1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát các yếu tố nguy cơ nhiễm trùng chân mức độ nặng ở bệnh nhân đái tháo đường

6 60 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 275,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiễm trùng chân là một trong những biến chứng thường gặp của đái tháo đường (ĐTĐ). Ở Việt Nam, gần như tất cả các vết loét chân nhập viện đều bị nhiễm trùng từ mức độ nhẹ đến nặng, trong đó nhiễm trùng mức độ nặng có tiên lượng xấu hơn, thời gian nằm điều trị lâu, chi phí điều trị tăng cao, nguy cơ đoạn chi cao hơn.

Trang 1

KHẢO SÁT CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ NHIỄM TRÙNG CHÂN MỨC ĐỘ NẶNG Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Phạm Như Hảo * , Lại Thị Phương Quỳnh * , Huỳnh Tấn Đạt *

TÓM TẮT

Mở đầu: Nhiễm trùng chân là một trong những biến chứng thường gặp của đái tháo đường (ĐTĐ) Ở Việt

Nam, gần như tất cả các vết loét chân nhập viện đều bị nhiễm trùng từ mức độ nhẹ đến nặng, trong đó nhiễm trùng mức độ nặng có tiên lượng xấu hơn, thời gian nằm điều trị lâu, chi phí điều trị tăng cao, nguy cơ đoạn chi

cao hơn

Mục tiêu: Khảo sát các yếu tố nguy cơ nhiễm trùng chân mức độ nặng

Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 50 bệnh nhân ĐTĐ nhập viện vì

nhiễm trùng chân có đủ tiêu chuẩn mức độ nhiễm trùng nặng theo Đồng thuận giữa Nhóm làm việc quốc tế về

bàn chân ĐTĐ và Hiệp hội nhiễm trùng Hoa Kỳ năm 2012

Kết quả: Nghiên cứu của chúng tôi có 23 bệnh nhân nam (46%) và 27 bệnh nhân nữ (54%), với tuổi trung

bình là 64,4 tuổi Thời gian mắc bệnh ĐTĐ trung bình là 9,2 năm HbA1c trung bình là 10,2 ± 2,3 % Thời gian

từ lúc BN phát hiện loét chân đến khi nhập viện trung bình là 22,3 ngày, với 30% bệnh nhân có đi chân trần 68% vết loét khởi đầu từ ngón chân, 14% ở lòng bàn chân, 12% ở gót chân và 10% ở mu chân Dựa trên hình ảnh X quang, chúng tôi nhận thấy có 38% hình ảnh giảm đậm độ xương, 22% có hình ảnh hủy xương và 28% có hình ảnh tụ khí mô mềm 82% BN của chúng tôi cấy có vi trùng trong vết thương, với 8% đa vi trùng gây bệnh

Trong đó chiếm tỉ lệ cao nhất là Staphylococcus (26%), kế đến là E.Coli (16%) và Klebsiella (16%)

Kết luận: Nhiễm trùng chân mức độ nặng ở BN ĐTĐ thường xảy ra ở những BN có kiểm soát đường

huyết kém, hay đi chân trần, thường khởi đầu từ ngón chân và có thời gian nhập viện muộn Tỉ lệ vi trùng gây

bệnh cao nhất là Staphylococcus

Từ khóa: yếu tố nguy cơ, nhiễm trùng chân mức độ nặng, đái tháo đường

ABSTRACT

RISK FACTORS OF SEVERE FOOT INFECTION IN DIABETIC PATIENTS

Pham Nhu Hao, Lai Thi Phuong Quynh, Huynh Tan Dat

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 21 - No 2 - 2017: 24 - 29

Background: Foot infections are among the most frequent and serious consequences of diabetes mellitus

Almost diabetic patients requiring hospitalization with foot ulcers in Vietnam have mild to severe foot infections Among them, severe infections have bad prognosis, long stay hospitalization, high cost of treatment and high risk

of lower extremity amputation

Objectives: finding the risk factors of severe diabetic foot infection

Method: Cross-sectional research on 50 diabetic patients hospitalized due to foot infection Severe infection

was classified by the Infectious Diseases Society of America (IDSA) and the International Working Group on the Diabetic Foot (IWGDF) in 2012

Results: Our research had 23 male patients (46%) and 27 female patients (54%) Mean of age was 64.4

years old Mean of HbA1c was 10.2 ± 2.3% Duration of diabetes was 9.2 years The period from detecting foot

