LỜI CẢM ƠNTrong quá trình học tập tại khoa Kinh tế- Luật của trường Đại học Thương Mạicùng với khoảng thời gian được thực tập tại Công ty cổ phần tư vấn đầu tưLIGHTHOUSE, được sự giúp đỡ
Trang 1TÓM LƯỢC
Sự phát triển ngày càng đa dạng của các loại thị trường trong nền kinh tế thịtrường, dịch vụ ngày càng phát triển và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế củahầu hết các quốc gia Dịch vụ ngày càng phát triển, các hoạt động liên quan tới dịch vụcàng trở nên sôi động, tạo nên sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cung ứng dịch vụkhông chỉ với các doanh nghiệp trong nước mà còn với cả doanh nghiệp nước ngoài.Khi đó, vấn đề giao kết hợp đồng cung ứng trong dịch vụ cũng là vấn đề được nhiềudoanh nghiệp quan tâm, bởi để đảm bảo đạt được một hợp đồng thì quá trình giao kết
là vô cùng quan trọng Xuất phát từ thực tế đó, trên cơ sở những kiến thức đã học cũngnhư thời gian thực tế tại Công ty cổ phần tư vấn đầu tư LIGHTHOUSE, đề tài nghiên
cứu: “Pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ thương mại - Thực tiễn thực hiện tại Công ty cổ phần tư vấn đầu tư LIGHTHOUSE” đã làm rõ được
những nội dung sau:
Đề tài đã trình bày tổng quát những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến hợp đồngcung ứng dịch vụ như khái niệm, đặc điểm, các nguyên tắc giao kết hợp đồng, quátrình giao kết bao gồm đề nghị giao kết, chấp nhận giao kết, thời điểm giao kết Nhưvậy, về mặt lý luận liên quan đến pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụtrong thương mại đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật
Đề tài còn làm rõ thực trạng pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ vàthực hiện pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại tại Công
ty cổ phần tư vấn đầu tư LIGHTHOUSE Từ đó, đưa ra định hướng hoàn thiện phápluật và một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thựcthi pháp luật điều chỉnh về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại.Vấn đề về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại là rất rộng vàcòn nhiều vấn đề Với khoảng thời gian nghiên cứu không nhiều chưa thế đề cập đượcchi tiết mọi vấn đề nghiên cứu và không tránh khỏi những sai sót, em rất mong nhậnđược sự chỉ bảo và ý kiến đóng góp của các thấy cô
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập tại khoa Kinh tế- Luật của trường Đại học Thương Mạicùng với khoảng thời gian được thực tập tại Công ty cổ phần tư vấn đầu tưLIGHTHOUSE, được sự giúp đỡ của nhà trường, các thầy cô giáo, anh chị nhân viêntrong công ty, gia đình, bạn bè… em đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài:
“Pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ thương mại - Thực tiễn thực hiện tại Công ty cổ phần tư vấn đầu tư LIGHTHOUSE”.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến nhà trường, các thầy cô trong KhoaKinh tế - Luật, Bộ môn Luật chuyên ngành, đặc biệt là cô PGS.TS.Trần Thị ThuPhương, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ để em có thể hoàn thành bài khóa luậnnày
Em cũng xin cảm ơn anh chị nhân viên tại công ty đã giúp đỡ em trong suốt quátrình thực tập, tìm hiểu tại công ty
Mặc dù đã nỗ lực hết mình trong quá trình thực tập, nghiên cứu tại công ty nhưng
do thời gian và kiến thức còn hạn chế, hiểu biết của bản thân về vấn đề nghiên cứu cònthực sự chưa đầy đủ Vì vậy, bài viết không thể tránh khỏi những thiếu xót Kính mongnhận được sự nhận xét, đóng góp ý kiến, hướng dẫn của các thầy cô, bạn bè, các anhchị đang làm việc công ty để bài viết của em hoàn chỉnh hơn, cũng như củng cố kiếnthức và em có thể rút ra được kinh nghiệm thực tế về lĩnh vực nghiên cứu sau khi tốtnghiệp
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên Phạm Thị Thu Phượng
Trang 3MỤC LỤC
TÓM LƯỢC i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài khóa luận 1
2 Tổng quan nghiên cứu 1
3 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu 2
4 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Kết cấu khóa luận tốt nghiệp 5
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VẤN ĐỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ TRONG THƯƠNG MẠI 6
1.1 Khái niệm cơ bản liên quan đến giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại 6
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại 6
1.1.2 Khái niệm giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại 9
1.2 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại 10
1.2.1 Cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại 10
1.2.2 Nội dung pháp luật điều chỉnh về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại 11
1.2.3 Các nguyên tắc pháp luật điều chỉnh lĩnh vực giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại 14
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ TRONG THƯƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN ĐẦU TƯ LIGHTHOUSE 16
2.1 Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại 16
2.1.1 Tổng quan tình hình pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại 16
Trang 42.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh giao kết hợp đồng cung ứng
dịch vụ trong thương mại 17
2.2 Thực trạng các quy định của pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại 20
2.2.1 Nguyên tắc pháp luật điều chỉnh giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại 20
2.2.2 Quá trình giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại 23
2.2.3 Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại 27
2.3 Thực trạng thực hiện các quy định của pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại tại Công ty cổ phần tư vấn đầu tư LIGHTHOUSE 29
2.3.1 Giới thiệu về Công ty cổ phần tư vấn đầu tư LIGHTHOUSE 29
2.3.2 Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại tại Công ty cổ phần Tư vấn đầu tư LIGHTHOUSE 30
2.4 Đánh giá chung về pháp luật điều chỉnh 32
2.4.1 Đánh giá về tình hình thực hiện các quy định của pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại tại Công ty cổ phần Tư vấn đầu tư LIGHTHOUSE.32 2.4.2 Đánh giá chung về pháp luật điều chỉnh 33
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ TRONG THƯƠNG MẠI 36
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại 36
3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại 37
3.2.1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại 37
3.2.2 Kiến nghị nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại 38
3.3 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 39
KẾT LUẬN 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1 Bộ luật dân sự: BLDS
2 Luật Thương mại: LTM
3 Luật Doanh nghiệp: LDN
4 Công Ước Viên 1980: CƯV 1980 (CISG)
5 Tổ chức thương mại thế giới: WTO
6 Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại 1994 GATT: Hiệp định GATT
7 Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ GATS: Hiệp định GATS
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài khóa luận.
