Đặc trưng quyền con người của bị can, bị cáo trong tư pháp hình sự .14 CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TƯ PHÁP HÌNH SỰ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY ...19 2.1... N
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ BÌNH
PHÁP LUẬT VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI
TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ HÌNH SỰ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành : Lý luận lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số : 603801
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2012
Trang 2Công trình đƣợc hoàn thành tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS KH Đào Trí Úc
Vào hồi giờ , ngày tháng năm 200…
Có thể tìm hiểu luận văn tại
Trung tâm tƣ liệu Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội
Trung tâm tƣ liệu – Thƣ viện Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 3MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: QUYỀN CON NGƯỜI VÀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG VIỆC ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI 6
1.1 Khái lược quyền con người và vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm quyền con người 6
1.1.1 Khái niệm quyền con người 6
1.1.2 Vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm quyền con người 9
1.2 Đặc trưng quyền con người của bị can, bị cáo trong tư pháp hình sự 14 CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TƯ PHÁP HÌNH SỰ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 19
2.1 Quy định của Hiến Pháp về bảo đảm quyền con người đối với người phạm tội 19
2.2 Bảo đảm quyền con người đối với người phạm tội thông qua các quy định về tội phạm và hình phạt 22
2.2.1 Quy định trách nhiệm hình sự 22
2.2.2 Quy định phân loại tội phạm 27
2.2.3 Quy định hình phạt, mục đích hình phạt, áp dụng hình phạt 38
2.3 Bảo đảm quyền con người đối với bị can, bị cáo thông qua các quy định của tố tụng hình sự 45
2.3.1 Quyền của bị cáo khi tham gia tố tụng (xét xử) 45
2.3.2 Một số quy định của pháp luật tố tụng hình sự và thực trạng áp dụng các quy định này 51
Trang 4CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐẢM BẢO
QUYỀN CON NGƯỜI TRONG XÉT XỬ HÌNH SỰ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 59
3.1 Quan điểm chung về phương hướng hoàn thiện 59
3.2 Bảo đảm thực hiện các quy định trong các Công ước Quốc tế mà Việt Nam tham gia, ký kết về quyền con người đối với các bị can, bị cáo 60
3.3 Các bảo đảm trong xét xử của Toà án 60
3.4 Nội dung hoàn thiện pháp luật Hình sự và Tố tụng hình sự nhằm bảo đảm quyền con người 61
3.4.1 Về pháp luật hình sự 61
3.4.2 Về pháp luật tố tụng hình sự 70
KẾT LUẬN 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Quyền con người là một trong những vấn đề thiêng liêng, cơ bản và cũng luôn luôn là khát vọng của toàn thể nhân loại Quyền con người được sinh ra và đồng thời cũng phải bảo đảm thực hiện như một lẽ tự nhiên Cho nên, nó không chỉ là vấn đề trọng yếu trong luật pháp quốc tế mà còn là chế định pháp lý cơ bản trong pháp luật của các quốc gia Quyền con người là một trong những giá trị nhân bản cao nhất mà các quốc gia trên thế giới đều đề cao và bảo vệ Bảo vệ quyền con người cũng là một nhân
tố quan trọng cho sự phát triển bền vững của một quốc gia Mỗi quốc gia đều xây dựng một hệ thống pháp luật riêng cho quốc gia của mình dựa trên các điều kiện chính trị, kinh tế - xã hội và các giá trị truyền thống văn hóa của quốc gia để bảo đảm các quyền con người được thực hiện một cách tốt nhất và đầy đủ nhất Hệ thống pháp luật này phải phù hợp với các nguyên tắc, nội dung cơ bản của luật pháp quốc tế, đặc biệt là Hiến chương Liên Hiệp Quốc
Ở Việt Nam, sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, quyền con người được chính thức tuyên bố
và ghi nhận bằng pháp Quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam, với những nhiệm vụ nặng nề mà vinh quang, xét cho cùng cũng chỉ là vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội mà cốt lõi của nó là bảo đảm thực hiện quyền con người Phản ánh các quá trình phát triển đó, từ Hiến pháp 1946,