* Bộ môn Nội tiết, khoa Y, Đại học Y Dược Tp Hồ Chí Minh

Trang 2

ulcers to admission was 22.3 days 30% of patients walked on bare foot 68% of infections proceeded from digits, 14% from the palm, 12% from the heel and 10% from the dorsum On plain radiography, we found out 38% of patients having focal loss of trabecular pattern or marrow radiolucency, 22% of them having loss of cortex with bony erosion and 28% of them having air in the soft tissues 82% of wound cultures were positive with 8% of them having multiple organisms The highest prevalence of micro bacteria was Staphylococcus (26%) The next one was E coli (16%) and Klebsiella (16%)

Conclusion: Severe diabetic foot infections were common in patients with poor glycemic control, walking on

bare-foot and late hospitalization They usually proceeded from the toes The highest prevalence of casual pathogen was Staphylococcus

Keywords: risk factors, severe foot infection, diabetes

TỔNG QUAN

Nhiễm trùng chân là một trong những biến

chứng thường gặp của đái tháo đường (ĐTĐ)

Bệnh đòi hỏi thời gian nằm viện lâu dài, gây tàn

phế cho bệnh nhân và là gánh nặng cho nền y tế

Ngoài ra, bệnh còn là nguyên nhân chính gây

đoạn chi Nghiên cứu đoàn hệ tiền cứu

Eurodiale trên 1232 bệnh nhân ở 14 trung tâm tại

Châu Âu cho thấy 57,2% các vết loét có dấu hiệu

nhiễm trùng trên lâm sàng ở thời điểm nhập

viện(14) Ở Việt Nam, gần như tất cả các vết loét

chân nhập viện đều bị nhiễm trùng từ mức độ

nhẹ đến nặng, trong đó nhiễm trùng mức độ

nặng có tiên lượng xấu hơn, thời gian nằm điều

trị lâu, chi phí điều trị tăng cao, nguy cơ đoạn chi

cao hơn Vì vậy, việc tìm ra các yếu tố nguy cơ

thúc đẩy nhiễm trùng chân nặng giúp cho công

tác dự phòng và điều trị bệnh nhân tốt hơn

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chúng tôi thực hiện nghiên cứu cắt ngang

mô tả trên 50 bệnh nhân ĐTĐ nhập viện ở khoa

Nội tiết BV Trưng Vương và BV Nguyễn Tri

Phương vì nhiễm trùng chân có đủ tiêu chuẩn

mức độ nhiễm trùng nặng theo Đồng thuận giữa

Nhóm làm việc quốc tế về bàn chân ĐTĐ và

Hiệp hội nhiễm trùng Hoa Kỳ năm 2012(11)

Nhiễm trùng chân mức độ nặng được định

nghĩa là bất cứ nhiễm trùng chân nào có kèm

theo các dấu hiệu của hội chứng đáp ứng viêm

toàn thân, biểu hiện là có ít nhất 2 trong 4 tiêu

chuẩn sau: (1): Nhiệt độ > 38oC hay < 36oC, (2):

nhịp tim > 90 lần/phút, (3): nhịp thở > 20 lần/phút

hay PaCO2 < 32 mmHg, (4): bạch cầu >12.000 hay

< 4.000 hay có 10% bạch cầu chưa trưởng thành(2) Chúng tôi loại trừ các trường hợp có tắc hẹp mạch máu nặng qua các dấu hiệu lâm sàng

và siêu âm mạch máu chi dưới (hẹp > 70% lòng mạch máu đánh giá qua siêu âm) Qua hỏi bệnh

sử, thăm khám lâm sàng và cận lâm sàng chúng tôi tìm các yếu tố nguy cơ chính gây nhiễm trùng chân nặng

KẾT QUẢ

Trong 50 bệnh nhân của chúng tôi, có 23 bệnh nhân nam (46%) và 27 bệnh nhân nữ (54%), với tuổi trung bình là 64,4 tuổi Thời gian mắc bệnh ĐTĐ trung bình là 9,2 năm Đường huyết lúc nhập viện trung bình là 278 mg/dl với HbA1c

là 10,2% Chúng tôi ghi nhận có 68% BN có sốt lúc nhập viện với nhiệt độ trung bình là 380C Protein C phản ứng (CRP) trung bình là 152,7 mg/dl và lượng bạch cầu trung bình là 19.300/mm3 Dựa theo Công cụ tầm soát bệnh thần kinh ngoại biên của đại học Michigan

thần kinh ngoại biên(18)