Sự phát triển ngày càng đa dạng của các loại hình thị trường trong nền kinh tế thịtrường, dịch vụ đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế của hầu hết cácquốc gia Dịch vụ đã trở thành hàng hóa và việc trao đổi, mua bán dịch vụ ngày càngtrở nên sôi động, phổ biến khi thị trường thương mại dịch vụ được mở cửa Từ đó, tạo
ra sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các doanh nghiệp Việt Nam với nhau cũng như giữacác doanh nghiệp cung ứng dịch vụ Việt Nam với các doanh nghiệp cung ứng dịch vụnước ngoài Bởi vậy, hợp đồng cung ứng dịch vụ được coi như một công cụ pháp lýnhằm bảo vệ lợi ích của chủ thể khi tham gia thị trường thương mại dịch vụ Hợp đồngcung ứng dịch vụ còn là một chế định nhằm tạo ra cơ sở pháp lý giúp cho các chủ thểkinh doanh dịch vụ có được môi trường kinh doanh lành mạnh và bình đẳng Do đó,pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ thương mại luôn được các doanhnghiệp chú trọng Tuy nhiên trong thực tiễn hoạt động kinh doanh dịch vụ vẫn còn tồntại những khuyết điểm nhất định, môi trường chính sách dịch vụ ở Việt Nam là một hệthống khá phức tạp với nhiều loại luật, văn bản dưới luật… Các văn bản quy phạmpháp luật về cung ứng dịch vụ còn nằm rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khácnhau với hiệu lực pháp lý cao thấp cũng khác nhau, xong vẫn chưa tạo được tính thốngnhất và tính hệ thống, chưa thể bắt kịp được sự phát triển của nền kinh tế thị trường
Do đó, có nhiều cách hiểu khác nhau trong việc áp dụng các quy định của pháp luật vềhợp đồng cung ứng dịch vụ thương mại vào thực tiễn cũng là điều tất yếu Vậy thựctrạng pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ thương mại trong thực tế diễn
ra như thế nào? Vai trò của hợp đồng cung ứng dịch vụ trong hoạt đông thương mại là
như thế nào? Để trả lời cho câu hỏi đó em xin trình bày đề tài: “Pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ thương mại - Thực tiễn thực hiện tại Công ty cổ phần
tư vấn đầu tư LIGHTHOUSE”.
2 Tổng quan nghiên cứu
Hiện nay có rất nhiều các công trình nghiên cứu liên quan đến hợp đồng và cáchoạt động thương mại dịch vụ Sau đây là một số các công trình nghiên cứu khác nhauliên quan đến hợp đồng cung ứng dịch vụ trong hoạt động thương mại:
o Th.S Hà Công Bảo Anh (2013) “Hợp đồng thương mại dịch vụ và vai trò của
nó đối với doanh nghiệp”, Tạp chí Kinh tế đối ngoại
o Nguyễn Thị Tuyết Lan (2014): “ Lý luận và thực tiễn về sự thống nhất ý chí
để giao kết hợp đồng thương mại”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, tr 18-22 Đại họcQuốc gia Hà Nội, Hà Nội
Trang 7o Nguyễn Thị Chiều ( 2013): “ Chế độ pháp lý về hợp đồng dịch vụ- thực tiễn
áp dụng tại công ty TNHH Mộc Dũng” Luận văn tốt nghiệp, tr 15-25
o Hoàng Thị Vịnh ( 2014), “ Hợp đồng dịch vụ pháp lý ở Việt Nam”, Luận ánTiến sĩ luật học, Học viện khoa học xã hội
o Phan Chí Hiếu ( 2005), “ Hoàn thiện chế định hợp đồng”, tạp chí Nghiên cứuLập pháp số 4
o Dư Hoài Phương ( 2014), “ Hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồng thươngmại trong điều kiện sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự”, Luận văn Thạc sĩ Luật học,trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội
o Nguyễn Thị Hường (2010): “Tự do giao kết hợp đồng – Những vấn đề lý luận
và thực tiễn” Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Luận văn phân tích những khía cạnh
cơ bản và các trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc này và đề xuất những kiến nghị hoànthiện cho pháp luật về tự do giao kết hợp đồng ở Việt Nam
Tại Việt Nam đã có nhiều đề tài nghiên cứu về hợp đồng dịch vụ thương mạinhưng chưa đi sâu vào pháp luật giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ thương mại Bởi
vậy cho nên em chọn đề tài: “Pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ thương mại - Thực tiễn thực hiện tại Công ty cổ phần tư vấn đầu tư LIGHTHOUSE” Đề tài đi vào nghiên cứu pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứng
dịch vụ trong thương mại, về thực trạng áp dụng các quy định đó tại Công ty cổ phần
tư vấn đầu tư LIGHTHOUSE từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện phápluật về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại
3 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu.
Xác lập vấn đề nghiên cứu:
- Đề tài sẽ làm rõ những quy định của pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứngdịch vụ thương mại, tìm ra ưu, nhược điểm của các quy định pháp luật Việt Nam vềgiao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ thương mại
- Đề tài sẽ làm sáng tỏ và nghiên cứu các thành tựu, sự tiến bộ về các quy địnhpháp luật Việt Nam về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ thương mại
- Phát hiện và đề xuất các phương pháp khắc phục lỗ hổng pháp lý liên quanđến các quy định pháp luật về quá trình giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ thươngmại
- Đề xuất môi trường pháp lý lý tưởng và công bằng trong hoạt động giao kếthợp đồng cung ứng dịch vụ thương mại
- Đề xuất các giải pháp khắc phục những bất cập trong hoạt động giao kết hợpđồng cung ứng dịch vụ cho doanh nghiệp
Trang 8- Đề xuất các cải tiến và hoàn thiện hành lang pháp lý cơ bản về hoạt động giaokết hợp đồng cung ứng dịch vụ thương mại.
Tuyên bố vấn đề nghiên cứu:
- Đề tài chủ yếu nghiên cứu tổng thể và toàn diện các vấn đề lý luận và quy địnhpháp luật Việt Nam hiện hành về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ thương mại
- Đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về giao kết hợp đồng cung ứng dịch
vụ thương mại và thực tiễn thực hiện các quy phạm pháp luật đó tại Công ty cổ phần
tư vấn đầu tư LIGHTHOUSE
- Xây dựng phương hướng và giải pháp cụ thể hoàn thiện các quy định, chếđịnh thích hượp tạo hiệu quả trong quá trình giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụthương mại tại doanh nghiệp
4 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện các quy định của pháp luật về giao kết hợp đồng nói chung và pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứng dịch
vụ trong thương mại nói riêng Đề tài nghiên cứu về thực tiễn áp dụng tại Công ty cổphần tư vấn đầu tư LIGHTHOUSE
- Mục tiêu nghiên cứu
Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận về hợp đồng cung ứng dịch vụ tronghoạt động thương mại và nội dung pháp luật về hoạt động cung ưng dịch vụ thươngmại
Thứ hai, phân tích thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về hợp đồng cung ứng dịch vụ, thực trạng thực hiện tại Công ty cổ phần tư vấn đầu tưLIGHTHOUSE Từ đó đánh giá những bất cập, hạn chế trong quy định của pháp luậtcủa công ty
Thứ ba, trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn, khóa luận đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật vềhợp đồng cung ứng dịch vụ trong hoạt động thương mại tại Công ty cổ phần tư vấnđầu tư LIGHTHOUSE
Trang 9Thứ hai, thực tiễn thực hiện pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụthương mại tại Công ty cổ phần tư vấn đầu tư LIGHTHOUSE.
