Các chế định cơ bản của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam……… 2.1.3.Nhận xét thực trạng pháp luật về xử lý vi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
Bùi Thị Kim Cúc
THẨM QUYỀN XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT BIỂN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Lý luận lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số : 60 38 01
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2Mục lục Trang
1.1.1.Quan niệm vi phạm pháp luật hành chính trên các lĩnh vực
thuộcthẩm quyền xử lý của Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam……… 1.1.2.Đặc điểm của vi phạm hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền xử lý của Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam……… 1.1.3.Khái niệm, đặc điểm xử lý vi phạm hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền xử lý của Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam
1.2.Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam………
1.2.1 Quan niệm về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của Lực
lượng Cảnh sát biển Việt Nam……… 1.2.2 Pháp luật về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của Lực
lượng Cảnh sát biển Việt Nam……… 1.2.3 Pháp luật về công tác phối hợp xử lý vi phạm hành chính của
Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam……… 1.2.4.Vị trí, vai trò của Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam…………
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT BIỂN VIỆT NAM …
2.1.Thực trạng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam………
2.1.1 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam………
2.1.2 Các chế định cơ bản của pháp luật về xử lý vi phạm hành
chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam……… 2.1.3.Nhận xét thực trạng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của lực lượng Cảnh sát
Trang 3Mục Lục
vực thuộc thẩm quyền của Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam……
1.1.1.Quan niệm vi phạm pháp luật hành chính trên các lĩnh vực
thuộc thẩm quyền xử lý của Lực lượng Cảnh sát biển Việt
Nam ………
1.1.2.Đặc điểm của vi phạm hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm
quyền xử lý của Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam …………
1.1.3.Khái niệm, đặc điểm xử lý vi phạm hành chính trên các lĩnh
vực thuộc thẩm quyền xử lý của Lực lượng Cảnh sát biển Việt
Nam………
1.2.Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của Lực lượng Cảnh sát
biển Việt Nam ………
1.2.1 Quan niệm về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của Lực
lượng Cảnh sát biển Việt Nam………
1.2.2 Pháp luật về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của Lực
lượng Cảnh sát biển Việt Nam………
1.2.3 Pháp luật về công tác phối hợp xử lý vi phạm hành chính của
Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam………
1.2.4.Vị trí, vai trò của Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam………
Trang 4CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT BIỂN VIỆT NAM …
2.1.Thực trạng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam………
2.1.1 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về xử lý vi phạm
hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Lực
lượng Cảnh sát biển Việt Nam……… 2.1.2 Các chế định cơ bản của pháp luật về xử lý vi phạm hành
chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Lực lượng
Cảnh sát biển Việt Nam………
2.1.3.Nhận xét thực trạng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của lực lượng Cảnh sát
biển Việt Nam ………
2.2.Tình hình vi phạm pháp luật hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền xử lý vi phạm của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam………
2.2.1.Trong lĩnh vực an ninh, trật tự an toàn trên biển Việt Nam…
2.2.2.Trong lĩnh vực thương mại………
2.2.3.Trong lĩnh vực thuế; hải quan; kiểm dịch động thực vật và các
lĩnh vực khác có liên quan………
2.2.4.Trong lĩnh vực đăng ký tàu biển và thuyền viên; vi phạm về
an toàn sinh mạng người và tàu; phòng chống cháy nổ đối với tàu, thuyền………
2.2.5.Vi phạm hành chính trong Vùng đánh cá chung Vịnh Bắc Bộ …
2.3.Thực tiễn xử lý vi phạm hành chính của lực lượng Cảnh sát biển từ năm 2003 đến 2009
Trang 52.3.1.Những kết quả đạt được trong việc xử lý vi phạm hành chính
của Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam………
2.3.2.Hạn chế trong việc xử lý vi phạm hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam… …
2.3.3 Nguyên nhân của hạn chế………
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT BIỂN VIỆT NAM………
3.1.Hoàn thiện hệ thống pháp luật vể xử lý vi phạm hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam ………
3.2.Hoàn thiện về tổ chức bộ máy và công tác cán bộ ……… ………
3.2.1.Hoàn thiện về tổ chức bộ máy………
3.2.2.Về công tác cán bộ………
3.3.Tuyên truyền, giáo dục pháp luật………
KẾT LUẬN………
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………
PHỤ LỤC………
77 80 84 84 93 93 93 95 97 99 104 109
Trang 6BGTVT Bộ giao thông vận tải
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam là lực lượng chuyên trách của Nhà nước thực hiện chức năng quản lý về an ninh, trật tự, an toàn và bảo đảm việc chấp hành pháp luật của Việt Nam và các điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên trên các vùng biển và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam có nhiêm vụ kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính trong các lĩnh vực an ninh, trật tự an toàn; hải quan; thuế; thương mại; bảo vệ môi trường; thuỷ sản; kiểm dịch động thực vật và các hành vi vi phạm hành chính thuộc các lĩnh vực khác có liên quan
Việt Nam là một quốc gia ven biển với trên 3260km bờ biển trải theo chiều dài đất nước, có nhiều vùng biển rộng bao gồm: vùng nước nội thuỷ, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Biển, đảo của Việt Nam có một vị trí chiến lược về kinh tế, chính trị, văn hoá, quốc phòng và an ninh Nghị quyết Trung ương 4 khoá X của Đảng về chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020 đã xác định phải “phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển” [2,76] Chính vì vậy, việc thực hiện chiến lược biển Việt Nam nói chung và quản lý Biển, đảo Việt Nam nói riêng là một nhiệm vụ hết sức nặng nề và khó khăn đối với các cơ quan quản
lý biển, đảo trong đó có cơ quan Cảnh sát biển Việt Nam.Với nhiệm vụ tuần tra, kiểm tra, kiểm soát trên các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam, Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam luôn phải thể hiện rõ vị trí, vai trò của mình trong công cuộc giữ vững chủ quyền biển, đảo, giữ vững an ninh, trật tự an toàn trên biển, đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật nói chung và vi phạm hành chính trên biển nói riêng
Trang 8Để kịp thời phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật hành chính trong các lĩnh vực hải quan; thuế; thương mại; bảo vệ môi trường; thuỷ sản; kiểm dịch động thực vật và các hành vi vi phạm hành chính thuộc các lĩnh vực khác có liên quan Ngày 01 tháng 09 năm 1998 Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam đã được thành lập (có tên quốc tế bằng tiếng Anh là Vietnam marine police) trên cơ sở Pháp lệnh lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam năm 1998 Theo đó, khi người và phương tiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật Việt Nam
và các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên, Lực lượng Cảnh sát biển có quyền kiểm soát; nếu có vi phạm thì xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật, buộc người và phương tiện đó phải chấm dứt hành vi vi phạm, rời khỏi vùng nước đang hoạt động hoặc rời khỏi vùng biển Việt Nam; bắt, giữ người và phương tiện phạm pháp quả tang, lập biên bản xử lý theo thẩm quyền hoặc chuyển cho cơ quan có thẩm quyền xử lý theo pháp luật Việt Nam