Bảng 1: Đặc điểm dân số nghiên cứu

Trang 3

Đặc điểm Trung bình ± ĐLC

Thời gian từ lúc BN phát hiện loét chân đến

khi nhập viện trung bình là 22,3 ngày, với 30%

bệnh nhân có đi chân trần Diện tích vết loét

trung bình từ 29,3 cm2 lúc nhập viện giảm còn

11,7 cm2 lúc xuất viện 68% vết loét khởi đầu từ

ngón chân, 14% ở lòng bàn chân, 12% ở gót chân

và 10% ở mu chân Khi thăm khám trên lâm

sàng, có 64% vết loét bị chạm xương Trong khi

đó, theo phân độ Wagner, có 58% vết loét phân

độ 3, 38% phân độ 4 và 4% phân độ 5 Dựa trên

hình ảnh X quang, chúng tôi nhận thấy có 38%

hình ảnh giảm đậm độ xương, 22% có hình ảnh

hủy xương và 28% có hình ảnh tụ khí mô mềm

82% BN của chúng tôi cấy có vi trùng trong vết

thương, với 8% đa vi trùng gây bệnh Trong đó

chiếm tỉ lệ cao nhất là Staphylococcus (26%), kế

đến là E.Coli (16%) và Klebsiella (16%)

Bảng 2: Các yếu tố nguy cơ nhiễm trùng chân mức

độ nặng

Thời gian phát hiện vết loét đến lúc

Vị trí khởi

phát loét

Mức độ vận động lúc bị loét

Chăm sóc vết loét

Chăm sóc tại bệnh viện hay

Phân độ Wagner

Chúng tôi ghi nhận có 16 BN (chiếm tỉ lệ 32%) đoạn chi, trong đó có 6 BN (12%) đoạn chi cao và 10 BN (20%) đoạn chi thấp Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm có và không có đoạn chi về thời gian phát hiện vết loét đến lúc nhập viện (p = 0,003), diện tích của vết loét khi nhập viện (p= 0,042) và tình trạng đi chân trần (p = 0,018) Tỉ lệ bệnh nhân bị đoạn chi cao hơn khi thăm khám có chạm xương (p = 0,001) và khi vết loét có phân độ Wagner càng cao (p = 0,004)

Bảng 3: So sánh các đặc điểm giữa 2 nhóm có đoạn chi và không có đoạn chi

Thời gian phát hiện vết loét đến lúc nhập

Phân độ Wagner

0,004

BÀN LUẬN

Trong nghiên cứu, chúng tôi loại trừ các ca

nhiễm trùng chân có dấu hiệu hẹp mạch nặng

hoặc tắc mạch chi dưới được chẩn đoán bằng các

dấu hiệu lâm sàng và siêu âm mạch máu chi dưới do những trường hợp này làm lu mờ các dấu hiệu nhiễm trùng chân và làm tăng tỉ lệ cắt cụt chi dưới có thể lên đến 90 lần(1,5)

Trang 4

Kết quả cho thấy đa số bệnh nhân lớn tuổi,

ĐTĐ lâu năm (trung bình 9,2 năm), kiểm soát

đường huyết rất kém với đường huyết nhập

viện trung bình 278 mg/dl và HbA1c trung bình

10,2% Kiểm soát ĐH kém làm tăng các biến

chứng mạn của ĐTĐ, trong đó nghiên cứu của

chúng tôi cho thấy tất cả bệnh nhân đều có biến

chứng thần kinh ngoại biên Kiểm soát ĐH kém

cũng là yếu tố nguy cơ cho nhiễm trùng, trong

đó có nhiễm trùng chân Tăng ĐH kéo dài làm

giảm cơ chế đề kháng tế bào, có thể làm giảm

chức năng của bạch cầu đa nhân trung tính trong

hoá hướng động, kết dính, thực bào và diệt vi

trùng Khả năng bắt giữ và tiêu diệt

Staphylococcus Aureus bởi bạch cầu đa nhân

trng tính giảm đáng kể ở bệnh nhân ĐTĐ kiểm

soát ĐH kém(16) Ngoài ra HbA1c > 9% cũng làm

tăng nguy cơ loét chân gấp 3 lần so với những

BN có HbA1c dưới ngưỡng này(7) Trong nghiên

cứu của Eneroth trên 233 bệnh nhân ĐTĐ bị

nhiễm trùng mô mềm sâu ở chân cũng có HbA1c

cao là 8,6%(5)