5 Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp thu thập dữ liệu:
Thu thập dữ liệu luôn đóng vai trò quan trọng trong quá trình nghiên cứu, tìmhiểu thông tin về pháp luật, về doanh nghiệp Việc thu thập dữ liệu giúp việc nghiêncứu có luận cứ chặt chẽ hơn, có kiến thức sâu rộng về vấn đề nghiên cứu
Đầu tiên, thu thập dữ liệu sơ cấp: quá trình nghiên cứu cần tìm hiểu và nghiêncứu các văn bản quy phạm pháp luật về giao kết hợp đồng, về hợp đồng cung ứngdịch vụ thương mại cũng như các tài liệu của công ty, văn bản quy phạm pháp luật…
để nắm bắt thực trạng áp dụng tại Công ty cổ phần tư vấn đầu tư LIGHTHOUSE.Thứ hai, thu thập dữ liệu thứ cấp: cần tìm hiểu thông tin cụ thể hơn từ công ty vàcác vă bản pháp luật của Nhà Nước có thông tin liên quan
- Phương pháp phân tích dữ liệu:
Phương pháp này dùng để truyền tải thông tin về một cách trực tiếp, giúp chúngtrở lên dễ hiểu, dễ tổng hợp hơn, có thể truyền đạt được Những thông tin sau khi đãthu thập cần chọn lọc và xử lý để đúng với mục tiêu đề tài hướng tới Trong đề tài em
sử dụng một số phương pháp phân tích thông tin như:
o Phương pháp thống kê: các thông tin được khai thác một cách gián tiếp thôngqua internet, sách báo, tạp chí… Nắm được nội dung cơ bản của vấn đề nghiên cứu,tiến hành tìm kiếm thông tin liên quan phục vụ cho việc viết bài thông qua mạnginternet Tham khảo các thông tin từ đó rút ra nội dung cơ bản, tìm kiếm thông tin cầnthiết phục vụ cho bài nghiên cứu
o Phương pháp phân tích, tổng hợp: dùng để phân tích và đánh giá thực trạng ápdụng các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động cung ứng dịch vụ tại Công
ty cổ phần tư vấn đầu tư LIGHTHOUSE
Đề tài vận dụng chủ yếu các phương pháp phân tích, tổng hợp để làm rõ các quyđịnh của pháp luật hiện hành về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ thương mại Từ
đó phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật về giao kết hợp đồng vàquá trình áp dụng thực tiễn vào hoạt động giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ thươngmại tại Công ty cổ phần tư vấn đầu tư LIGHTHOUSE
Ngoài ra, đề tài cũng sử dụng các phương pháp thu thập, xử lý số liệu và phương pháp khảo sát đánh giá thực tiễn để tìm hiểu thêm thực tiễn áp dụng các quy phạm pháp luật về hợp đồng cung ứng dịch vụ tại Công ty cổ phần tư vấn đầu tưLIGHTHOUSE Nhằm làm rõ thêm về thực trạng áp dụng quy định của pháp luậttrong giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ thương mại Qua đó có thể đưa ra những
Trang 10giải pháp, kiến nghị giúp tăng cường hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật troggiao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ thương mại tại Công ty cổ phần tư vấn đầu tưLIGHTHOUSE.
6 Kết cấu khóa luận tốt nghiệp.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồngcung ứng dịch vụ trong thương mại
Chương 2: Thực trạng các quy định của pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứngdịch vụ trong thương mại và thực tiễn thực hiện tại Công ty cổ phần tư vấn đầu tưLIGHTHOUSE
Chương 3: Một số kiến nghị góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thựcthi pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong hoạt động thương mại
Trang 11CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VẤN ĐỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ TRONG THƯƠNG MẠI
1.1 Khái niệm cơ bản liên quan đến giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại.
Khái niệm hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại
Khoản 9 Điều 3 Luật Thương mại 2005 (LTM 2005) định nghĩa “Cung ứng dịch
vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (sau đây gọi là bên cung ứng dịch vụ) cónghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán, bên sử dụng dịch vụ(sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sửdụng dịch vụ theo thỏa thuận” Như vậy, khái niệm này nhìn nhận cung ứng dịch vụdưới góc độ là một hoạt động thương mại Theo đó, hoạt động cung ứng dịch vụ mangđầy đủ các đặc điểm của một hoạt động thương mại: có ít nhất hai bên tham gia vànhằm mục đích sinh lợi Tuy nhiên, từ khái niệm nêu trên, có thể thấy luật quy định rất
rõ ràng bên sử dụng dịch vụ (khách hàng) phải trả tiền dịch vụ Mà trả tiền dịch vụtheo thỏa thuận với bên cung cấp dịch vụ cũng có nghĩa là mua và bán dịch vụ hayrộng hơn và bao quát hơn đó là thương mại dịch vụ Vì vậy, có thể nói, hợp đồng cungứng dịch vụ là hợp đồng mua bán dịch vụ Hợp đồng này cũng mang tính thương mại.Theo quy định tại Điều 513 – Bộ luật dân sự năm 2015 (BLDS 2015) về Hợpđồng dịch vụ như sau: “Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bêncung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụphải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ” Vậy bên cung ứng dịch vụ thực hiệndịch vụ và bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ
Từ những khái niệm trên ta có thể hiểu: Hợp đồng cung ứng dịch vụ trongthương mại là hợp đồng thương mại Hợp đồng này là sự thỏa thuận giữa các bên, theo
đó bên cung ứng dịch vụ có nghĩa vụ thực hiện, cung cấp dịch vụ cho khách hàng, bênkhách hàng có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ theo thỏa thuận
Đặc điểm hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại
Nói về đặc điểm của hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại thì hiển nhiên
nó luôn có đặc điểm của hợp đồng thương mại, hợp đồng thương mại được ký kếtnhằm mục đích kinh doanh, sinh lợi nhuận, kiểm soát quyền và nghĩa vụ của các bên.Mục đích này được thể hiện tại các điều khoản mà các bên thảo thuận trong hợp đồngnhư: thực hiện hoạt động sản xuất, trao đổi hàng hóa, dịch vụ… ngoài ra hợp đồngcung ứng dịch vụ trong thương mại còn có các đặc điểm khác như:
Trang 12Thứ nhất, về chủ thể chủ thể của hợp đồng thương mại dịch vụ thường được gọi
là bên cung cấp dịch vụ và bên thuê dịch vụ hay còn gọi là khách hàng Đây là mộtđiểm khác biệt so với hợp đồng mua bán hàng hóa Chủ thể của hợp đồng mua bánhàng hóa thường được gọi là bên bán và bên mua Cách gọi này còn thể hiện sựchuyển giao quyền sở hữu hàng hóa trong quan hệ mua bán hàng hóa giữa hai bên, khinghĩa vụ của người bán không chỉ đơn thuần là giao hàng mà còn gắn liền với nghĩa
vụ chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa đó cho người mua Còn hợp đồng cung ứngdịch vụ thì một bên cung cấp dịch vụ nhưng không chuyển giao quyền sở hữu dịch vụ
đó, bên kia sử dụng dịch vụ và có nghĩa vụ thanh toán Chủ thể của hợp đồng cungứng dịch vụ trong thương mại có thể là cá nhân, tổ chức và phải có ít nhất một bên làthương nhân
Thứ hai, về đối tượng Đặc điểm cơ bản nhất của hợp đồng cung ứng dịch vụ làđối tượng của hợp đồng Đối tượng của hợp đồng là một loại dịch vụ nào đó: tính chấtcủa hợp đồng sẽ tùy thuộc vào loại hình dịch vụ Vì dịch vụ là sản phẩm vô hìnhkhông tồn tại dưới dạng vật chất nên không cần quan tâm đến nơi chứa dịch vụ, khôngquan tâm tới việc cất giữ, tồn kho hay dự trữ dịch vụ Điều quan trọng nhất của hợpđồng cung ứng dịch vụ là các bên phải mô tả kỹ dịch vụ đó, nêu ra những yêu cầu cụthể mà mục tiêu các bên muốn hướng tới khi mua bán dịch vụ, điều này yêu cầu cácbên phải hiểu rõ các dịch vụ đó Bên cung ứng dịch vụ bằng khả năng của mình phảithực hiện công việc mà bên sử dụng dịch vụ yêu cầu, còn bên sử dụng dịch vụ đượchưởng những lợi ích từ việc thực hiện dịch vụ Ngoài ra, Chính phủ đã ban hành Nghịđịnh số 19/VBHN-BCT ngày 09/5/2014 của Bộ Công thương “Quy định chi tiết luậtthương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh
có điều kiện”, khi thực hiện kinh doanh loại hình nào, các chủ thể có thể dựa vào đó
để lựa chọn những dịch vụ phù hợp, được phép kinh doanh Bởi vậy đối tượng cungứng dịch vụ của doanh nghiệp phải tuân theo đúng pháp luật đã quy định, không đượcthuộc những đối tượng dịch vụ, hàng hóa bị cấm theo pháp luật, trừ trường hợp theokhoản 2 điều 5 Nghị định số 19/VBHN-BCT: “Việc cung ứng hàng hóa, dịch vụ thuộcDanh mục hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh ban hành kèm theo Nghị định này trongtrường hợp cụ thể phải được Thủ tướng Chính phủ cho phép.”