Trong thời gian qua tình hình vi phạm pháp luật nói chung và vi phạm pháp luật hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền xử lý của Lực lượng Cảnh sát biển nói riêng ngày càng diễn ra phức tạp, nhất là hoạt động của tàu, thuyền và phương tiện nước ngoài xâm phạm các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam Hàng ngày có hàng trăm lượt tàu, thuyền nước ngoài vi phạm dưới các hình thức khác nhau như khai thác hải sản trái phép, thăm dò tài nguyên thiên nhiên Bên cạnh đó, hành vi vi phạm của tàu thuyền trong nước cũng diễn ngày càng gia tăng trên các lĩnh vực thương mại; an ninh, trật tự an toàn trên biển; vi phạm về an toàn sinh mạng người và tàu; vi phạm trong Vùng đánh cá chung Vịnh Bắc Bộvv… Theo Báo cáo số 784/2006/BC-CSB-
PL và Báo cáo số 1607/2007/BC-CSB-PL của Phòng Pháp luật - Cục Cảnh sát biển về tổng kết thực hiện Pháp lệnh lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam năm 1998, cho thấy tổng số xử lý vi phạm hành chính đối với tàu, thuyền
Trang 9trong nước và nước ngoài lên tới trên 2000 tàu thuyền các loại (gồm tàu thủy nội địa, tàu cá, tàu vận tải) Tổng số tiền xử phạt vi phạm hành chính là 10.821.807.000 đồng Trước yêu cầu của tình hình thực tế trong việc đấu tranh, phòng chống vi phạm pháp luật nói chung và vi phạm pháp luật hành chính trên biển nói riêng, ngày 26 tháng 01 năm 2008 Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh lực lượng Cảnh sát biển Việt Năm năm 2008, thay thế Pháp lệnh lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam năm 1998 Mở rộng phạm vi hoạt động và tăng cường tính chủ động, sáng tạo, phát huy vai trò của cơ quan Cảnh sát biển trong việc giữ gìn an ninh, trật tự an toàn trên biển Tuy nhiên, hiện nay trong quá trình tiến hành xử lý vi phạm hành chính trên biển, Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam vẫn còn gặp nhiều vướng mắc cần làm rõ cả về mặt lý luận và thực tiễn như: chồng chéo về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính; sự tản mát trong các văn bản pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền xử lý của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam; cơ sở vật chất, trang thiết bị còn thiếu cho hoạt động tuần tra, kiểm tra, kiểm soát; công tác phối hợp với các lực lượng chuyên trách của Nhà nước chưa đạt hiệu quả cao vv…
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của Cảnh sát biển Việt Nam” là vấn đề vừa cơ bản, vừa cấp thiết, đáp ứng đòi hỏi của thực tế góp phần nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm hành chính của Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Các công trình khoa học, bài viết dưới nhiều góc độ về pháp luật hành chính, xử phạt vi phạm hành chính trong thời gian qua rất đa dạng và phong phú, được nhiều tác giả nghiên cứu như bài viết của GS.TS Phạm Hồng Thái
về “Chức vụ và thẩm quyền chức vụ trong cơ quan hành chính nhà nước”, Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia - Hà Nội, luật học số 25 (2009) Bài viết
Trang 10Của Đỗ Hoàng Yến, phó vụ trưởng Vụ Phổ biến - Giáo dục, Bộ Tư pháp về
“thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và việc xây dựng Bộ luật xử lý vi phạm hành chính”, Nghiên cứu Lập pháp số 5/2007; bài viết của PGS.TS Luật học Bùi Xuân Đức về “Vi phạm hành chính và hình thức xư phạt vi hành chính những hạn chế và giải pháp đổi mới”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 2/2006 Đề tài luận văn thạc sĩ của Bùi Tiến Đạt “ Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính: lý luận và thực tiễn” năm 2008, Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội; luận văn thạc sĩ của Nguyễn Quốc Khánh “ Kiểm tra, kiểm soát theo thẩm quyền Cảnh sát biển Việt Nam” năm 2005, Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội Những đề tài, bài viết trên đều là cơ sở để tiếp cận và nghiên cứu về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam Song, luận văn thạc sĩ Nguyễn Quốc Khánh có nội dung gần gũi nhất đến vấn đề thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của Cảnh sát biển Việt Nam Vì luận văn nghiên cứu về kiểm tra, kiểm soát theo thẩm quyền của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam, trong đó đề cập đến thẩm quyền xử lý
vi phạm hành chính của lực lượng Cảnh sát biển Do vậy, có thể thấy cho đến nay đã có nhưng rất ít đề tài, bài viết nghiên cứu về thẩm quyền Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam nói chung và thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của Lực lượng Cảnh sát biển nói riêng Đặc biệt là việc nghiên cứu chuyên sâu cả về lý luận và thực tiễn về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam
Chính vì vậy, thực tiễn đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nghiên cứu sâu cả
về lý luận và thực tiễn về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm hành chính, hoàn thiện hệ thống pháp luật, phát huy vai trò của lực lượng Cảnh sát biển trong việc xử lý vi phạm hành chính trên các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam
Trang 113 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn
về thẩm quyền của Lực lượng Cảnh sát biển trong việc xử lý vi phạm hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền xử lý của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam; đánh giá đúng thực trạng về pháp luât, về xử lý vi phạm hành chính của lực lượng Cảnh sát biển trong thời gian qua Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm hành chính của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam
Để đạt được mục đích này, nhiệm vụ của luận văn phải thực hiện là: nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện các quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam; nghiên cứu về thực trạng xử lý vi phạm pháp luật hành chính của Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam; những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của nó để từ đó đề xuất các giải pháp khắc phục, hoàn thiện
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước
ta về chiếm lược biển Các phương pháp cụ thể được sử dụng để hoàn thiện luận văn này là phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp lịch sử, các phương pháp nghiên cứu của xã hội học như so sánh, đối chiếu, thống kê và các phương pháp khác
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Ở bình diện lý luận, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hoàn thiện lý luận về thẩm quyền chung của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam và thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam nói riêng
Trang 12Về thực tiễn, luận văn sẽ là tài liệu có giá trị, có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu, học tập trong các cơ sở đào tạo của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam, cũng như các cơ sở đào tạo khác Những đề xuất của luận văn sẽ cung cấp luận cứ khoa học, làm cơ sở cho việc sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam
6 Bố cục của luận văn
Luận văn gồm phần mở đầu, 03 chương, kết luận
Chương 1: Những vấn đề chung về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính củaLực lượng Cảnh sát biển Việt Nam
Chương 2: Thực trạng xử lý vi phạm hành chính của Lưc lượng Cảnh sát biển Việt Nam từ năm 2003 đến năm 2009
hành chính của Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam
Trang 13NÔI DUNG
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THẨM QUYỀN XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT BIỂN VIỆT NAM
1.1.Vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Lực lƣợng Cảnh sát biển Việt Nam
1.1.1.Quan niệm về vi phạm hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam
Hiện tượng vi phạm pháp luật trong xã hội rất đa dạng, để nhận biết được vi phạm pháp luật người ta dựa vào các dấu hiệu pháp lý cơ bản như: vi phạm pháp luật là hành vi của con người hoặc là hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội…Vi phạm pháp luật không những phải là hành
vi nguy hiểm của các chủ thể pháp luật, mà hành vi đó còn phải trái với pháp luật, xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật xác lập Có lỗi của chủ thể, chủ thể phải có năng lực trách nhiệm pháp lý Tóm lại: vi phạm pháp luật
là hành vi trái pháp luật, có lỗi do chủ thế có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ [44,488]