1959, 1980 đến Hiến pháp 1992 đều thể chế hoá quyền con người, từng bước mở rộng quyền con người Trên cơ sở đó, hệ thống chính sách pháp luật bảo đảm quyền con người ngày càng được củng cố hoàn thiện
Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, Nhà nước ta đã chuyển hoá nhiều nội dung về quyền con người trong các tuyên
bố, công ước quốc tế mà Nhà nước ta tham gia phê chuẩn, ký kết Bên cạnh các hoạt động "lập pháp" đó, Nhà nước ta đã có nhiều chính sách, biện pháp và hoạt động thực tế bảo đảm thực hiện quyền con người Các
cơ quan bảo vệ pháp luật không ngừng được củng cố, phát triển, xã hội ngày càng công bằng, văn minh, tạo cho mọi người có môi trường tự do,
Trang 6bình đẳng để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình, đồng thời bảo vệ con người khỏi các hành vi xâm hại
Song, quyền con người luôn là lĩnh vực nhạy cảm, phức tạp nên bảo đảm thực hiện nó không phải chỉ dừng lại ở việc ghi nhận quyền con người
mà còn phải thực thi nhiều biện pháp đồng bộ, được mọi cấp, mọi ngành, mọi người tham gia Trong đó, Toà án có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng Bởi vì, một trong những nhiệm vụ cơ bản trong xét xử của Toà án chính là hoạt động trực tiếp bảo vệ quyền con người đối với bên bị hại và cả bên bị cáo - là những người mà quyền con người của họ dễ có nguy cơ bị xâm hại Nhiều năm qua, theo quy định của pháp luật, Toà án đã tích cực tham gia đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm, bảo vệ chế độ
xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Song, trong xét xử vẫn còn oan sai; quyền con người của bị cáo có lúc có nơi chưa được tôn trọng còn bị vi phạm, chưa có biện pháp bảo đảm hữu hiệu Điều đó, do nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau, song sự hạn chế, thiếu đồng bộ của pháp luật có tác động đáng kể
Như vậy, thực tiễn đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đặt ra nhiệm vụ cấp bách - phải hoàn thiện pháp luật, tạo cơ sở pháp lý, bảo đảm quyền con người nhất là pháp luật trong lĩnh vực xét xử hình sự của Toà án
"xây dựng và hoàn thiện bảo đảm pháp lý thực hiện quyền con người trong điều kiện đổi mới ở nước ta hiện nay" là luận án PTS của thầy giáo Nguyễn Văn Mạnh Trung tâm nghiên cứu quyền con người thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh biên soạn cuốn sách "Một số vấn đề
về quyền dân sự và chính trị", xuất bản năm 1997 PGS TS Trần Ngọc
Trang 7Đường có một số bài viết về quyền con người, trong đó có bài "Hành vi hợp pháp - nhân tố bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân" in trong tập 1 chuyên khảo "quyền con người, quyền công dân" Tạp chí cộng sản tháng 5-1993 có đăng bài "Quyền con người và quyền công dân" của PGS TS (hiện nay là Giáo sư, Tiến sỹ) Hoàng Văn Hảo và Chu Thành PTS (nay là Tiến sỹ) Lê Minh Thông viết bài "Hoàn thiện pháp luật về quyền con người trong điều kiện phát huy dân chủ ở nước ta hiện nay" trong Tạp chí Nhà nước và pháp luật, tháng 12-1998 Tác giả Nguyễn Văn Hiện có bài "Toà án và việc bảo vệ quyền và lợi ích của cá nhân và tổ chức" - Tạp chí Nhà nước và pháp luật, tháng 8-1999
Các công trình khoa học, bài viết này hoặc là tổng quát, hoặc đi sâu nghiên cứu, phân tích, luận giải một số nội dung về quyền con người, các biện pháp bảo đảm quyền con người, vấn đề bảo vệ quyền con người
Tiến sĩ Phạm Hồng Hải có biên soạn cuốn sách Đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội, xuất bản năm 1999 và bài Mấy ý kiến về bảo
vệ quyền con người trong tố tụng hình sự ở nước ta (tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 3 năm 1998) nêu lên một số vấn đề về vi phạm quyền con người từ phía cơ quan tiến hành tố tụng đối với bị can, bị cáo và từ phía các phần tử xấu đối với những người tiến hành tố tụng
Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống quy định của pháp luật nước ta hiện nay về bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn
* Đối tƣợng: Đề tài tập trung nghiên cứu việc hoàn thiện pháp luật
bảo đảm thực hiện quyền con người trong tư pháp hình sự
* Phạm vi: Đề tài chỉ nghiên cứu về pháp luật bảo đảm thực hiện
quyền con người đối với bị cáo bị truy tố trước Toà mà không đi sâu phân tích về pháp luật bảo đảm quyền con người đối với các đối tượng khác trong các vụ án dân sự, kinh tế, hôn nhân, gia đình cũng như các bên khác tiến hành hoặc tham gia tố tụng hình sự
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận văn
* Mục đích: Đưa ra các nội dung hoàn thiện pháp luật bảo đảm
quyền con người trong xét xử hình sự
Trang 85 Phương pháp nghiên cứu:
Việc nghiên cứu đề tài được dựa trên cơ sở những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu đề tài luận văn là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp cụ thể như: phân tích - tổng hợp, khảo sát, so sánh
6 Đóng góp khoa học của đề tài:
Góp phần làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về quyền con người, đặc biệt là quyền con người trong xét xử hình sự Trên cơ sở đó đánh giá thực trạng và đề xuất phương hướng, nội dung hoàn thiện pháp luật trong xét xử hình sự
7 Kết cấu đề tài
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương, 6 tiết
Trang 9CHƯƠNG I QUYỀN CON NGƯỜI VÀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT
TRONG VIỆC ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI
1.1 Khái lược quyền con người và vai trò của pháp luật trong việc đảm bảo quyền con người
1.1.1 Khái niệm quyền con người
Mặc dù "quyền con người" mãi sau này (thế kỷ 18) mới được khẳng định, nhưng những ý tưởng về nó lại ra đời rất sớm cùng với sự phân chia giai cấp trong xã hội và hình thành Nhà nước Khi mà trong các Nhà nước chiếm hữu nô lệ, con người bị coi là những "công cụ biết nói" thì những tiếng kêu cứu đòi quyền được sống, được tự do, được quyền làm người cũng xuất hiện
Quyền con người, ngay từ đầu là một thuộc tính bản chất tự nhiên, là
"đặc quyền" Cho nên, khi các "đặc quyền" đó bị vi phạm, bị chà đạp thô bạo trong các Nhà nước cổ đại thì đã có những cuộc khởi nghĩa của tầng lớp bị trị nổ ra đòi lại những đặc quyền vốn sơ khai đó Do có những cuộc đấu tranh "làm cho công lý bùng nổ để ngăn chặn kẻ mạnh không làm hại
kẻ yếu" mà đã xác lập nên Bộ luật Hamurabi Mặc dù còn nhiều hạn chế:
là công cụ phục vụ mục đích thống trị, song Bộ luật đó đã nêu lên được tư tưởng về bình đẳng, dân chủ, pháp luật hoá tư tưởng về quyền con người
Quyền con người là một trong những giá trị xã hội cao quý nhất đồng thời là vấn đề rộng lớn, phức tạp, được nhiều chuyên ngành khoa học nghiên cứu, do đó có nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau về quyền con người Song, trước hết, quyền con người được hiểu là những đặc quyền mà con người sinh ra là tự nhiên có Đó là những đặc quyền mang tính tự nhiên mà nổi bật là quyền được sống, được bảo vệ, được tự do phát triển Mặc dù, những đặc quyền đó có trước, song chừng nào chưa được công nhận thì chúng không thể được đưa ra áp dụng Do đó, để đạt tới cái gọi là quyền cần phải có sự ghi nhận mà cụ thể là bằng pháp luật Các đặc quyền được pháp luật ghi nhận, điều chỉnh thì mới chính thức trở thành quyền của con người
Trang 10Quyền con người là những đặc quyền (quyền tự nhiên) của con người được pháp luật đảm bảo do cá nhân con người nắm giữ trong các quan hệ của mình với các cá nhân khác và với chính quyền
Như vậy, quyền con người là hệ thống các quyền của con người được
xã hội thừa nhận và bảo đảm bằng pháp luật Chính vì vậy, quyền con người mang hai đặc tính cơ bản là tính nhân đạo và tính pháp luật "Quyền con người tuy mang đặc tính tự nhiên nhưng có nội dung xã hội, bị chế ước bởi từng hoàn cảnh lịch sử, từng chế độ xã hội, từng Nhà nước" [32,57] và được "mở rộng và cụ thể hoá cùng với sự phát triển của xã hội loài người" [49,21]