Thứ ba, về nội dung, nội dung chủ yếu của hợp đồng là quyền và nghĩa vụ củahai bên Trong đó bên cung ứng dịch vụ có nghĩa vụ chủ yếu là thực hiện dịch vụ chobên kia, còn bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ chủ yếu là thanh toán phí sử dụng dịch
vụ (phí dịch vụ)
Thứ tư, về hình thức, hình thức của hợp đồng có thể bằng lời nói, bằng văn bảnhoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể Đối với các loại hợp đồng mà pháp luật quy
Trang 13định phải được thiết lập bằng văn bản thì phải tuân theo các quy định đó (Điều 74 LuậtThương mại 2005) Chẳng hạn, theo quy định của pháp luật Việt Nam, một số loại hợpđồng cung ứng dịch vụ sau đây phải được lập dưới hình thức văn bản hay một hìnhthức pháp lý tương đương: hợp đồng dịch vụ khuyến mại, hợp đồng dịch vụ quảng cáothương mại, hợp đồng dịch vụ trưng bày, giới thiệu hàng hóa, hợp đồng đại diện chothương nhân, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, hợp đồng đại lý thương mại, hợpđồng gia công, hợp đồng xây dựng, hợp đồng vận chuyển theo chuyến bằng đườngbiển, hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo hiểm…
Thứ năm, về tính chất pháp lý, hợp đồng cung ứng dịch vụ là hợp đồng song vụ,
có bồi hoàn Nghĩa là cả bên cung ứng dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ đều có quyền
và nghĩa vụ nhất định khi tham gia hợp đồng, trong đó quyền của bên này tương ứngvới nghĩa vụ của bên kia và ngược lại Quyền và nghĩa vụ do các bên thỏa thuận vớinhau và không được trái với pháp luật, đạo đức xã hội
Thông thường quyền và nghĩa vụ của bên thuê dịch vụ như:
- Bên thuê dịch vụ có quyền yêu cầu bên làm dịch vụ thực hiện công việc theođúng chất lượng, số lượng, thời hạn và các nội dung khác mà hai bên đã thỏa thuận
- Có quyền nhận kết quả công việc mà bên làm dịch vụ đã thực hiện
- Có quyền đơn phương chẩm dứt thực hiện hợp đồng, yêu cầu bồi thường thiệthại, nếu bên làm dịch vụ vi phạm nghĩa vụ Khi đơn phương chấm dứt thực hiện hợpđồng, bên thuê dịch vụ phải báo trước cho bên làm dịch vụ trong một khoảng thời gianhợp lý và phải trả tiền công theo số lượng, chất lượng mà bên làm dịch vụ đã thực hiện
và bồi thường thiệt hại (nếu có)
- Bên thuê dịch vụ có nghĩa vụ cung cấp cho bên làm dịch vụ thông tin, tài liệu
và các phương tiện cần thiết để thực hiện công việc nếu các bên có thỏa thuận hoặcviệc thực hiện dịch vụ có yêu cầu
- Bên thuê làm dịch vụ phải trả tiền công (thường gọi là tiền thù lao) cho bênlàm dịch vụ theo thỏa thuận khi xác lập họp đồng Tiền công được trả tại địa điểm thựchiện dịch vụ khi hoàn thành dịch vụ, nếu các bên không có thoả thuận khác
Quyền và nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ:
- Bên cung ứng dịch vụ có quyền yêu cầu bên thuê dịch vụ phải cung cấp thôngtin, tài liệu và phương tiện để thực hiện dịch vụ vì lợi ích của bên thuê dịch vụ
- Được phép thay đổi điều kiện dịch vụ vì lợi ích của bên thuê dịch vụ màkhông nhất thiết phải chờ ý kiến của bên thuê dịch vụ nếu việc chờ ý kiến sẽ gây thiệthại cho bên thuê dịch vụ, nhưng phải báo ngay cho bên thuê dịch vụ biết
- Bên cung ứng dịch vụ có quyền yêu cầu bên thuê dịch vụ phải trả tiền côngtheo thỏa thuận trong hợp đồng Nếu trong hợp đồng các bên không thỏa thuận cụ thể,
Trang 14thì tiền công được xác định theo mức trung bình đối với công việc cùng loại tại thờiđiểm và địa điểm hoàn thành công việc.
- Bên cung ứng dịch vụ cũng có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợpđồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại, nếu bên thuê dịch vụ không thực hiện nghĩa vụcủa mình hoặc thực hiện không đúng như nghĩa vụ mà các bên đã cam kết
Thứ sáu, về lợi ích thu được:
- Có thể là hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba
Thông thường, bên thuê dịch vụ là người hưởng lợi khi bên cung ứng dịch vụ đãthực hiện công việc dịch vụ Tuy nhiên, nhiều trường hợp, người thứ ba là người đượchưởng lợi từ việc bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc
- Có thể là dịch vụ đơn giản, có thể là dịch vụ phức tạp
Trong hợp đồng dịch vụ giản đơn thì chỉ là mối quan hệ trực tiếp giữa bên thuêdịch vụ và bên cung ứng dịch vụ Trong hợp đồng dịch vụ phức tạp sẽ có hai quan hệ:quan hệ giữa bên thuê dịch vụ và bên cung ứng dịch vụ (gọi là quan hệ bên trong) vàquan hệ giữa người làm dịch vụ và người thứ ba (gọi là quan hệ bên ngoài) Trongquan hệ bên trong, các bên phải thỏa thuận cụ thể về nội dung làm dịch vụ theo đó bêncung ứng dịch vụ phải thực hiện những hành vi nhất định vì lợi ích của bên thuê dịch
vụ Trong quan hệ bên ngoài, bên cung ứng dịch vụ phải nhân danh mình để tham giacác giao dịch dân sự, mà không được nhân danh bên thuê dịch vụ để giao dịch vớingười thứ ba Bên cung ứng dịch vụ hoàn toàn chịu trách nhiệm về hành vi của mìnhtrước người thứ ba, nếu pháp luật không quy định khác hoặc các bên không có thỏathuận khác
Hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại có thể chịu sự điều chỉnh của điềuước quốc tế về thương mại dịch vụ, luật quốc gia, tập quán thương mại quốc tế và cóthể bao gồm cả án lệ
1.1.2 Khái niệm giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại
Có nhiều quan điểm khác nhau về giao kết hợp đồng dân sự, BLDS 2015 cũngchưa định nghĩa rõ về giao kết hợp đồng dân sự Tổng hợp lại các quan điểm có thểthấy rằng: “Giao kết hợp đồng dân sự là việc các bên bày tỏ ý chí với nhau theo nhữngnguyên tắc và trình tự nhất định để qua đó xác lập với nhau các quyền và nghĩa vụ dânsự” Giao kết hợp đồng được bắt đầu bằng việc một bên đề nghị với bên kia giao kếthợp đồng và đồng thời thường kèm theo ngay nội dung chủ yếu của hợp đồng và thờihạn trả lời Trong trường hợp đó, người đề nghị không được thay đổi, mời người thứ
ba trong thời hạn chờ trả lời và phải chịu trách nhiệm về lời đề nghị của mình Tómlại, giao kết hợp đồng dân sự thể hiện sự thỏa thuận, thống nhất ý chí để làm phát sinh,thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên trong quan hệ hợp đồng
Trang 15Luật TM 2005 cũng không có quy định thế nào là giao kết hợp đồng cung ứngdịch vụ trong thương mại Tuy nhiên từ định nghĩa trên có thể hiểu: Giao kết hợp đồngcung ứng dịch vụ trong thương mại là việc các bên có liên quan bày tỏ ý chí, nguyệnvọng của mình để qua đó xác lập hợp đồng cung ứng dịch vụ với nội dung, hình thứcphù hợp với ý chí của các bên và tuân thủ theo những nguyên tắc giao kết nhất định.
