng lượng tăng do năng lượng nạp vào quá nhiều trong khi đó năng lượng tiêu hao lại giảm(1) Do đó, việc giảm cân nhất thiết phải có chế độ ăn giảm năng lượng và tăng cường tiêu hao năng lượng bằng cách vận động thân thể

Trong nghiên cứu của Pan HJ và cộng sự, họ

đã sử dụng tổng hợp hai yếu tố này trong nghiên cứu của mình, còn trong nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu là tăng năng lượng tiêu hao thông qua việc tập dưỡng sinh Do đó việc giảm cân, BMI, vòng eo của nghiên cứu của chúng tôi

thấp hơn nghiên cứu của họ là hợp lý

Trang 6

Đánh giá chất lượng cuộc sống về mặt sức khỏe

thể chất trước và sau khi tập dưỡng sinh

Dưỡng sinh là một phương pháp tổng hợp

toàn diện, gồm có các nội dung chính: luyện thư

giãn, thở 4 thời có kê mông và giơ chân, tập thể

dục xoa bóp yoga, vấn đề ăn uống sử dụng chất

kích thích, thái độ tâm thần trong cuộc sống, vấn

đề lao động nghỉ ngơi, vấn đề vệ sinh phòng

bệnh Các nội dung này nếu kết hợp một cách

đúng đắn sẽ xây dựng được sức khỏe toàn diện

về mặt thể xác và tinh thần Trong bộ câu hỏi

nghiên cứu về đánh giá chất lượng cuộc sống

của WHO được chia làm 4 nhóm chính: sức khỏe

thể chất (Physical Health), vấn đề về tâm lý

(Psychological), các mối quan hệ xã hội (Social

relationships), môi trường sống (Envitoment)

Nhưng chúng tôi nhận thấy các câu hỏi của

nhóm môi trường sống, các mối quan hệ xã hội,

vấn đề tâm lý không thể thay đổi trong vòng 3

tháng nghiên cứu được Do đó chúng tôi chọn

nhóm sức khỏe thể chất là mục tiêu theo dõi

chính để đánh giá chất lượng cuộc sống của

bệnh nhân Theo nghiên cứu của Pan HJ và cộng

sự, điểm số trung bình về mặt sức khỏe thể chất

trước khi nghiên cứu là 13,87 + 1,86, điểm số

trung bình về mặt sức khỏe thể chất sau khi

nghiên cứu là 14,63 + 1,59, điểm số tăng trung

bình là 0,7 + 1,7(5) Trong nghiên cứu của chúng

tôi, điểm số trung bình về mặt sức khỏe thể chất

trước khi nghiên cứu là 7,38 + 4,63, điểm số trung

bình mặt sức khỏe sau khi nghiên cứu là 10,56 +

3,91, điểm số tăng trung bình là 3,17 + 3,53 Điểm

số trung bình trước khi nghiên cứu của mẫu

chúng tôi thấp hơn so với nghiên cứu của họ

Điều này có thể được giải thích là do thiết kế

nghiên cứu khác nhau Ở nghiên cứu của Pan

HJ, họ nhận mẫu từ những người tình nguyện

tham gia nghiên cứu và không có tiền căn bệnh

tật nào Còn trong nghiên cứu của chúng tôi

được thực hiện tại bệnh viện, bệnh nhân đa số là

những người quan tâm đến sức khỏe của họ,

đến khám chữa bệnh béo phì (hoặc các bệnh

khác) được chúng tôi mời vào tham gia nghiên

cứu Vì vậy chất lượng cuộc sống trong nhóm

nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với nghiên cứu của Pan HJ

Điểm số chất lượng cuộc sống về mặt sức khỏe thể chất tăng trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi tăng nhiều hơn so với nghiên cứu của Pan HJ Mặc dù nghiên cứu của họ tác động đầy đủ vào 2 yếu tố giảm năng lượng nhập vào

và tăng cường lượng tiêu hao Nguyên nhân của

sự khác biệt t hỏi đánh giá sự hài lòng về giấc ngủ của bệnh nhân Năm 1975 Karacan, Thornby