Căn cứ vào các loại quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ bị xâm hại mà
vi phạm pháp luật thông thường được chia thành bốn nhóm cơ bản sau:
- Tội phạm hình sự (tội phạm) là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của
tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực
Trang 14khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa Chủ thể tôi phạm hình sự là những
cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự [44,492]
- Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định
của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính Chủ thể vi phạm hành chính có thể là cá nhân và cũng có thể là tổ chức
- Vi phạm dân sự là những hành vi trái pháp luật, có lỗi xâm hại tới những quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân có liên quan tới tài sản, quan hệ phi tài sản… Chủ thể vi phạm dân sự có thể là cá nhân và cũng có thể là tổ chức
- Vi phạm kỷ luật nhà nước là những hành vi có lỗi trái với những quy chế, quy tắc xác lập trật tự trong nội bộ một cơ quan, xí nghiệp, trường học…, nói cách khác, là không thực hiện đúng kỷ luật lao đông, học tập, phục vụ được đề ra trong cơ quan, xí nghiệp, trường học… nào đó
Như vậy, vi phạm hành chính (VPHC) là một loại của vi phạm pháp luật Trong xã hội để thực hiện chức năng quản lý, Nhà nước phải đặt ra rất nhiều quy tắc quản lý nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Dựa vào tính chất của các quan hệ xã hội ở các lĩnh vực khác nhau mà nhà nước đặt ra các quy tắc quản lý khác nhau như: quy tắc quản lý trên lĩnh vực an ninh, trật tự an toàn; hải quan; thuế; thương mại; bảo
vệ môi trường; thuỷ sản; bảo vệ tài nguyên khoáng sản; kiểm dịch động thực vật, y tế vv… Vi phạm hành chính cũng được phân ra thành các loại vi phạm khác nhau như VPHC trong lĩnh vực an ninh, trật tự an toàn; thú y; thương mạivv…Xác định được hành vi vi phạm hành chính sẽ là cơ sở của việc xử phạt vi phạm hành chính
Trang 15Tại khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 2002 được sửa đổi, bổ sung năm 2008 định nghĩa một cách gián tiếp vi phạm hành chính như sau: “ Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân,
cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc
vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải
là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính” Theo tinh thần đó, vi phạm hành chính được hiểu là hành vi cố ý hoặc vô ý của cá nhân, tổ chức vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính Như đã nói ở trên VPHC là một loại vi phạm pháp luật do vậy vi phạm hành chính mang đầy đủ những dấu hiệu pháp lý cơ bản của vi phạm pháp luật nói chung gồm: hành vi, tính trái pháp luật của hành vi, có lỗi
Điều 1 Thông tư 137/2005/TT-BQP ngày 20 tháng 09 năm 2005 của Bộ Quốc phòng hướng dẫn thực hiện Nghị định 137/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng
06 năm 2004 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trên các vùng biển và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam định
Trang 16nghĩa: “Xử phạt vi phạm hành chính trên các vùng biển và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong mọi lĩnh vực, trên các vùng biển và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà không phải là tội phạm được quy định tại Nghị định và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính” Định nghĩa vi phạm hành chính nêu trên được định nghĩa một cách gián tiếp, qua định nghĩa cho thấy các dấu hiệu pháp lý cơ bản của vi phạm hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền xử lý vi phạm của Lực lượng Cảnh sát biển (CSB) Việt Nam như tính trái pháp luật của hành vi; tính có lỗi của chủ thể vi phạm; hành vi vi phạm xâm hại tới các quy tắc quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực thương mại; hải quan; thuế; bảo vệ môi trường; thú y; kiểm dịch động thực vật và các lĩnh vực khác có liên quan; tính chịu trách nhiệm hành chính Trên cơ sở những nội dung đã được quy định trong văn bản pháp luật nêu trên, có thể đưa ra định nghĩa về vi phạm hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền xử lý vi phạm của Lực lượng Cảnh sát biển như sau:
Vi phạm hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền xử lý của Lực lượng CSB Việt Nam là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý, vi phạm các quy tắc quản lý hành chính trên các lĩnh vực an ninh, trật tự an toàn; hải quan; thuế; thương mại; bảo vệ môi trường; thuỷ sản; bảo
vệ tài nguyên khoáng sản; kiểm dịch động thực vật; y tế và các lĩnh vực khác
có liên quan trên các vùng biển và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà không phải là tội phạm và phải bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật
1.1.2 Đặc điểm của vi phạm hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam
Trang 17Vi phạm hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền xử lý vi phạm của Lực lượng CSB Việt Nam là một loại vi phạm hành chính đặc thù, bởi hành vi vi phạm của các chủ thể diễn ra trên các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam Nhưng trước hết nó cũng là một loại vi phạm pháp luật nên mang đầy đủ những dấu hiệu cơ bản của vi phạm pháp luật, đó là hành vi khách quan được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động của con người hoặc tổ chức trái với các quy định của pháp luật; hành vi đó thể hiện ý chí của chủ thể thực hiện bằng lỗi cố ý hoặc vô ý; chủ thể thực hiện hành vi vi phạm phải chịu trách nhiệm pháp lý Ngoài ra, vi phạm hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền xử lý của Lực lượng Cảnh sát biển Việt
Nam còn có những đặc điểm đặc thù sau đây:
Thứ nhất: Hành vi là dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan, không có hành vi thì không có vi phạm, hành vi vi phạm hành chính có tính trái pháp luật
Hành vi vi phạm hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền xử lý vi phạm của lực lượng CSB Việt Nam được biểu hiện dưới hình thức hành động hoặc không hành động Ví dụ: xả khói mù, bắn các loại súng, phóng các tín hiệu hoặc sử dụng các vật liệu nổ trong vùng nội thuỷ, vùng lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải Việt Nam, đây là hành vi thể hiện bằng hành động Hành vi không có phương tiện phòng cháy chữa cháy trên tàu, thuyền; thuyền viên không có đủ bằng cấp, chứng chỉ chuyên môn hàng hải, đây là hành vi thể hiện bằng không hành động Dù chủ thể vi phạm thực hiện hành vi dưới hình thức nào thì hành vi đó đều trái pháp luật, trái với các quy tắc quản lý của nhà nước, đi ngược lại với những yêu cầu trong các quy định của pháp luật
Hành vi vi phạm hành chính là hành vi có tính trái pháp luật vi phạm các quy tắc quản lý nhà nước trong các lĩnh vực an ninh, trật tự an toàn; hải quan; thuế; thương mại; bảo vệ môi trường; thuỷ sản; kiểm dịch động thực vật; y tế
Trang 18và các lĩnh vực khác có liên quan Tuy nhiên, không phải mọi hành vi có tính chất trái pháp luật nào cũng là hành vi vi phạm hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền xử lý vi phạm của Lực lượng CSB Việt Nam, bởi nhiều hành vi có tính trái pháp luật nhưng lại là tội phạm Do đó, cần phải phân biệt giữa hành vi vi phạm hành chính và tội phạm
Để phân biệt tội phạm với vi phạm hành chính trong trường hợp hai loại
vi phạm cùng có chung khách thể, người ta thường lấy tiêu chí là mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi Theo đó, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi có được xác định trên các tiêu chí: tính chất của khách thể (loại khách thể bị xâm phạm); hành vi đó đã bị xử phạt vi phạm hành chính chưa; tính chất mức độ hậu quả trực tiếp của hành vi Ví dụ: Hành vi hút, tiêm chích, hít hoặc bằng các hình thức khác để sử dụng trái phép các chất ma túy xảy ra trên các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam thuộc thẩm quyền xử lý của Cảnh sát biển Việt Nam Nếu là vi phạm lần đầu thì bị xử phạt hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Nghị định 137/2004 ngày 16 tháng 06 năm