Thời gian từ lúc phát hiện vết loét cho đến

lúc nhập viện cũng là yếu tố tiên lượng cho vết

loét nhiễm trùng nặng Trong nghiên cứu thời

gian này trung bình 22 ngày Bệnh nhân giảm

cảm giác do biến chứng thần kinh ngoại biên

(100%) là yếu tố chính gây nên vết loét, là ngõ

vào của vi trùng, đồng thời làm chậm ghi nhận

vết loét, chăm sóc vết loét không đúng mức dẫn

đến nhiễm trùng chân nặng Ngoài ra ghi nhận

một số bệnh nhân nhập viện ở tuyến dưới không

được điều trị đúng mức cũng là yếu tố gây

nhiễm trùng nặng Nhiễm trùng chân không

được điều trị kịp thời sẽ có nguy cơ bị nhiễm

trùng nặng hơn, tổn thương mô nặng hơn, khả

năng đoạn chi cao và có nguy cơ bị nhiễm trùng

huyết và tử vong Nghiên cứu của Lavery và

cộng sự(8) cho thấy các yếu tố nguy cơ nhiễm

trùng chân nhập viện trong mô hình đa biến là

vết thương sâu chạm xương (OR 6,7), thời gian

bị vết loét kéo dài trên 30 ngày (OR 4,7), vết loét

tái phát (OR 2,4), vết loét do nguyên nhân chấn

thương (OR 2,4) Trong nghiên cứu của chúng

tôi có hội tụ đủ các yếu tố nguy cơ nhiễm trùng chân nặng cần nhập viện: vết thương sâu chạm xương chiếm 64%, đi chân trần chiếm 30%, khi

có vết loét bệnh nhân không giảm vận động vẫn sinh hoạt bình thường làm vết loét nặng hơn, nhiễm trùng lan nhanh hơn (chiếm 64%) (bảng 2) Tuy thời gian trung bình bị vết loét trong nghiên cứu chúng tôi chưa đến 30 ngày như nghiên cứu trên nhưng với tình trạng chăm sóc kém (66% tự chăm sóc), đi chân trần (30%), sử dụng kháng sinh không hợp lí hoặc không dùng kháng sinh (50%) làm vết loét bị nhiễm trùng nặng, tổn thương mô lan rộng với kích thước vết loét trung bình 29 cm2, tất cả đều có phân độ Wagner 3 trở lên và tỉ lệ cắt cụt lên đến 32% Hơn nữa Lavery và cộng sự(9) nghiên cứu vết loét chân do chấn thương bị nhiễm trùng cho thấy người bị ĐTĐ nhận được sự chăm sóc của nhân viên y tế chậm hơn một cách có ý nghĩa so với người không bị ĐTĐ (trung bình 8,7 ngày so với khoảng 5,3 ngày); sự chậm trễ này liên quan chủ yếu đến giảm cảm giác do biến chứng thần kinh ngoại biên (84,4% trong nhóm ĐTĐ so với 8,7% trong nhóm không bị ĐTĐ) Trong nghiên cứu của chúng tôi, thời gian nhận được chăm sóc đúng mức còn chậm trễ hơn (trung bình 22,3 ngày) liên quan đến biến chứng thần kinh ngoại biên (100% bệnh nhân), một phần do ý thức của bệnh nhân và thời gian điều trị kéo dài ở tuyến dưới Một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tỉ lệ đoạn chi là yếu tố bệnh nhân: thái độ, nhận thức, điều kiện tiếp cận y tế, sự tuân thủ đối với chăm sóc và điều trị bàn chân(6)

Do đó cần nâng cao nhận thức, phát hiện sớm loét chân và tuân thủ chăm sóc bàn chân đúng mức để giảm tỉ lệ nhiễm trùng nặng và đoạn chi Vết loét đa số khởi đầu từ các ngón chân, chiếm 64% trong nghiên cứu Biến chứng thần kinh ngoại biên và biến dạng bàn chân thường là yếu tố nguy cơ cho loét ở những vị trí này Hai nghiên cứu lớn tiền cứu cho thấy vị trí loét thường gặp nhất là ở các đầu ngón (mặt mu và mặt lòng) chiếm 52%, đặc biệt ngón cái (28%), kế đến là đầu các xương bàn lòng bàn chân và mu