và Williams nghiên cứu trên 2347 cư dân nội thị của Houston (Hoa Kỳ) thấy rằng có 25,4% than phiền vì thỉnh thoảng bị rối loạn giấc ngủ và 6% thường xuyên Một nghiên cứu sâu rộng hơn trên mẫu đại diện cho dân số Hoa Kỳ trong độ tuổi 18 – 79 của Méllinger, Balter, Uhlenhuthn vào 1985 cho thấy có 35% thỉnh thoảng bị mất ngủ trong vòng 1 năm nay và 17% nói rằng tình trạng mất ngủ của họ là nghiêm trọng Nguyên nhân của mất ngủ được chia làm 2 nhóm là nhóm căn nguyên thần kinh và nhóm tâm thần kinh trong đó có rối loạn căng thẳng lo âu Trong nghiên cứu của bệnh viện tâm thần Tp Hồ Chí Minh thực hiện năm 2007, tỷ lệ người bệnh có triệu chứng mất ngủ là 18,3% Trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ rối loạn giấc ngủ chiếm tỷ lệ 23,08% tương đương với nghiên cứu nước ngoài

và cao hơn so với nghiên cứu trong nước Trong các động tác dưỡng sinh có 2 động tác rất quan trọng đó là động tác thư giãn và thở 4 thời có kê mông và giơ chân Thư giãn là động tác nghỉ ngơi chủ động, trong đó toàn bộ hoạt động của

hệ thần kinh và cơ bắp giảm đến mức thấp nhất, nói cách khác là luyện quá trình ức chế của hệ thần kinh Thở 4 thời có kê mông và giơ chân là một phép luyện tổng hợp về khí (hô hấp), huyết (tuần hoàn), và thần (thần kinh), chủ yếu là luyện thần kinh điều hòa hai quá trình hưng phấn và ức chế(6) Cả 2 động tác này giúp cho con người giảm bớt căng thẳng, tái lập sự thăng bằng của 02 quá trình hưng phấn và ức chế giúp cho người bệnh ngủ tốt hơn Cụ thể trong nghiên cứu của chúng tôi, sự khác biệt về điểm số (trong câu hỏi: Mức độ hài lòng của ông bà với giấc ngủ

Trang 7

của mình như thế nào?) trước và sau khi tập

dưỡng sinh rất rõ ràng với (p < 0,05)