2004 Nhưng cũng là các hành vi trên nếu đã bị xử lý vi phạm hành chính mà còn vi phạm thì đây là tội phạm và bị xử lý bằng trách nhiệm hình sự
Như vậy, cùng một hành vi, nhưng nếu vi phạm với số lượng không lớn hoặc không gây hậu quả nghiêm trọng; chưa bị xử phạt hành chính hoặc kỷ luật…thì không phải là tội phạm mà sẽ là vi phạm hành chính hoặc vi phạm
kỷ luật
Khác với tội phạm, cũng như đa phần các cấu thành vi phạm hành chính khác, mặt khách quan của vi phạm hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền xử lý vi phạm của Lực lượng CSB Việt Nam không bắt buộc phải có dấu hiệu hậu quả thiệt hại của hành vi và quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của nó, nói cách khác, chỉ cần tồn tại “dấu hiệu hình thức” (hành động hay không hành động) là đủ căn cứ để áp dụng biện pháp xử phạt hành
Trang 19chính Ví dụ: Tàu thuyền nước ngoài có công suất máy chính từ trên 90CV đến 135CV có hành vi xâm phạm các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam
đó hoặc nhận thức được nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi vi phạm
Lỗi cố ý thể hiện ở việc người có hành vi vi phạm hành chính nhận thức được tính chất nguy hại cho xã hội của hành vi nhưng vẫn thực hiện hoặc để mặc cho hậu quả hành vi đó xảy ra Lỗi vô ý thể hiện ở việc người có hành vi
vi phạm hành chính không biết hoặc không nhận thức được hành vi trái pháp luật mặc dù cần phải biết và nhận thức được, hoặc nhận thức được nhưng cho rằng có thể ngăn ngừa được hậu quả
Thứ ba: Dấu hiệu về chủ thể của vi phạm hành chính
Chủ thể của vi phạm hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền xử
lý vi phạm hành chính của Lực lượng Cảnh sát biển là cá nhân hay tổ chức có năng lực chịu trách nhiệm hành chính Cá nhân, tổ chức Việt Nam có hành vi
vi phạm hành chính trên các vùng biển và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (trừ cảng biển) bị xử phạt vi phạm hành chính [7] Cá nhân, tổ chức nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trên các vùng biển
và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (trừ cảng biển) cũng bị xử phạt vi phạm hành chính [7]
Trang 20Điều 3 Thông tư 137/2005/TT-BQP ngày 20 tháng 9 năm 2005 của Bộ quốc phòng hướng dẫn Nghị định 137/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 6 năm
2004 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trên các vùng biển và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy đinh:
Cá nhân Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam, bao gồm các đối tượng: Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt hành chính về vi phạm hành chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt hành chính về mọi
vi phạm hành chính do mình gây ra Quân nhân tại ngũ, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện và những người thuộc lực lượng Công an nhân dân vi phạm hành chính thì bị xử lý như đối với các công dân khác
Tổ chức Việt Nam là tổ chức được thành lập tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam, bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội,
tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân
Cá nhân nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam
Tổ chức nước ngoài là tổ chức không thành lập tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam [8]
Pháp luật hành chính quy định chỉ truy cứu trách nhiệm hành chính đối với những cá nhân có năng lực hành vi pháp luật hành chính Người có năng lực hành vi pháp luật hành chính là người có khả năng nhận thức được tính chất nguy hại cho xã hội của hành vi, hậu quả của hành vi và điều khiển được hành vi đó Những người hành động trong tình thế cấp thiết, phòng vệ chính đáng và sự kiện bất ngờ, hoặc không có khả năng nhận thức, điều khiển hành
vi của mình thì không phải chịu trách nhiệm hành chính, nghĩa là không bị xử phạt vi phạm hành chính
Thứ tư: khách thể của vi phạm pháp luật hành chính
Khách thể là yếu tố quan trọng quy định tính chất, mức độ nguy hiểm
của
Trang 21hành vi trái pháp luật hành chính, khách thể của vi phạm hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền xử lý của Lực lượng CSB Việt Nam rất đa dạng,
đó là những quan hệ xã hội được quy phạm pháp luật hành chính bảo vệ trên các lĩnh vực an ninh, trật tự an toàn; hải quan; thuế; thương mại; bảo vệ môi trường; bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản; bảo vệ tài nguyên khoáng sản; kiểm dịch động thực vật, y tế và các lĩnh vực khác có liên quan trên các vùng biển và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1.1.3 Khái niệm, đặc điểm xử lý vi phạm hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam
a Khái niệm
Chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền xử lý của Lực lượng CSB Việt Nam phải chịu trách nhiệm hành chính, hay nói cách khác chủ thể phải gánh chịu những hậu quả bất lợi
về vật chất hoặc tinh thần do thực hiện hành vi trái pháp luật của mình gây ra cho xã hội
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế được quy định trong phần chế tài của quy phạm pháp luật hành chính Chế tài pháp luật hành chính ở đây được hiểu là các biện pháp trách nhiệm hành chính hay còn gọi là các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp khắc phục do vi phạm hành chính gây ra
Khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 được sửa đổi, bổ sung năm 2008 quy đinh: “xử lý vi phạm hành chính bao gồm xử phạt
vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý vi phạm hành chính khác” Theo
đó, có thể khái quát hoạt động xử lý vi phạm hành chính trên các lĩnh vực
thuộc thẩm quyền xử lý của Lực lượng CSB Việt Nam là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền, căn cứ vào các quy định về xử phạt vi phạm hành chính trên các lính vực an ninh, trật tự an toàn; hải quan; thuế; thương mại;
Trang 22bảo vệ môi trường; thuỷ sản; bảo vệ tài nguyên khoáng sản; kiểm dịch động thực vật; y tế và các lĩnh vực khác có liên qua trên các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam, áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý hành chính khác đối với các cá nhân, tổ chức thực hiện hành
vi vi phạm pháp luật hành chính trên các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam
b Đặc điểm
Xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC) trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền xử lý của Lực lượng CSB Việt Nam được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm, nói cách khác chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật hành chính phải bị xử lý hành chính theo quy định của pháp luật Tại khoản 2 Điều
3 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 được sửa đổi, bổ sung năm
2008 quy đinh: “Cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt hành chính khi có vi phạm hành chính do pháp luật quy định” Đồng thời, mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện kịp thời và phải bị đình chỉ ngay, việc xử lý được tiến hành nhanh chóng, công minh, triệt để
Xử lý vi phạm hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Lực lượng CSB được tiến hành bởi các chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Ví dụ: Hải đoàn trưởng Cảnh sát biển Việt Nam có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 10.000.000 đồng ; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính [7]
Xử lý vi phạm hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Lực lượng CSB Việt Nam được tiến hành trên các nguyên tắc, trình tự thủ tục nhất định Khi tiến hành XLVPHC các chủ thể có thẩm quyền phải tiến hành theo các nguyên tắc sau:
Trang 23- Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện kịp thời và phải bị đình chỉ ngay, việc xử lý vi phạm hành chính phải được tiến hành nhanh chóng, công minh, triệt để;
- Mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật; cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt hành chính khi
có vi phạm hành chính do pháp luật quy đinh;
- Việc xử lý vi phạm hành chính phải do người có thẩm quyền tiến hành theo đúng quy định của pháp luật;
- Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt hành chính một lần, nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt, một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm;
- Việc xử lý vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, nhân thân và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để quyết định hình thức, biện pháp xử lý thích hợp
Không xử lý vi phạm hành chính trong các trường hợp: tình thế cấp thiết, phòng vệ chính đáng, sự kiện bất ngờ hoặc vi phạm hành chính trong khi đang mắc các bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi
Chủ thể tiến hành hoạt động XLVPHC phải tuân theo trình tự thủ tục nhất định, khi đó mới đảm bảo được tính pháp chế trong quản lý hành chính nhà nước, bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, tổ chức, cá nhân Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính được chia thành hai loại: thủ tục thông thường và thủ tục đơn giản
Kết quả của hoạt động xử lý vi phạm hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền xử lý của Lực lượng CSB Việt Nam thể hiện ở quyết định xử phạt
vi phạm hành chính ghi nhận các hình thức, biện pháp xử phạt áp dụng đối với
Trang 24tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính Việc quyết định áp dụng biện pháp xử phạt đó thể hiện sự trừng phạt nghiêm khắc nhất của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính Việc xử phạt vi phạm hành chính (XPVPHC) còn hướng tới mục đích giáo dục cho mọi người ý thức tuân thủ pháp luật hành chính nói riêng và pháp luật nói chung, ý thức tôn trọng các quy tắc của đời sống cộng đồng, phòng ngừa các vi phạm pháp luật có thể xẩy
1.2.Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của Lực lƣợng Cảnh sát biển Việt Nam
1.2.1.Quan niệm về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam
“Thẩm quyền” là một thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trong khoa học pháp lý nói chung và trong các văn bản pháp luật nói riêng như thẩm quyền điều tra hình sự của cơ quan Hải quan; thẩm quyền xét xử của Tòa an nhân dân; thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân; thẩm quyền xử phạt hành chính của Cục trưởng Cục Cảnh sát biển Việt Nam…
Trang 25Từ điển tiếng Việt ngôn ngữ học Việt Nam giải thích thuật ngữ “thẩm quyền” được hiểu là quyền xem xét để kết luận và định đoạt một vấn đề theo pháp luật [42,1233]
Trong Từ điển luật học thuật ngữ “thẩm quyền” được hiểu là quyền xem xét, quyết định [47]
Trong tiếng pháp, “Thẩm quyền”-Competence, được hiểu là quyền của một cơ quan nhà nước, hành chính hay tư pháp, một quan chức hành chính hay tư pháp được làm một số việc được quyết định và ra một số văn bản về một số vấn đề trong phạm vi được pháp luật cho phép Như vậy, về mặt ngôn ngữ thuật ngữ “Thẩm quyền” trong ngôn ngữ tiếng Pháp và tiếng Việt có điểm tương đồng là đều được quan niệm là quyền xem xét, quyết định, giải quyết một vấn đề, hay vụ việc nào đó”[45,69]
Theo cách hiểu về thuật ngữ “thẩm quyền” nêu trên, cũng như các văn bản pháp luật quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của Lực
lượng CSB Việt Nam, thì quan niệm về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của Lực lượng CSB là quyền kiểm tra, kiểm soát, người và phương tiện khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan mà nước CHXHCN Việt Nam là thành viên, nếu có vi phạm thì được xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật, buộc người và phương tiện đó phải chấm dứt hành vi vi phạm, rời khỏi vùng nước đang hoạt động hoặc rời khỏi vùng biển Việt Nam; bắt giữ người và phương tiện phạm pháp quả tang, lập biên bản xử lý theo thẩm quyền hoặc chuyển cho cơ quan có thẩm quyền
xử lý theo quy định của pháp luật Việt Nam [19]
Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính (TQXLVPHC) của Lực lượng CSB Việt Nam mang tính đặc thù không giống các lực lượng chuyên trách khác của nhà nước như: Bộ đội Biên phòng; Hải quân; lực lượng Thanh tra chuyên ngànhvv…Tính đặc thù thể hiện ở chỗ, lực lượng CSB Việt Nam là cơ
Trang 26quan duy nhất có quyền kiểm tra, kiểm soát bất cứ tàu thuyền nào khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật hành chính trên các lĩnh vực thương mại; hải quan; thuế; kiểm dịch động thực vật; thú y; bảo vệ môi trường và các lĩnh vực khác
có liên quan trên các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam theo các quy định của pháp luật Việt Nam và Điều ước quốc tế có liên quan mà CHXHCN Việt Nam ký kết hoặc gia nhập Các chức danh có thẩm quyền như Tổ trưởng
Tổ nghiệp vụ Cảnh sát biển Việt Nam; Hải đội trưởng Hải đội Cảnh sát biển Việt Nam; Chỉ huy trưởng Vùng Cảnh sát biển Việt Nam… được áp dụng các biện pháp XLVPHC đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính bằng việc ra quyết định xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật
Phạm vi hoạt động của Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam trên các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam bao gồm vùng nội thủy; lãnh hải; vùng tiếp giáp lãnh hải; vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam Khi phát hiện người và phương tiện vi phạm hành chính, Lực lượng Cảnh sát biển có quyền xử phạt bằng việc ra quyết định xử phạt hoặc chuyển cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành xử phạt theo quy định của pháp luật
+ Vùng nước nội thuỷ: Vùng nước nội thuỷ là vùng nước nằm phía
trong của đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Đoạn 1 Mục 1 Tuyên
bố ngày 12/05/1977 của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam về vùng lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam năm quy định: Vùng biển ở phía trong đường cơ sở giáp với bờ biển là nội thuỷ của nước CHXHCN Việt Nam Nội thuỷ có thể bao gồm các cảng biển, vũng đậu, cửa sông, cửa vịnh tuỳ vào vị trí địa lý của mỗi quốc gia có biển
Tại đó quốc gia ven biển thực hiện chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ như trên lãnh thổ đất liền[3] Tuy nhiên, chủ quyền của quốc gia ven biển đối với nội thuỷ vẫn có sự khác biệt so với chủ quyền trên lãnh thổ đất
Trang 27liền, vì quốc gia ven biển thực hiện quyền lực của mình trên vùng nước nội thuỷ không phải đối với các cá nhân mà là đối với tàu thuyền, cộng đồng có tổ chức và đáp ứng các quy tắc riêng biệt
+ Vùng lãnh hải là vùng biển nằm giữa vùng nước nội thuỷ và các
vùng biển thuộc quyền, chủ quyền và quyền tài phán quốc gia Danh từ lãnh hải, được chấp nhận lần đầu tiên tại Hội nghị của Liên hiệp quốc năm
1960 tại La Haye, đó là sự kết hợp thành công giữa hai từ lãnh thổ và biển Luật biển coi lãnh hải như một “lãnh thổ chìm”, một bộ phận hữu cơ của lãnh thổ quốc gia, trên đó quốc gia ven biển thực hiện thẩm quyền riêng biệt, về phòng thủ quốc gia, về cảnh sát, thuế quan, đánh cá, khai thác tài nguyên thiên nhiên, đấu tranh chống ô nhiễm, như quốc gia đó tiến hành trên lãnh thổ của mình Tại Mục 1 Tuyên bố ngày 12/5/1977 của nước CHXHCN Việt Nam về các vùng biển của Việt Nam quy định: lãnh hải nước CHXHCN Việt Nam rộng 12 hải lý, ở phía ngoài đường cơ sở nối liền các điểm nhô ra nhất của bờ biển và các điểm ngoài cùng của các đảo ven bờ của Việt Nam tính từ ngấn nước thuỷ triều thấp nhất trở ra Nước CHXHCN Việt Nam thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với lãnh hải của mình cũng như đối với vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải
+ Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển nằm ngoài lãnh hải và tiếp liền
với lãnh hải Vùng tiếp giáp lãnh hải của nước CHXHCN Việt Nam là vùng tiếp liền phía ngoài lãnh hải Việt Nam có chiều rộng 12 hải lý hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 24 hải lý kể từ đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam Tại đó quốc gia ven biển thực hiện các thẩm quyền có tính riêng biệt và hạn chế đối với các tàu thuyền nước ngoài; thực hiện sự kiểm soát cần thiết nhằm bảo về an ninh, bảo vệ các quyền và lợi ích
về hải quan, thuế khoá, đảm bảo sự tôn trọng các quy định về y tế, về nhập cư,
di cư