1.2 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại
1.2.1 Cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại.
Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của con người ngày càng gia tăng, từ đó cácloại dịch vụ ra đời ngày càng nhiều Thương mại dịch vụ nói chung góp phần thúc đẩylưu thông hàng hóa, thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, tạo cơ hội việc làm chongười lao động và khai thác nguồn lực tự nhiên và kinh tế xã hội để phát triển kinh tế
Vì vậy, hoạt động cung ứng dịch vụ chiếm phần lớn trong nền kinh tế Các công tychuyên hoạt động về lĩnh vực dịch vụ xuất hiện phổ biến Đó là quy luật tự nhiên, cócung ắt có cầu, có cầu ắt có cung Để xác lập quyền, nghĩa vụ và các vấn đề khác cóliên quan, giữa bên cung ứng dịch vụ và bên nhận cung ứng dịch vụ sẽ thực hiện giaokết hợp đồng Để các bên có thể thỏa mãn tối đa các yêu cầu của mình, đảm bảo quyền
và lợi ích của các bên, sự ràng buộc đó được thể hiện dưới dạng hợp đồng cung ứngdịch vụ trong thương mại Để có được một hợp đồng cung ứng dịch vụ đảm bảo quyền
và lợi ích của các bên trước hết cần diễn ra quá trình giao kết hợp đồng cung ứng dịch
vụ thương mại Đây là quá trình đưa ý chí các bên lại gần và thống nhất đồng điệu vớinhau, là bước đầu tiên tạo nên hợp đồng cung ứng dịch vụ tương lai Do đó, cần có cácquy định cụ thể về vấn đề giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại nhằmđảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, cũng nhằm hạn chế những trường hợphợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại bị vô hiệu do không đáp ứng được cácđiều kiện có hiệu lực của hợp đồng xảy ra khi các bên giao kết với nhau Những quyđịnh cụ thể được điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thươngmại được ra đời tạo hành lang pháp lý cho các chủ thể có căn cứ xác định trách nhiệmcủa mình và của đối tác Các văn bản pháp luật hiện hành cơ bản điều chỉnh vấn đềnày gồm LTM 2005, BLDS 2015 Tùy từng loại dịch vụ khác nhau sẽ chịu thêm sựđiều chỉnh của những văn bản luật chuyên ngành cụ thể
Ngoài ra, Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế và là thành viên củacác Hiệp định, Điều ước quốc tế… Chẳng hạn, Ngày 18/12/2015, Việt Nam đã chínhthức phê duyệt việc gia nhập Công ước Viên về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tếcủa Liên hợp quốc (“CISG”) để trở thành viên thứ 84 của Công ước này Công ước
Trang 16Viên bắt đầu có hiệu lực ràng buộc tại Việt Nam từ ngày 1/1/2017 Vào ngày11/01/2007, Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới(WTO), bởi vậy Việt Nam cũng là thành viên của Hiệp định chung về Thuế quan vàThương mại 1994 (GATT)… Do vậy khi giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trongthương mại các doanh nghiệp Việt Nam cũng chịu sự điều chỉnh của những Hiệp định,Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
1.2.2 Nội dung pháp luật điều chỉnh về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại.
Pháp luật điều chỉnh về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mạibao gồm các quy định của pháp luật điều chỉnh về quá trình giao kết hợp hợp đồng,điều kiện có hiệu lực của hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại
Khi giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại các bên giao kết phảituân theo các thủ tục: đề nghị giao kết hợp đồng, chấp nhận giao kết hợp đồng và thờiđiểm giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại
Đề nghị giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại được quy định
từ Điều 386 đến Điều 395 BLDS 2015 bao gồm các quy định cụ thể về thời hạn, thờiđiểm, sửa đổi, thay đổi, rút lại, hủy bỏ và chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng
Khi một người muốn thiết lập một hợp đồng thì ý muốn đó phải thể hiện ra bênngoài thông qua một hành vi nhất định Như vậy bên đối tác mới có thể biết được ýmuốn của họ và mới có thể đi đến việc giao kết một hợp đồng Đề nghị giao kết hợpđồng là việc một bên biểu hiện ý chí, muốn bày tỏ cho bên kia ý muốn tham gia giaokết với họ một hợp đồng dân sự Một lời đề nghị được coi là đề nghị giao kết hợp đồngthì phải chứa đựng một số yếu tố cơ bản sau:
- Thể hiện rõ được nguyện vọng muốn đi đến giao kết hợp đồng của bên đềnghị
- Phải có chứa toàn bộ mọi điều kiện cơ bản của hợp đồng
- Phải xác định rõ bên được đề nghị
Việc đề nghị giao kết hợp đồng có thể được thực hiện bằng nhiều cách khácnhau: người đề nghị có thể trực tiếp (đối mặt) với người được đề nghị để trao đổi, thỏathuận hoặc có thể thông qua điện thoại…Ngoài ra, lời đề nghị còn được chuyển giaobằng công văn, giấy tờ…
Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế năm 2004 (PICC)
có quy định về đề nghị giao kết HĐ: “Một đề nghị được gọi là đề nghị giao kết HĐnếu nó đủ rõ ràng thể hiện ý chí của bên đưa ra đề nghị bị ràng buộc khi đề nghị giaokết được chấp nhận” – điều 2.1.2 (Định nghĩa đề nghị giao kết hợp đồng)
Trang 17 Chấp nhận giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại được quyđịnh từ Điều 393 đến Điều 399 BLDS 2015.