Từ đó chúng ta thấy được tính ưu việt của

phương pháp Dưỡng sinh của bác sĩ Nguyễn

Văn Hưởng trong việc cải thiện chất lượng cuộc

sống về mặt sức khỏe thể chất của bệnh nhân

thừa cân béo phì

So sánh mức độ giảm cân giữa những người

thừa cân và béo phì

Bệnh nhân béo phì có BMI cao hơn so với

bệnh nhân thừa cân Do đó thông thường chúng

ta trông họ mập hơn, chậm chạp hơn, và việc

thực hiện các động tác dưỡng sinh cũng sẽ gặp

khó khăn hơn Tuy nhiên, trong nghiên cứu này,

do người thực hiện đề tài theo dõi họ xuyên suốt

3 tháng trong quá trình nghiên cứu, động viên

hỗ trợ họ khi gặp khó khăn Kèm theo đó, các

huấn luyện viên trong khoa Dưỡng sinh của

Viện Y Dược học dân tộc cũng rất nhiệt tình

trong việc hướng dẫn họ tập một phần động tác

rồi từ từ triển khai toàn bộ động tác Trường hợp

không tập được động tác chính thức, bệnh nhân

được hướng dẫn tập động tác biến thể dễ làm

hơn nhưng vẫn đảm bảo thở đúng và số lần

trong ngày Vì lí do trên nên trong nghiên cứu

của chúng tôi, cân nặng giảm trung bình ở hai

nhóm bệnh nhân thừa cân và nhóm bệnh nhân

béo phì là không khác nhau với p < 0,05

Các tác dụng phụ sau khi tập dưỡng sinh

Các tác dụng phụ của dưỡng sinh được đề

cập đến trong y văn đó là: mệt mỏi, ăn không

ngon, rối loạn giấc ngủ, đau nhức cơ thể, sụt cân,

thở nhanh, đánh trống ngực Các triệu chứng

này nếu kéo dài trên 3 ngày sau tập dưỡng sinh

thì được xem là tập quá sức(2) Trong nghiên cứu

của chúng tôi, tác dụng phụ sau khi mới tập

dưỡng sinh trong vòng 3 ngày, cao nhất là nhức

mỏi cơ thể chiếm tỷ lệ 35,9% số người nghiên

cứu Tác dụng phụ mệt mỏi sau khi tập dưỡng

sinh chiếm tỷ lệ 30,77% số người nghiên cứu Tác

dụng phụ ăn không ngon miệng sau khi tập

dưỡng sinh chiếm tỷ lệ 7,69% số người nghiên cứu Tác dụng phụ rối loạn giấc ngủ sau khi tập dưỡng sinh chiếm tỷ lệ 7,69% số người nghiên cứu Bệnh nhân thừa cân béo phì thường ít vận động dẫn đến năng lượng tiêu hao thấp làm cho cán cân năng lượng luôn dương(1) Do ít vận động trong thời gian dài nên những ngày đầu sau khi tập dưỡng sinh, các cơ hoạt động quá sức, thiếu nguồn cung cấp năng lượng, thiếu oxi, dẫn đến chuyển hóa theo con đường yếm khí sinh ra acid lactic làm giảm độ pH tại chỗ gây nên tình trạng nhức mỏi cơ thể, mệt mỏi(2) Các bệnh nhân có tình trạng ăn uống kém và ngủ kém luôn đi kèm với tình trạng mệt mỏi, nhức mỏi cơ thể

KẾT LUẬN

Nghiên cứu quan sát trước sau, thực hiện tại Viện Y Dược học Dân Tộc Tp Hồ Chí Minh trong 3 tháng trên 39 bệnh nhân thừa cân béo phì bằng phương pháp dưỡng sinh gợi ý:

Tập luyện dưỡng sinh có hiệu quả giảm cân trên bệnh nhân thừa cân béo phì sau 3 tháng Tập luyện dưỡng sinh làm tăng chất lượng

về mặt sức khỏe thể chất trên bệnh nhân thừa cân béo phì

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 American Heart Association, American College of Cardiology, Obesity Society (2014) “Reprint: 2013 AHA/ACC/TOS Guideline for the Management of Overweight

and Obesity in Adults” J Am Pharm Assoc; 54(1): e3

2 Đại Học Y Dược Tp.HCM (2003) Chuyển hóa năng lượng Sinh lý

học y học - tập 2 Nhà xuất bản Y học, TP Hồ Chí Minh

3 Kaur S, Kapil U, Singh P (2005) "Pattern of chronic diseases amongst adolescent obese children in developing countries"

Current science; 88(7): 1052

4 Nguyễn Văn Hưởng, Huỳnh Uyển Liên (2009) Phương pháp

Dưỡng Sinh Nhà xuất bản Y học, TP Hồ Chí Minh, tr 32-46

5 Pan HJ, Cole BM, Geliebter A (2011) "The benefits of body

weight loss on health-related quality of life" J Chin Med Assoc,

74(4): 169-175

6 Phạm Huy Hùng (Ed.) (2004) Phương pháp Dưỡng Sinh Nhà

xuất bản Y học, TP Hồ Chí Minh, tr 57-61

Trang 8

7 World Health Organization (2015) Obesity and overweight

http://www.who.int/mediacentre/factsheets/fs311/en/

8 World Health Organization (2015) Overweight (body mass index

>= 25) (age-standardized estimate) Data by country

http://apps.who.int/gho/data/node.main.A897A?lang=en

9 World Health Organization (1997) WHOQOL-BREF

http://www.who.int/iris/bitstream/10665/77932/1/WHO_HIS_H

SI_Rev2012.03_eng.bdf

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 20/06/2018

Ngày đăng: 15/01/2020, 20:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w