Trang 28+ Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển nằm ở phía ngoài lãnh hải và
tiếp
liền với lãnh hải, đặt dưới một chế độ pháp lý riêng, theo đó các quyền chủ quyền và quyền tài pháp của quốc gia ven biển cũng như các quyền và các quyền tự do của các quốc gia khác đều do các quy định thích hợp của Công ước điểu chỉnh Mục 3 tuyên bố của nước CHXHCN Việt Nam về vùng biển
và thềm lục địa của Việt Nam quy định: Vùng đặc quyền kinh tế của nước CHXHCN Việt Nam tiếp liền với lãnh hải Việt Nam và hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tình chiều rộng lãnh hải Việt Nam Việt Nam có chủ quyền về việc thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật và không sinh vật ở vùng nước, ở đáy biển và trong lòng đất dưới đáy biển của vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam; có thẩm quyền và thẩm quyền riêng biệt về các hoạt động khác phục vụ cho việc thăm dò và khai thác vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam; có thẩm quyền về bảo vệ môi trường, chống ô nhiễm trong vùng đặc quyền kinh tế
+ Thềm lục địa của nước CHXHCN Việt Nam bao gồm đáy biển và
lòng đất dưới đáy biển thuộc thành phần kéo dài tự nhiên của lục địa Việt Nam mở rộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, nơi nào bờ ngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam không đến 200 hải lý thì thềm lục địa nới ấy mở rộng ra
200 hải lý tính từ đường cơ sở Nhà nước Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn
về mặt thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiền
ở thềm lục địa Việt Nam, bao gồm tài nguyên khoáng sản, tài nguyên không sinh vật và tài nguyên sinh vật thuộc loài định cư ở thềm lục địa Việt Nam, ngoài ra các đảo, các quần đảo xa bờ thuộc chủ quyền Việt Nam đều có lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa riêng
Trang 29Với địa bàn hoạt động rộng lớn trên các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam, Lực lượng CSB Việt Nam được tổ chức từ cơ quan Cục Cảnh sát
biển đến đơn vị trực thuộc Cục Cảnh sát biển, gồm: Vùng Cảnh sát biển, trong
cơ cấu của vùng Cảnh sát biển có hải đoàn, hải đội, cụm trinh sát và đội nghiệp vụ Cảnh sát biển; Hải đoàn Cảnh sát biển; Cụm trinh sát; Cụm đặc nhiệm phòng, chống ma tuý; trung tâm thông tin Cảnh sát biển; trung tâm huấn luyện Cảnh sát biển
Để thực hiện thẩm quyền nói chung và thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính nói riêng có hiệu quả Theo quy định tại Nghị định 86/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của Pháp lệnh lực lượng Cảnh sát biển năm 2008, Vùng Cảnh sát biển được chia thành 4 vùng, các Vùng Cảnh sát biển đã có sự thay đổi về tên gọi
và phạm vi quản lý các vùng biển và thềm lục địa so với Nghị định 53/1998/NĐ-CP ngày 21/7/1998
- Vùng 1 quản lý các vùng biển và thềm lục địa từ sông Bắc Luân tỉnh
Quảng Ninh đến Mũi Độc tỉnh Hà Tĩnh nay được đổi thành Vùng Cảnh sát biển 1 có phạm vi quản lý các vùng biển và thềm lục địa từ cửa sông Bắc Luân tỉnh Quảng Ninh đến đảo Cồn Cỏ tỉnh Quảng Trị, có trụ sở tại thành phố Hải Phòng
- Vùng 3 quản lý các vùng biển và thềm lục địa từ Mũi Độc tỉnh Hà Tĩnh đến Cù Lao Xanh tỉnh Bình Định nay đổi tên thành Vùng Cảnh sát biển 2, phạm vi quản lý các vùng biển và thềm lục địa từ đảo Cồn Cỏ tỉnh Quảng Trị đến Cù Lao Xanh tỉnh Bình Định, có trụ sở tại tỉnh Quảng Nam
- Vùng 4 quản lý các vùng biển và thềm lục địa từ Cù Lao Xanh tỉnh Bình Định đến bờ Bắc cửa Định An tỉnh Sóc Trăng nay được đổi thành Vùng Cảnh sát biển 3 quản lý các vùng biển và thềm lục địa từ Cù Lao Xanh tỉnh
Trang 30Bình Định đến bờ Bắc cửa Định An tỉnh Trà Vinh, có trụ sở tại tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu
- Vùng 5 quản lý các vùng biển và thềm lục địa từ bờ Bắc cửa Định An tỉnh Sóc Trăng đến Hà Tiên tỉnh Kiên Giang nay được đổi thành Vùng Cảnh sát biển 4 quản lý các vùng biển và thềm lục địa từ bở Bắc cửa Định An tỉnh Trà Vinh đến Hà Tiên tỉnh Kiên Giang, có trụ sở tại tỉnh Cà Mau
Việc xác định rõ thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của Lực lượng CSB Việt Nam là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc Trước diễn biến vô cùng phức tạp của tình hình vi phạm pháp luật nói chung và vi phạm pháp luật hành chính trên các vùng biển và thềm lục địa nói riêng, đặc biệt là hành vi vi phạm của tàu thuyền nước ngoài trong thời gian vừa qua Chính vì vậy, cần sửa đổi, bổ sung pháp luật quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của Lực lượng CSB Việt Nam cả về phạm vi hoạt động cũng như quy định về hành vi vi phạm hành chính, về thủ tục xử phạt, chức danh có thẩm quyền xử phạtvv….một cách cụ thể, rõ ràng nhằm bảo vệ các quan hệ quản lý nhà nước; quyền và lợi ích chính đáng của Nhà nước, tổ chức và cá nhân
1.2.2 Pháp luật quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam
Các văn bản quy phạm pháp luật tạo thành một hệ thống văn bản pháp
lý quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của lực lượng CSB bao gồm Pháp lệnh lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam năm 1998; Pháp lệnh lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam năm 2008 thay thế Pháp lệnh Lực lượng Cảnh sát biển năm 1998; Nghị định 86/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam; Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2008; các Nghị định của Chính phủ về xử lý vi phạm hành chính trên các lĩnh
Trang 31vực thuế; hải quan; thương mại; kiểm dịch động thực vật; bảo vệ môi trường vv….và các lĩnh vực khác có liên quan
a Hành vi vi phạm hành chính trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền xử
lý của Lực lượng CSB Việt Nam
Lực lượng CSB Việt Nam có quyền kiểm tra, kiểm soát nhằm phát hiện
và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm hành chính trên các lĩnh vực cụ thể sau:
- Các hành vi quy định tại chương II Nghị định 137/2004/NĐ-CP ngày
16 tháng 06 năm 2004 về xử lý vi phạm hành chính trên các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam;
- Các hành vi vi phạm quy định tại các Điều 19, 20,21, 22, 23 và Điều
27 Nghị định số 150/NĐ-CP ngày 12/12/2005 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội; Nghị định 73/2010/NĐ-CP ngày 12/07/2010 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự an toàn xã hội; Nghị định 129/2006/NĐ-CP ngày 31/10/2006 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia;
- Các hành vi vi phạm quy định tại Điều 13 Nghị định số
18/2009/NĐ-CP ngày 18/2/2009 sửa đổi một số điều của Nghị định số 79/2007/NĐ-18/2009/NĐ-CP về
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Hải quan;
- Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế theo của Nghị định 13/2009/NĐ-CP ngày 13/02/2009 sửa đổi Nghị định 98/2007/NĐ-CP ngày 07/06/2007 quy định xử lý vi phạm hành chính về lĩnh vực thuế;
- Xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị đinh Nghị định 31/2007/NĐ-
CP ngày 02 tháng 03 năm 2007 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý hoá chất nguy hiểm;
Trang 32- Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên môi trường theo quy định của Nghị định 81/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 08 năm 2006 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;
- Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh thuỷ sản theo Nghị định 128/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 10 năm 2005 quy định vể xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuỷ sản; Nghị định 154/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2006 sửa đổi, bổ sung Điều 17 Nghị định 128/2005//NĐ-CP ngày 11 tháng 10 năm 2005 của Chính phủ về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuỷ sản; Nghị định 31/ 2010/ NĐ-CP ngày 29/03/2010 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản;
- Các hành vi quy định tại Điều 8,9,10,11 và 13 Nghị định số 150/2005/NĐ-CP ngày 29/7/2005của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực khoán sản;