Chấp nhận giao kết hợp đồng có thể là một tuyên bố hoặc cách xử sự khác củabên được đề nghị cho thấy họ chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng Bản thân sự imlặng hay bất tác vi không có giá trị như một chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.Việc chấp nhận một đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực khi dấu hiệu của việc chấpnhận giao kết hợp đồng đến bên đề nghị Tuy nhiên, nếu theo đề nghị giao kết hợpđồng, các thói quen đã được xác lập giữa các bên hoặc theo tập quán, bên được đềnghị có thể chỉ ra là mình đã chấp nhận giao kết hợp đồng bằng việc thực hiện mộthành vi mà không cần thông báo cho bên đề nghị biết, việc chấp nhận có hiệu lực khihành vi đó được hoàn thành
Thời điểm giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại được quyđịnh tại Điều 400 BLDS 2015
Hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận giaokết Trường hợp các bên có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợpđồng trong một thời hạn thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cuối cùng củathời hạn đó Nếu giao kết bằng lời nói thì thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói làthời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng Nếu giao kết bằng văn bảnthì thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào vănbản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản
Hiệu lực của hợp đồng được quy định tại 401 BLDS 2015:
“1 Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp
có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác
2 Từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đốivới nhau theo cam kết Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa thuận củacác bên hoặc theo quy định của pháp luật”
Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp cóthỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác Như vậy, từ thời điểm hợp đồng
có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết Hợpđồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy địnhcủa pháp luật Và quy định này là nhẳm đảm bảo việc thực hiện hợp đồng của các bên,đồng thời rõ ràng hơn trong việc thay đổi nội dung hợp đồng (tức là phải có sự thỏathuận giữa các bên)
Những quy định về hợp đồng dân sự trong BLDS 2015 được coi là nguồn luậtchung điều chỉnh các quan hệ hợp đồng dân sự và các quan hệ hợp đồng khác, nếu nhưkhông có quy định của luật chuyên ngành Trong Bộ luật Dân sự 2015, Hợp đồng dịch
Trang 18vụ được quy định tại Chương XVI, Mục 9 từ Điều 513 đến Điều 521 với khái niệm,đối tượng của hợp đồng dịch vụ, quyền và nghĩa vụ của các bên thuê dịch vụ/ bêncung ứng dịch vụ, đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dịch vụ.
Luật TM 2005 được áp dụng điều chỉnh các hoạt động thương mại thực hiện trênlãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, kể cả các hoạt động thương mạithực hiện ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợpcác bên lựa chọn áp dụng LTM 2005 Luật TM 2005 không quy định cụ thể các điềukhoản chủ yếu trong hợp đồng dịch vụ, các bên tham gia tự đưa ra các điều khoảntrong hợp đồng dịch vụ nhưng các điều khoản do hai bên thỏa thuận không được tráipháp luật và điều chỉnh theo hướng quy định các quyền và nghĩa vụ của các bên tronghợp đồng Và theo Điều 46 LTM 2005 quy định về dịch vụ cấm kinh doanh, dịch vụhạn chế kinh doanh và dịch vụ kinh doanh có điều kiện:
“1 Căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội của từng thời kỳ và điều ước quốc tế màCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Chính phủ quy định cụ thể danhmục dịch vụ cấm kinh doanh, dịch vụ hạn chế kinh doanh, dịch vụ kinh doanh có điềukiện và điều kiện để được kinh doanh dịch vụ đó
2 Đối với dịch vụ hạn chế kinh doanh, dịch vụ kinh doanh có điều kiện, việccung ứng dịch vụ chỉ được thực hiện khi dịch vụ và các bên tham gia hoạt động cungứng dịch vụ đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.”
Nghị định số 19/VBHN-BCT quy định chi tiết Luật Thương mại về hàng hóa,dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện bởi vậy,những hàng hóa , dịch vụ bị cấm được quy định trong Nghị định này sẽ bị nghiêm cấmkinh doanh trừ trường hợp theo khoản 2 điều 5 Nghị định số 19/VBHN-BCT: “Việccung ứng hàng hóa, dịch vụ thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh banhành kèm theo Nghị định này trong trường hợp cụ thể phải được Thủ tướng Chính phủcho phép”
Công ước Viên về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của Liên hiệp quốc năm
1980 (CISG), vấn đề giao kết hợp đồng được quy định từ điều 14 đến điều 24 Phần IICông Ước Viên 1980 Công Ước quy định: “ Một đề nghị ký kết hợp đồng gửi chomột hay nhiều người xác định được coi là một chào hàng nếu có đủ chính xác và nếu
nó chỉ rõ ý chí của người chào hàng muốn tự ràng buộc mình trong trường hợp có sựchấp nhận chào hàng đó Một đề nghị là đủ chính xác khi nó nêu rõ hàng hóa và ấnđịnh số lượng về giá cả một cách trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc quy định thể thức xácđịnh những yếu tố này.” – Khoản 1 Điều 14 CƯV 1980 Về hiệu lực của lời chàohàng, hủy bỏ lời chào hàng, chấp nhận chào hàng, trả lời chào hàng… lần lượt đượcquy định từ Điều 15 đến Điều 24 của Công Ước Viên 1980
Trang 19Bộ nguyên tắc về hợp đồng thương mại quốc tế của UNIDROIT năm 2004 đều
có những quy định về giao kết hợp đồng dân sự, chẳng hạn:
- Nguyên tắc tự do hợp đồng: “Các bên trong hợp đồng được tự do giao kết hợpđồng, thỏa thuận nội dung của hợp đồng” – điều 1.1 (Tự do hợp đồng )
- Nguyên tắc thiện chí và trung thực: “các bên trong hợp đồng phải hành độngphù hợp với tinh thần thiện chí và trung thực trong các giao dịch thương mại quốc tế”– điều 1.7 (Thiện chí và trung thực)
- Phương thức giao kết HĐ: “Một HĐ có thể được giao kết bằng việc chấpthuận một chào hàng hoặc bằng hành vi của các bên theo đó đã thể hiện đầy đủ nộidung của sự thỏa thuận” – điều 2.1.1 (Phương thức giao kết hợp đồng)
Hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại có hiệu lực khi đáp ứng các điềukiện về chủ thể, mục đích và nội dung, hình thức, đảm bảo thực hiện đúng các nguyêntắc giao kết hợp đồng Ngoài ra, để làm rõ nội dung hợp đồng, có sự bổ sung bởi phụlục hợp đồng Phụ lục hợp đồng có hiệu lực như hợp đồng, nhưng nội dung của phụlục không được trái với hợp đồng Trường hợp phụ lục có điều khoản trái với nội dungcủa điều khoản trong hợp đồng thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp
có thỏa thuận khác Nếu các bên chấp nhận phụ lục hợp đồng có điều khoản trái vớiđiều khoản trong hợp đồng thì coi như điều khoản đó trong hợp đồng đã được sửa đổi.Pháp luật có vai trò trong việc đảm bảo các chủ thể trong hoạt động thương mạithực hiện đúng các quy chuẩn về giao kết hợp đồng nói chung cũng như giao kết hợpđồng cung ứng dịch vụ trong thương mại nói riêng Đồng thời ngăn chặn các hành vi
vi phạm về giao kết hợp đồng, thực hiện không đúng trình tự giao kết, hủy bỏ hay thayđổi một cách tự ý đề nghị giao kết… Nếu không có pháp luật quy định rõ thì việc giaokết hợp đồng cung ứng dịch vụ sẽ gặp nhiều khó khăn, bất cập Ngoài ra, nâng cao ýthức pháp luật của các chủ thể khi tham gia hoạt động giao kết hợp đồng cung ứngdịch vụ trong thương mại Nếu pháp luật không quy định hoặc quy định sơ sài thì sẽkhông có chế tài nào có thể kiểm soát được hoạt động thương mại trên thị trường, từ
đó sẽ dẫn tới rất nhiều rủi ro khác như tự ý hủy bỏ giao kết gây thiệt hại cho đối tác màkhông chịu bất cứ hình thức bồi thường nào…