Trang 5

chân(3,15) Tuy nhiên độ nặng của vết loét quan

trọng hơn vị trí loét trong kết cục điều trị và

đoạn chi Nghiên cứu của Apelqvist(3) cho thấy

vết loét có abces và/ hoặc viêm xương tỉ lệ lành

sẹo 57%; hoại thư khu trú lành sẹo chỉ 5% và

hoại thư rộng không có ca nào lành sẹo, phải

đoạn chi Trong nghiên cứu của chúng tôi tất cả

vết loét đều độ 3 Wagner trở lên và có hình ảnh

viêm xương (giảm đậm độ trên X quang) chiếm

38% nên tỉ lệ cắt cụt 32% là hợp lí Tác giả Anaya

và cộng sự(2) nghiên cứu 166 bệnh nhân bị nhiễm

trùng mô mềm chi dưới cũng cho thấy tỉ lệ đoạn

chi là 26%, trong nghiên cứu của

Edelson(4) là 22%

So sánh nhóm đoạn chi và không đọan chi

ghi nhận có sự khác biệt có ý nghĩa về thời gian

nhập viện và kích thước của vết loét Vết loét có

thời gian nhập viện muộn hơn (28,3 so với 19,7

ngày) có tỉ lệ cắt cụt cao hơn Vết loét bị nhiễm

trùng không điều trị thích hợp để lâu sẽ tổn

thương mô nhiều hơn, khả năng đoạn chi cao

hơn Kích thước vết thương có ảnh hưởng đến

tiên lượng đoạn chi và thời gian lành sẹo Vết

loét có kích thước > 3 cm2 có tỉ lệ đoạn chi cao

hơn và thời gian lành sẹo lâu hơn(13,17) Ngoài ra

kích thước vết loét > 2 cm2 có khả năng tiên đoán

viêm xương với LR dương là 7,2(12) Trong nghiên

cứu của chúng tôi, kích thước trung bình vết loét

lớn hơn rất nhiều 29,3 cm2 và nhóm đoạn chi có

kích thước lớn hơn 1 cách có ý nghĩa so với

nhóm không đoạn chi và tỉ lệ viêm xương (trên

hình ảnh X quang) cao lên đến 60%

Ngoài ra độc lực vi trùng cũng góp phần làm

cho nhiễm trùng chân nặng hơn, tổn thương mô

nhiều hơn Trong nghiên cứu chúng tôi, kết quả

cấy mủ cho thấy 74% đơn vi trùng, 8% đa vi

trùng và 18% không mọc Bệnh nhân bị nhiễm

trùng chân nặng có tỉ lệ cấy âm tính như vậy có

thể liên quan đến bệnh nhân sử dụng kháng

sinh trước nhập viện (50%) Staphylococcus

aureus chiếm tỉ lệ cao nhất (26%) và đa số là

kháng với nhiều loại kháng sinh Phù hợp với

ghi nhận y văn cho thấy tụ cầu là nguyên nhân

thường gặp nhất, có độ lực mạnh nhất trong

nhiễm trùng chân; đặc biệt những nhiễm trùng chân nặng thường kết hợp vi trùng gram dương, gram âm và kị khí(10,11) Trong mẫu cấy nghiên cứu chúng tôi các vi trùng gram âm chiếm khoảng 50% Do đó việc điều trị kháng sinh trong nhiễm trùng nặng cần phối hợp kháng sinh điều trị tụ cầu, vi trùng gram âm và có thể thêm vi trùng kị khí(11)

KẾT LUẬN

Nhiễm trùng chân mức độ nặng ở BN ĐTĐ thường xảy ra ở những BN có kiểm soát đường huyết kém, hay đi chân trần và không hạn chế vận động, thường khởi đầu từ ngón chân và có thời gian nhập viện muộn Tỉ lệ vi trùng gây bệnh cao nhất là Staphylococcus Tỉ lệ bệnh nhân đoạn chi càng cao khi thăm khám có chạm xương, khi thời gian phát hiện vết loét đến lúc nhập viện càng lâu, diện tích vết loét càng rộng