- Các hành vi quy định tại các Điều 33, 34, 35, 36, 37,38, 39,40 và 41 của Nghị định số 06/2008/NĐ-CP ngày 16/1/2008 xử phạt vi phạm hành chính về thương mại; Nghị định 107/2008/NĐ-CP ngày 22/9/2008 quy định xử phạt hành chính các hành vi đầu cơ, găm hàng, tăng giá quá mức, đưa tin thất thiệt, buôn lậu và gian lận thương mại; xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định
số 06/2009/NĐ-CP quy định vể xử phạt vi phạm hành chính trong sản xuất, kinh doanh;
- Xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định 129/2005/NĐ-CP ngày
17 tháng 10 năm 2005 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y;
- Xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định 45/2005/NĐ-CP ngày 06 tháng 04 năm 2005 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế;
- Xử phạt vi phạm hành chính trong vùng đánh cá chung Vịnh Bắc Bộ theo quy định của Quy định về bảo tồn, quản lý và khai thác bền vững nguồn lợi thủy sản trong Vùng đánh cá chung Vịnh Bắc Bộ, được ký kết giữ Chính
Trang 33phủ Việt Nam và Chính phủ Trung Quốc tại Bắc Kinh ngày 29 tháng 4 năm 2004;
- Xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định số 02/2007/NĐ-CP ngày 05/01/2007 về kiểm dịch thực vật;
- Các hành vi vi phạm quy định tại các Nghị định khác của Chính phủ về
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực có liên quan
b Các chức danh có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của lực lượng CSB Việt Nam
Theo quy định tại Điều 33 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm
2002 được sửa đổi, bổ sung năm 2008 Theo đó, việc xử phạt hành chính được trao cho nhiều chủ thể khác nhau có thẩm quyền xử phạt bao gồm:
- Cảnh sát viên Đội nghiệp vụ Cảnh sát biển đang thi hành công vụ có quyền: phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 500.000 đồng
- Tổ trưởng Tổ nghiệp vụ Cảnh sát biển có quyền: phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 1000.000 đồng
- Đội trưởng Đội nghiệp vụ Cảnh sát biển có quyền: phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 5.000.000 đồng
- Hải đội trưởng Hải đội Cảnh sát biển có quyền: phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 10.000.000 đồng; áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra hoặc buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép, buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh do vi phạm hành chính gây ra, buộc tiêu huỷ vật phẩm gây hại cho sức khoẻ con người, vật nuôi và cây trồng, văn hoá phẩm độc hại
- Hải đoàn trưởng Hải đoàn Cảnh sát biển có quyền: phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 20.000.000 đồng; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả
Trang 34- Chỉ huy trưởng Vùng Cảnh sát biển có quyền: phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 30.000.000 đồng; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả
- Cục trưởng Cục Cảnh sát biển có quyền: phạt cảnh cáo; phạt tiền đến mức tối đa đối với các lĩnh vực thuộc quyền quản lý của mình quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 14 của pháp lệnh xử lỳ vi phạm hành chính năm 2008; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả
Khi tiến hành xử lý vi phạm hành chính chủ thể có thẩm quyền phải tuân thủ nguyên tắc xác định thẩm quyền theo nguyên tắc sau:
Nếu một trong các hành vi vi phạm hành chính trong một vụ vi phạm
mà có liên quan đến hành vi vi phạm khác không thuộc thẩm quyền xử phạt của cấp mình thì hoàn chỉnh hồ sơ và chuyển đến cấp có thẩm quyền ra quyết định xử phạt
Trong trường hợp phạt tiền, việc xác định thẩm quyền xử phạt đối với mỗi hành vi vi phạm phải căn cứ vào mức tối đa của khung tiền phạt quy định đối với hành vi vi phạm hành chính đó
Đối với hành vi vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều lực lượng khác nhau, nếu lực lượng nào phát hiện lập biên bản đầu tiên thì lực lượng đó ra quyết định xử phạt; nếu có tranh chấp về thẩm quyền thì quyền xử phạt thuộc chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền xử phạt nơi xảy ra vi phạm
Các trường hợp xử phạt đối với cá nhân, tổ chức nước ngoài có nhiều tình tiết phức tạp thì Cục trưởng Cục Cảnh sát biển báo cáo với Bộ Quốc phòng và thông báo cho các cơ quan chức năng có thẩm quyền của Nhà nước phối hợp xử lý theo quy định của pháp luật
Trang 35Đối với hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm thì Lực lượng Cảnh sát biển hoàn chỉnh hồ sơ theo quy định của pháp luật sau đó chuyển giao cho cơ quan có thẩm quyền xử lý
c Uỷ quyền xử lý vi phạm hành chính
Những chức danh có TQXLVPHC sau đây có thể uỷ quyền cho cấp phó thực hiện thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính: Đội trưởng Đội nghiệp vụ Cảnh sát biển; Hải đội trưởng đội Cảnh sát biển; Hải đoàn trưởng Cảnh sát biển; chỉ huy trưởng Vùng Cảnh sát biển; Cục trưởng Cục Cảnh sát biển Việc
uỷ quyền phải được thực hiện bằng văn bản và xác định rõ phạm vi, nội dung, thời hạn uỷ quyền Trường hợp quyết định tạm giữ người theo thủ tục hành chính thì việc uỷ quyền chỉ được thực hiện khi cấp trưởng vắng mặt Cấp phó được uỷ quyền xử lý vi phạm hành chính phải chịu trách nhiệm về quyết định
xử lý vi phạm hành chính của mình trước cấp trưởng và trước pháp luật Người được uỷ quyền không được uỷ quyền tiếp cho bất kỳ cá nhân nào khác
Đây là một điểm mới được quy định trong Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2008, mở rộng điều kiện ủy quyền cho các chức danh cấp phó thực hiện thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm nhằm xử lý kịp thời, nhanh chóng vụ việc vi phạm, nhất là trong phạm vi hoạt động trên các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam
d Uỷ thác trong việc xử lý vi phạm hành chính của lực lượng CSB Việt Nam
Uỷ thác là việc cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong một số lĩnh vực cụ thể trao quyền xử lý cho một cơ quan khác trong những điều kiện cụ thể Tại thông tư liên tịch số 156/ 2002/ TTLT-BQP-BGTVT ngày 21 tháng 10 năm 2002 của BQP-BGTVT hướng dẫn phối hợp thực hiện quản lý nhà nước giữa Bộ Quốc phòng và Bộ giao thông vận tải (BGTVT) về hoạt động của lực lượng CSB với các lực lương có liên quan thuộc BGTVT
Trang 36trên các vùng biển và thềm lục địa của nước CHXHCN Việt Nam quy định: BGTVT uỷ thác cho lực lượng CSB quyền áp dụng các biện pháp ngăn chăn
và xử phạt vi phạm hành chính đối với những hành vi vi phạm phạm pháp luật
về lĩnh vực hàng hải và tìm kiếm, cứu nạn trong vùng nội thuỷ khi lực lượng CSB chủ động phát hiện trong quá trình tuần tra, kiểm tra, kiểm soát
Tuy nhiên, theo Pháp lệnh lực lượng CSB Việt Nam năm 2008 đã mở rộng phạm vi hoạt động của lực lượng CSB trên các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam, vì vậy quy định trên không còn phù hợp bởi theo nguyên tắc thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính thì cơ quan nào phát hiện ra hành vi vi phạm hành chính trước thì có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật
1.2.3 Pháp luật về công tác phối hợp xử lý vi phạm hành chính của Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam
Để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát phát hiện và xử
lý kịp thời vi phạm hành chính trên biển, Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam luôn coi trọng công tác phối hợp với các lực lượng khác trên các vùng biển và thềm lục địa của nước CHXNCN Việt Nam Theo quy định tại Điều 23 Pháp lệnh lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam năm 2008 và Nghị định số 41/2001/NĐ-CP ngày 24 tháng 7 năm 2001 về ban hành Quy chế phối hợp hoạt động của Lực lượng Cảnh sát biển cùng các văn bản pháp luật khác có liên quan, Lực lượng Cảnh sát biển đã phối hợp hoạt động với các lực lượng thuộc Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Tài chính, Bộ Thuỷ sản, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Tổng cục Hải quan, Ban Biên giới của Chính phủ, Uỷ ban Quốc gia Tìm kiếm - Cứu nạn, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan, tổ chức khác có liên quan Đồng thời, Nghị định số 66/2010/NĐ-CP ngày 14/06/2010 của Chính Phủ ban hành quy chế phối hợp thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động của Lực lượng Cảnh sát biển và việc phối hợp hoạt động giữa các lực