1.2.3 Các nguyên tắc pháp luật điều chỉnh lĩnh vực giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại.
Tôn trọng quyền tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật,đạo đức xã hội
Bộ luật Dân sự quy định cho các chủ thể được tự do giao kết hợp đồng nhằm tạođiều kiện cho các chủ thể có thể thoả mãn nhu cầu vật chất cũng như tinh thần Dựatrên nguyên tắc này, mọi cá nhân, tổ chức khi có đủ các điều kiện tư cách chủ thể đều
có thể tham gia giao kết bất kỳ một giao dịch hợp đồng dân sự nào Tuy nhiên, hợp
Trang 20đồng chỉ có hiệu lực pháp luật, được pháp luật công nhận và bảo vệ khi ý chí của cácbên giao kết hợp đồng phù hợp với ý chí của nhà nước Tức là sự tự do ý chí giao kếthợp đồng của các chủ thể phải nằm trong khuôn khổ, giới hạn nhất định, giới hạn lợiích của các cá nhân khác, lợi ích chung của xã hội Nếu các bên tự do vô hạn thì hợpđồng dân sự sẽ trở thành phương tiện để người giàu bóc lột người nghèo, sẽ là nguy cơđối với lợi ích chung của xã hội, lợi ích của cộng đồng Bởi vậy, cần phải tăng cường
sự can thiệp của nhà nước vào các quan hệ dân sự Chính vì vậy, trong xã hội ta – xãhội xã hội chủ nghĩa, lợi ích chung của toàn xã hội (lợi ích cộng đồng) và đạo đức xãhội không cho phép bất cứ cá nhân, tổ chức nào được lợi dụng ý chí tự do để biếnnhững hợp đồng dân sự thành phương tiện bóc lột Bên cạnh việc bảo đảm lợi ích củamình, các chủ thể phải chú ý tới quyền, lợi ích của người khác, của toàn xã hội; tự docủa mỗi chủ thể không được trái pháp luật, đạo đức xã hội Lợi ích của cộng đồng, củatoàn xã hội được quy định bởi pháp luật và đạo đức xã hội trở thành giới hạn cho sự tự
do ý chí của các chủ thể khi tham gia giao kết hợp đồng nói riêng, và trong mọi hành
vi của chủ thể nói chung
Đề cao tinh thần tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngaythẳng
Nguyên tắc này được quy định nhằm bảo đảm trong việc giao kết hợp đồngkhông ai bị cưỡng ép hoặc bị những cản trở trái với ý chí của mình; đồng thời thể hiệnbản chất của quan hệ pháp luật dân sự Hơn nữa, ý chí tự nguyện của cac bên chủ thểtham gia hợp đồng chỉ được bảo đảm khi các bên bình đẳng với nhau trên mọi phươngdiện Chính vì vậy, pháp luật không thừa nhận những hợp đồng được giao kết thiếu sựbình đẳng và ý chí tự nguyện của một trong các bên chủ thể Tuy nhiên, trên thực tế thìviệc đánh giá một hợp đồng có được giao kết bảo đảm ý chí tự nguyện của các bên haychưa, trong một số trường hợp lại là một công việc hoàn toàn không đơn giản và kháphức tạp bởi nhiều nguyên do chủ quan và khách quan khác nhau
Sự thống nhất ý chí của chủ thể giao kết hợp đồng với sự bày tỏ ý chí đó trongnội dung hợp đồng mà chủ thể này đã giao kết chính là cơ sở quan trọng để xác địnhmột hợp đồng đã đảm bảo nguyên tắc tự nguyện hay chưa Hay nói cách khác, việcgiao kết hợp đồng chỉ được coi là tự nguyện khi hình thức của hợp đồng phản ánh mộtcách khách quan, trung thực mong muốn, nguyện vọng của các bên chủ thể tham giahợp đồng Ngoài ra, mọi thông tin do chủ thể cung cấp, đề cập trong đề nghị giao kết,trong hợp đồng giao kết đều phải dựa trên nguyên tắc trung thực, ngay thẳng Mọithông tin đều phải đúng sự thật, không được lừa dối, sai sự thật Do đó, theo quy địnhcủa pháp luật thì tất cả những hợp đồng được giao kết do bị nhầm lẫn, lừa dối hay bị
đe doạ đều không đáp ứng được nguyên tắc tự nguyện khi giao kết và do đó bị vô hiệu
Trang 21CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ TRONG THƯƠNG MẠI VÀ THỰC
TIỄN THỰC HIỆN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN ĐẦU TƯ
lý của nhà nước và sự hội nhập diễn ra tốt hơn Tùy vào từng thời kỳ, tình hình kinh tế
xã hội mà pháp luật điều chỉnh các hoạt động thương mại có những điều chỉnh khácnhau, LTM 2005 điều chỉnh những vấn đề liên quan đặc thù thương mại Ngoài ra một
số trường hợp không có quy định trong LTM 2005 thì áp dụng đến BLDS 2015 Điểnhình như một số quan hệ pháp luật trong giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trongthương mại không được quy định trong LTM 2005 mà phải áp dụng quy định củaBLDS 2015 Trước đây Bộ luật dân sự 2005( BLDS 2005) còn hiệu lực là một trongnhững Bộ luật điều chỉnh các hoạt động thương mại sau đó Bộ luật này được sửa đổi,
bổ sung thành BLDS 2015 Trong đó pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụthương mại cũng là một trong những nội dung được sửa đổi trong BLDS 2015 để phùhợp với hoạt động thương mại trong thực tế
Tính đến thời điểm hiện tại LTM 2005 và BLDS 2015 vẫn đang là các văn bảnhiện hành điều chỉnh giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại Trong cácvăn bản này chứa đựng các quy định điều chỉnh về nguyên tắc giao kết, đề nghị giaokết, chấp nhận giao kết, thời điểm có hiệu lực, điều kiện có hiệu lực của hợp đồngcung ứng dịch vụ trong thương mại Khi các quy định này hình thành và có hiệu lực đãtạo cơ sở pháp lý cho mọi chủ thể tham gia quan hệ giao kết hợp đồng cung ứng dịch
vụ trong thương mại
Hiện nay, BLDS 2015 và LTM 2005 thay thế cho các văn bản cũ, là căn cứ giúpcho các chủ thể xác định được nghĩa vụ, quyền hạn, thể thức giao kết hợp đồng Dù cónhiều điểm tích cực từ hai văn bản pháp luật này mang lại, tuy nhiên nó vẫn còn cónhững điểm hạn chế nhất định, nhiều quy định còn có nhiều cách hiểu khác nhau gâykhó khăn trong quá trình thực hiện pháp luật
Trang 22Ngoài hai văn bản trên thì Công Ước Viên 1980 (CƯV 1980), các Điều ƯớcQuốc tế như Hiệp định chung về Thuế quan và Thương Mại - GATT( 1994) ( Hiệpđịnh GATT) mà Việt Nam là thành viên cũng có những quy định về giao kết hợp đồngnói chung Tuy nhiên, chúng đều có những quy định khác so với các quy định củapháp luật Việt Nam từ đó gây khó khăn cho các chủ thể trong hoạt động giao kết hợpđồng cung ứng dịch vụ thương mại.
2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại.