và phân độ Wagner càng cao Từ kết quả nghiên cứu chúng tôi thấy rằng để giảm tỉ lệ nhiễm trùng chân mức độ nặng và giảm tỉ lệ đoạn chi ở bệnh nhân ĐTĐ, điều quan trọng nhất là kiểm soát đường huyết tốt, phát hiện sớm các vết loét, đặc biệt là có biến chứng thần kính ngoại biên, hạn chế vận động trên bàn chân bị loét và đến khám và điều trị sớm từ lúc có vết loét chưa bị nhiễm trùng hoặc chỉ bị nhiễm trùmg mức độ nhẹ Ngoài ra chọn lựa kháng sinh theo kinh nghiệm và điều chỉnh kháng sinh phù hợp theo

vi trùng học cũng là yếu tố quan trọng giúp điều trị nhiễm trùng chân đạt kết quả tốt

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Amstrong DG, Lavery LA, Harkless LB (1998) Validation of a diabetic wound classification system The contribution of

depth, infection and ischemia to risk of amputation Diabetes

Care;21: 855-859

2 Anaya DA, McMahon K, Nathens AB, Sullivan SR, Foy H, Bulger E (2005) Predictors of mortality and limb loss in

necrotizing soft tissue infections Arch Surg 2005;140:151-157

3 Apelqvist J, Castenfors J, Larsson J (1989) Wound classification

is more important than site of ulceration in the outcome of

diabetic foot ulcers Diabet Med;6:526–530

4 Edelson GW, Armstrong DG, Lavery LA, Caicco G (1996) The acutely infected diabetic foot is not adequately evaluated in an

inpatient setting Arch Intern Med;156:2373-2378

Trang 6

5 Eneroth M, Apelqvist J, Stenstrom A (1997) Clinical

characteristics and outcome in 223 diabetic patients with deep

foot infections Foot Ankle Int 18:716-722

6 Jeffcoate WJ, Margolis DJ (2012) Incidence of major amputation

for diabetes in Scotland sets a target for us all Diabetes Care;

35:2419–2420

7 Lavery LA, Amstrong DG, Vela SA, Quebedeaux TL, Fleischli

JG (1998) Practical criteria for screening patients at high risk for

diabetic foot ulceration Arch Intern Med; 158:157-162

8 Lavery LA, Amstrong DG, Wunderlich RP, et al (2006) Risk

factors for foot infections in individuals with diabetes Diabetes

care; 29:1288-1293

9 Lavery LA, Walker SC, Harkless LB, Felder-Johnson K (1995)

Infected puncture wounds in diabetic and nondiabetic adults

Diabetes care; 18:1588-1591

10 Lipsky BA, Berendt AR, Deery HG, Embil JM, et al (2004)

Diagnosis and treatment of diabetic foot infections Clinical

Infectious Disease; 39: 885-910

11 Lipsky BA, Peters EJG, Senneville E, et al (2012) Expert opinion

on the management of infections in the diabetic foot Diabetes

Metab Res Rev, 28(Suppl 1): 163–178

12 Newman LG, Waller J, Palestro CJ, et al (1991) Unsuspected

osteomyelitis in diabetic foot ulcers Diagnosis and monitoring

by leukocyte scanning with indium in 111 oxyquinoline

JAMA, 266(9):1246–51

13 Oyibo SO, Jude EB, Tarawneh I, Nguyen HC, Armstrong DG,

Harkless LB, Boulton AJM (2001) The effects of ulcer size and

site, patient's age, sex and type and duration of diabetes on the

outcome of diabetic foot ulcers Diabet Med, 18:133-138

14 Prompers L, Huijberts M, Apelqvist J, Jude E, et al (2007) High prevalence of ischaemia, infection and serious comorbidity in patients with diabetic foot disease in Europe Baseline results

from the Eurodiale study Diabetologia 50:18–25

15 Reiber GE, Lipsky BA, Gibbons GW (1998) The burden of

diabetic foot ulcers Am J Surg;176(2A):5S–10S

16 Richard JL, Lavigne JP, Sotto A (2012) Diabetes and foot

infection: more than double trouble Diabetes Metab Res Rev,

28(Suppl 1): 46–53

17 Treece KA, Macfarlane RM, Pound N, Game FL, Jeffcoate WJ (2004) Validation of a system of foot ulcer classification in

diabetes mellitus Diabet Med, 21:987-991

18 Validation of Michigan neuropathy screening instrument for

diabetic peripheral neuropathy (2006) Clinical neurology and

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 16/12/2016

Ngày đăng: 15/01/2020, 20:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w