Trang 37lượng trên các vùng biển và thềm lục địa của nước CHXHCN Việt Nam vừa được ban hành đã khắc phục được những hạn chế, có nhiều điểm mới trong công tác phối hợp tuần tra, kiểm tra, kiểm soát giữa các cơ quan quản lý của nhà nước trên biển, đặc biệt đối với Lực lượng CSB Việt Nam trong việc thực hiện thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trên các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam Những điểm mới so với Nghị định 41/2001 đó là nâng cao tính chủ động của các Lực lượng tuần tra, kiểm tra, kiểm soát trên biển như Bộ đội Biên phòng, Hải quân, Hải quan; sự phối hợp chặt chẽ về mọi mặt giữa Lực lượng CSB Việt Nam với các cơ quan quản lý nhà nước trên biển…
- Nội dung phối hợp chủ yếu tập trung vào các nội dung sau:
+ Trao đổi thông tin, tài liệu cần thiết có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của Lực lượng Cảnh sát biển Khoản 1 Điều 9 Quy chế phối hợp thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động của Lực lượng CSB và việc phối hợp hoạt động giữa các lực lượng trên các vùng biển và thềm lục địa của nước CHXHCN Việt Nam quy đinh: Bộ Công an có trách nhiệm thông báo cho Lực lượng CSB các thông tin cần thiết có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của Lực lượng CSB trong việc phát hiện, ngăn chặn, xử lý vi phạm về bảo vệ an ninh, trật tự an toàn và các hành vi vi phạm pháp luật trên các vùng biển và thềm lục địa của nước CHXHCN Việt Nam Khoản 1 Điều 7 quy chế phối hợp giữa Lực lượng Cảnh sát biển với các lực lượng thuộc Bộ Quốc phòng trên các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam quy định: Các Quân khu ven biển cung cấp các thông tin, tài liệu có liên quan đến an ninh, trật tự an toàn, việc chấp hành pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế có liên quan mà CHXHCN Việt Nam ký kết hoặc tham gia trên các vùng biển, hải đảo thuộc phạm vi quản lý của các Quân khu theo quy định của Bộ Quốc phòng
+ Nghiên cứu, xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật
có liên quan thuộc chức năng của các Bộ, ngành Hiện nay mô hình quản lý
Trang 38biển của nước ta được tổ chức theo hình thức có nhiệu Bộ, ngành, nhiều địa phương cùng có chức năng liên quan đến việc khai thác và bảo vệ biển[49] Các Bộ, ngành chuyên môn đều xây dựng chiến lược phát triển ngành, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, pháp quy để quản lý ngành Chính vì vậy, muốn thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của minh, cơ quan Cảnh sát biển phải phối hợp hoạt động với các Bộ, ngành có liên quan đến quản lý biển, trên
cơ sở trao đổi những thông tin cần thiết để xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với thực tiễn Ví dụ: theo Báo cáo số 1607/BC-CSB-PL ngày 31/08/2007 bổ sung về tình hình thực hiện Pháp lệnh Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam 1998, Lực lượng CSB Việt Nam đã cùng với các cơ quan ban hành nhiều thông tư liên tịch như thông tư số 27/2003/TTLT-BQP-BTS ngày 31 tháng 03 năm 2003 của Bộ Quốc phòng, Bộ Thuỷ sản hướng dẫn phối hợp thực hiện quản lý nhà nước giữa Bộ Quốc phòng với Bộ Thuỷ sản về hoạt động của lực lượng CSB và việc phối hợp hoạt động giữa lực lượng CSB với các lực lượng có hữu quan thuộc Bộ Thuỷ sản trên các vùng biển và thềm lục địa của nước CHXHCN Việt Nam; Thông tư liên tịch số 86/2005/ TTLT/BQP-BCA ngày 27 tháng 06 năm 2005 cuả Bộ Quốc phòng
và Bộ Công an về hướng dẫn phối hợp thực hiện quản lý nhà nước giữa Bộ Quốc phòng với Bộ Công an về hoạt động của lực lượng CSB và việc phối hợp hoạt động giữa lực lượng CSB với các lực lượng hữu quan thuộc Bộ Công an trên các vùng biển và thềm lục địa của nước CHXHCN Việt Nam;Thông tư liên tịch số 233/2003/TTLT/BQP-BTC ngày 16 tháng 09 năm
2003 của Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính hướng dẫn phối hợp thực hiện quản
lý nhà nước giữa BQP với BTC về hoạt động của lực lượng CSB và việc phối hợp hoạt động giữa các lực lượng CSB với các lực lượng Hải quan trên các vùng biển và thềm lục địa của nước CHXHCN Việt Nam; Quyết định số 28/2002/QĐ-BQP ngày 25 tháng 02 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng
Trang 39về ban hành quy chế phối hợp hoạt động giữa các lực lương CSB với các lực lượng thuộc BQP trên các vùng biển và thềm lục địa của nước CHXHCN Việt Nam…
+ Tuần tra, kiểm tra, kiểm soát, phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành
vi vi phạm pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế có liên quan mà CHXHCN Việt Nam là thành viên trên các vùng biển và thềm lục địa của nước CHXHCN Việt Nam
+ Bảo vệ tài sản của Nhà nước, tính mạng, tài sản của người và phương tiện hoạt động hợp pháp trên biển; bảo vệ chủ quyền, bảo vệ tài nguyên, phòng, chống ô nhiễm môi trường biển
+ Tìm kiếm, cứu nạn và khắc phục các sự cố trên biển
- Công tác phối hợp hoạt động của lực lượng CSB với các lực lượng khác trên các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam dựa trên cơ sở pháp lý của rất nhiều văn bản pháp lý như: Nghị định số 41/2001/NĐ-CP ngày 24 tháng 7 năm 2001 về Ban hành quy chế phối hợp thực hiện quản lý nhà nước
về hoạt động của lực lượng CSB và việc phối hợp hoạt động giữa các lực lượng trên các vùng biển và thềm lực địa của nước CHXHCN Việt Nam; Thông tư liên tịch số 156/2002/TTLT-BQP-BGTVT ngày 21 tháng 10 năm
2002 của Bộ Quốc phòng, Bộ Giao thông vận tải hướng dẫn phối hợp thực hiện quản lý nhà nước giữa Bộ Quốc phòng và BGTVT về hoạt động của lực lượng CSB và việc phối hợp hoạt động giữa lực lượng CSB với các lực lượng
có liên quan thuộc BGTVT trên các vùng biển và thềm lục địa của nước CHXHCN Việt Namvv….Tuy nhiên, pháp luật quy định về công tác phối hợp giữa Lực lượng CSB Việt Nam với các cơ quan quản lý nhà nước trên biển trong thời gian qua đã bộc lộ những hạn chế nhất định cần được sửa đổi cho phù hợp với tình hình thực tế, nhất là công tác phối hợp tuần tra, kiểm tra, kiểm soát trên biển nhằm đấu tranh, phòng chống vi phạm pháp luật nói chung
Trang 40và vi phạm pháp luật hành chính nói riêng đạt hiệu quả cao Chính vì vậy, Nghị định số 66/2010/NĐ-CP ngày 14/06/2010 được ban hành đã kịp thời khắc phục những hạn chế trong công tác phối hợp hoạt động tuần tra, kiểm tra, kiểm soát giữa các lực lượng tuần tra trên các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam
1.2.4.Vị trí, vai trò của Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam
Lịch sử phát triển của thế giới cho thấy, nhân tố biển có vị trí đặc biệt nổi bật đối với các quốc gia có biển trong quá trình phát triển, các nước có biển hay không có biển đều quan tâm tới những lợi ích mang lại từ biển Các quốc gia này đầu tư lớn cho nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ biển, trong đó có công nghệ khai thác, bảo vệ tài nguyên biển và được xem là một trong bốn lĩnh vực công nghệ mũi nhọn của thể kỷ XXI
Do lợi ích về kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh và quốc phòng mà biển đem lại cho các quốc gia ngày càng lớn và đa dạng, nên đã phát sinh nhiều mâu thuẫn về quyền lợi biển giữa các nước có biển và cả nước không có biển, gây ra những tranh chấp chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích trên biển Một trong các “điểm nóng” của thế giới, tập trung những mặt đối lập, thuận lợi và khó khăn, hợp tác và đấu tranh, hoà bình và nguy cơ mất ổn định, dễ gây ra xung đột vũ trang Một trong những vấn đề đó là tồn tại tranh chấp biển, đảo giữa các nước và vùng lãnh thổ xung quanh Biển Đông, tạo nên tranh chấp đa phương và song phương, chứa đựng các mâu thuẫn về quốc phòng, kinh tế và đối ngoại …nguy cơ xâm lấn biển, đảo và hoạt động trái phép ngày một gia tăng Hàng ngày có hàng trăm tàu thuyền, máy bay nước ngoài xâm phạm vùng biển và vùng trời trên biển của ta dưới nhiều hình thức như khai thác hải sản, thăm dò, nghiên cứu biển, đặt giàn khoan, buôn lậu, vi phạm pháp luật trên biển, các cơ quan quản lý biển trong đó có cơ quan Cảnh sát biển đã tiến