Chủ trương chính sách, đường lối của Đảng
Đường lối chính sách của Đảng định ra mục tiêu và phương hướng phát triểnkinh tế – xã hội của đất nước trong một giai đoạn nhất định, định ra những phươngpháp cách thức cơ bản để có thể thực hiện những mục tiêu và phương hướng đó Phápluật nước ta chính là kết quả của sự thể chế hóa đường lối, quan điểm của Đảng Cộngsản Việt Nam Sự chi phối của đường lối, quan điểm của Đảng tới pháp luật hợp đồngnói chung, pháp luật về giao kết hợp đồng nói riêng là sự chi phối mang tính hệ thống,diễn ra từ khâu xây dựng, hoàn thiện pháp luật đến khâu thực thi và áp dụng pháp luật
về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại trên thực tế Vì thế đường lốichính sách của Đảng là một trong những nhân tố có sức ảnh hưởng lớn nhất nội dungcủa pháp luật, nội dung các quy định trong tất cả các văn bản quy phạm pháp luật, từHiến pháp, Luật cho đến các văn bản dưới luật đều phải phù hợp, không được trái vớiđường lối chính sách của Đảng và tất nhiên pháp luật về giao kết hợp đồng cung ứngdịch vụ trong thương mại cũng chịu sự ảnh hưởng bởi đường lối chính sách của Đảng
Trình độ phát triển kinh tế - xã hội
Yếu tố quan trọng quyết định đến việc thực thi pháp luật nói chung và pháp luật
về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại nói riêng chính là cơ sở kinh
tế Điều kiện kinh tế thấp kém, đời sống vật chất kém thì nhu cầu sử dụng dịch của conngười sẽ hạn hẹp hơn; ngược lại, kinh tế càng phát triển đời sống vật chất càng cao thìcon người lại càng hướng tới việc sử dụng các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu giải trícủa bản thân như du lịch, ăn uống,…Như vậy, độ phát triển kinh tế tác động thườngxuyên, trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả thực thi pháp luật về giao kết hợp đồngcung ứng dịch vụ trong thương mại trên thực tế Trong cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tậptrung, không có loại hình dịch vụ nào phát triển Tất cả các hoạt động đều có mộtnhiệm vụ duy nhất là thực hiện theo đúng quy định của pháp luật để phục vụ cho lợiích chung của Nhà nước, của xã hội Với điều kiện đó, khó có thể tìm thấy hành vi tráipháp luật trong việc giao kết hợp đồng Ngược lại, trong cơ chế kinh tế thị trường,quyền tự do kinh doanh của con người được tôn trọng, trên cơ sở đó, hệ thống pháp
Trang 23luật về giao kết hợp đồng nói chung và giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trongthương mại nói riêng đã phát triển mạnh mẽ để thực hiện quyền tự do của hai bêntrong quan hệ giao kết hợp đồng
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Việt Nam đã gia nhập Công Ước Viên 1980 vàcũng là thành viên của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương Mại -GATT( 1994) Điều này sẽ giúp cho Việt Nam thống nhất pháp luật trong hoạt độngthương mại với các quốc gia trên thế giới Từ đó sẽ có khung pháp lý hiện đại, côngbằng và an toàn để thực hiện các hoạt động thương mại quốc tế, có căn cứ để giảiquyết các tranh chấp phát sinh có điều kiện cạnh tranh công bằng hơn trên trường quốc
tế Tuy nhiên, điều này cũng có những bất cập đối với hoạt động thương mại nói chungcũng như giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ thương mại nói riêng Chẳng hạn, CƯV
1980 và các Điều Ước Quốc tê có những quy định khác so với pháp luật Việt Nam,điều này sẽ gây khó khăn cho các chủ thể giao kết hợp động trong việc lựa chọn luật
áp dụng, bất cập về thẩm quyền xảy ra tranh chấp trong hoạt động thương mại quốc tếhay trong việc giao kết hợp đồng với những nước không phải là thành viên
Hiện nay, việc giao kết các hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại được
sử dụng rộng rãi để giao kết hợp đồng với cả các đối tượng trong nước và đối tượngnước ngoài Theo đó, bên cung ứng dịch vụ và bên thuê dịch vụ có quyền tự do thỏathuận để xác lập các quyền và nghĩa vụ của mình trong hợp đồng cung ứng dịch vụ cóthể hình thành trong tương lai Quá trình giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trongthương mại có thể coi là một quá trình hợp tác, cạnh tranh của các bên, trước hết vì lợiích của chính họ, sau là vì lợi ích chung của hai bên
Chủ thể tham gia giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại
Chủ thể tham gia giao kết hợp đồng bao gồm cá nhân và tổ chức Điểm a khoản 1Điều 117 Bộ luật Doanh nghiệp năm 2015 quy định điều kiện chủ thể tham gia giaokết hợp đồng như sau: “Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sựphù hợp với giao dịch dân sự được xác lập” Theo đó, cá nhân, tổ chức tham gia giaokết hợp đồng phải có đủ năng lực hành vi và năng lực pháp luật dân sự phù hợp vớitừng loại hợp đồng
o Đối với cá nhân:
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự
và nghĩa vụ dân sự (Điều 16 Bộ luật dân sự) Năng lực hành vi dân sự của cá nhân làkhả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự(Điều 19 Bộ luật Dân sự 2015) Thông thường, người từ đủ 18 tuổi là người có nănglực hành vi dân sụ đầy đủ, trừ một số trường hợp: Người mất năng lực hành vi dân sự;
Trang 24Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, Người có khó khăn trong nhận thức và làmchủ hành vi.
Đối với các hợp đồng thông thường thì người từ đủ 18 tuổi trở lên có thể thamgia giao kết hợp đồng Tuy nhiên tùy từng loại hợp đồng mà cho phép người dưới 18tuổi có thể tự mình tham gia giao kết; một số loại hợp đồng thì người trên 18 tuổinhững cũng không đủ điều kiện tham gia giao kết Người dưới 18 tuổi tham gia giaokết hợp đồng thường phải có người đại diện hợp pháp hoặc người giám hộ đồng ýhoặc thực hiện trên sự đồng ý của người dưới 18 tuổi
o Đối với Tổ chức:
Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng của pháp nhân có cácquyền, nghĩa vụ dân sự (Điều 86 Bộ luật Dân sự 2015) Một tổ chức được coi là phápnhân khi đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 74 Bộ luật Dân sự 2015:
- Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan
- Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này
- Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tàisản của mình
- Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập
Khi tổ chức tham gia giao kết hợp đồng phải thông qua người đại diện theo phápluật của tổ chức đó Do đó, chủ thể giao kết hợp đồng của pháp nhân vừa phải đáp ứngđiều kiện đối với cá nhân lại phải là người đại diện hợp pháp của tổ chức (hoặc ngườiđại diện theo ủy quyền) Tuy nhiên, đối với từng loại hợp đồng có các điều kiện khácđối với chủ thể tham gia giao kết thì các chủ thể cũng phải đáp ứng các điều kiện đónhư điều kiện về chuyên môn, khả năng lao động,…
Theo LTM 2005 thì chủ thể của hợp đồng dịch vụ là các thương nhân Theo điều
6 LTM 2005 thì thương nhân gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhânhoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh Đểtrở thành thương nhân thì cá nhân đủ 18 tuổi trở lên, pháp nhân có đủ điều kiện kinhdoanh thương mại theo quy định của pháp luật thì cơ quan nhà nước có toàn quyền cấpgiấy chứng nhận kinh doanh và trở thành thương nhân
Trình độ chuyên môn, hiểu biết của mỗi bên trong giao kết hợp đồng cung ứngdịch vụ thương mại ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả thực thi các quyđịnh về giao kết hợp đồng cung ứng dịch vụ trong thương mại Trong mối quan hệgiữa pháp luật và ý thức pháp luật thì ý thức pháp luật là nhân tố thúc đẩy việc thựchiện pháp luật trong đời sống xã hội và ý thức pháp luật là cơ sở bảo đảm cho việc ápdụng đúng đắn các quy phạm pháp luật Ý thức pháp luật của một chủ thể cao hay thấpmột phần lớn phụ thuộc vào trình độ pháp luật của chính chủ thể đó; Tuy nhiên, không