Thực tiễn cuộc sống chỉ ra rằng, quyền con người là quyền của cá nhân con người, nhưng quyền đó chỉ có thể có được trong quan hệ gắn bó với các con người khác trong tập thể, cộng đồng Hay nói cách khác quyền con người trở nên vô nghĩa khi con người tách khỏi tập thể, cộng đồng và
ở trong tập thể, cộng đồng nên quyền của cá nhân con người không thể tách rời nghĩa vụ của họ đối với xã hội, Nhà nước Vì rằng:"Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội" [19,11]
Quyền con người là giá trị xã hội cao quí nhất Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã khẳng định: "Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân"
[48,276] Nhân dân là những con người cụ thể có những quyền thiêng
liêng, không ai có thể xâm phạm được
1.1.2 Vai trò của pháp luật trong việc đảm bảo quyền con người
Quyền con người và pháp luật là hai yếu tố không thể tách rời mà có tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng Mặc dù quyền con người
có tính "bẩm sinh" nhưng nó không thể chính thức tồn tại nếu không có pháp luật Trước hết, vai trò quan trọng của pháp luật đối với quyền con
người là nó ghi nhận (xác lập), củng cố, hoàn thiện quyền con người
Pháp luật ghi nhận các quyền của con người được xã hội thừa nhận Thông qua pháp luật, quyền con người được lên tiếng bảo vệ Để bảo đảm quyền con người, pháp luật đưa ra những điều cấm và những hành vi bắt buộc phải làm nhằm ngăn ngừa và chống lại các hành vi vi phạm quyền con người Quyền con người được pháp luật xác lập là thiêng liêng, không
Trang 11thể xâm hại một cách tuỳ tiện và được bảo vệ bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế của xã hội, Nhà nước Quyền con người được pháp luật xác lập mang tính tối cao, ổn định không dễ dàng thay đổi Điều
50 Hiến pháp 1992 khẳng định: quyền con người được quy định trong Hiến pháp và luật - là những văn bản có giá trị pháp lý cao nhất, nó buộc mọi người phải tôn trọng, phục tùng
Theo tiến trình phát triển của lịch sử loài người, trên phương diện pháp luật, quyền con người ngày càng được củng cố, hoàn thiện Từ chỗ các ý tưởng về quyền được sống như một con người nhằm thoát khỏi
"công cụ biết nói", tư tưởng về quyền con người dần phát triển lên thành những học thuyết, thành các bộ luật riêng lẻ và trở thành tiếng nói chung của cả cộng đồng quốc tế, không phân biệt màu da, địa vị, thành phần Nhờ có pháp luật mà quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại, được loài người cùng nhau tôn trọng, bảo vệ "Chỉ thông qua pháp luật quyền con người mới trở thành ý chí và mục tiêu hành động chung của toàn xã hội, có tính bắt buộc chung đối với toàn xã hội" [49,47]
1.2 Đặc trưng quyền con người của bị can, bị cáo trong tư pháp hình
sự
Quyền con người không những được pháp luật ghi nhận mà còn được pháp luật bảo vệ Do đó, bất cứ một hành vi vi phạm quyền con người nào cũng phải được xử lý theo pháp luật Song, tất nhiên quyền con người còn
có quan hệ chặt chẽ với chủ quyền quốc gia, lợi ích của Nhà nước, của các
tổ chức, trật tự xã hội là những khách thể được pháp luật nói chung và luật hình sự nói riêng bảo vệ Cho nên, những khách thể trên bị xâm hại do bất cứ ai thì người đó phải bị xử lý theo quy định của pháp luật Quyền con người của bị cáo chỉ có thể được coi là bảo đảm khi xét trong một tổng thể các mối quan hệ khác liên quan đến tội phạm do họ thực hiện Như vậy, việc xử lý đối với họ buộc phải tuân thủ những trình tự, thủ tục được quy định chặt chẽ trong pháp luật, vì dẫu sao, quyền con người của họ vẫn phải được tôn trọng
Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam 2003 ở ngay chương I, Điều 11 với tên gọi “Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo” quy định: “Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ
Trang 12người khác bào chữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của
họ theo quy định của Bộ luật này” Bộ luật tố tụng hình sự có định nghĩa
“bị can là người đã bị khởi tố về hình sự” (theo khoản 1, Điều 49) và “bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử” (khoản 1, Điều 50)
CHƯƠNG 2
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN
CON NGƯỜI TRONG TƯ PHÁP HÌNH SỰ
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Để bảo đảm quyền con người của bị can, bị cáo, pháp luật đưa ra một loạt các quy định buộc các bên tiến hành và tham gia tố tụng phải tuân thủ Pháp luật bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự là tổng thể các qui phạm pháp luật qui định về tội phạm, hình phạt và xét xử hình sự cùng các quy định khác nhằm bảo đảm cho các quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo và các bên có liên quan không bị xâm hại trái pháp luật
Như vậy, việc bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự phải được thể hiện trên tất cả các phương diện vừa nêu Nó không dừng lại ở việc qui định tội phạm, hình phạt mà còn qui định việc xét xử các vụ án hình sự
Có nghĩa là nó phải được bảo đảm ở trong cả lĩnh vực lập pháp và áp dụng pháp luật, ở cả trong luật nội dung và luật hình thức Ở đó, quyền, nghĩa vụ của các bên tiến hành và tham gia tố tụng được khẳng định, sự thật của vụ án
và trách nhiệm hình sự phải được xác định một cách khách quan, chính xác nhất Ở đó, quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại phải được khôi phục lại, người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do họ gây ra
2.1 Quy định của Hiến Pháp về bảo đảm quyền con người đối với người phạm tội
Ngày 24/9/1982, Việt Nam gia nhập hai Công ước quốc tế về quyền con người, đó là: Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị và, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá Đây là một quyết tâm lớn của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta Gia nhập hai công ước quốc tế
Trang 13này, “Nhà nước Việt Nam thừa nhận các giá trị cao quý của các quyền và
các quy phạm pháp luật của hai Công ước vào hệ thống pháp luật của
mình Sau Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 ra đời và khẳng định: “Ở nước
Cộng hoà XHCN Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh
tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và pháp luật” (Điều 50) Đây là lần đầu
tiên trong lịch sử nền lập hiến Việt Nam, cụm từ “quyền con người” được chính thức ghi nhận trong Hiến pháp Từ quy định này của đạo luật gốc, nhiều bộ luật, luật lần lượt ra đời điều chỉnh các quan hệ xã hội quan trọng
và ngày càng củng cố, mở rộng quyền con người, quyền công dân Đây là một bước phát triển tất yếu, bởi vì quyền con người, quyền công dân sẽ không tồn tại trong thực tế nếu nó không được điều chỉnh bởi pháp luật Hơn thế, Hiến pháp Việt Nam nhấn mạnh rằng, quyền con người, quyền công dân được các văn bản có giá trị pháp lý cao nhất ghi nhận cũng có nghĩa là các quyền đó được bảo đảm bởi sức mạnh tối cao của pháp luật với các thiết chế của nó
Một nội dung vô cùng quan trọng trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân nhưng chưa được ghi nhận trong các bản Hiến pháp trước đây, thì nay, Hiến pháp 1992, quy định:
“ Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật
Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh” (Điều72)
2.2 Bảo đảm quyền con người đối với người phạm tội thông qua các quy định về tội phạm và hình phạt
2.2.1 Quy định trách nhiệm hình sự
Với phương châm " biết để không thực hiện" và "phòng tội hơn trị tội", cho nên pháp luật hình sự, một mặt liệt kê cụ thể, rõ ràng những hành
1 Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Trung tâm nghiên cứu quyền con người Các văn kiện quốc tế về quyền
con người Nxb Chính trị quốc gia H, 1998, tr 7
Trang 14vi nguy hiểm cho xã hội bị cấm, mặt khác đưa ra các quy định buộc mọi người phải tuyệt đối tuân thủ Theo nghĩa đó, Điều 2 Bộ luật hình sự quy định" chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự" Đây là cơ sở thống nhất, duy nhất của trách nhiệm hình sự Nó khẳng định "chủ thể của một hành vi tội phạm chỉ
có thể là một thể nhân cụ thể - tức là một cá nhân chứ không phải là một tập thể hay một kiểu cộng đồng nào" [67,4] Nếu ai đó (bị cáo) đã phải chịu trách nhiệm hình sự thì ít nhiều, quyền con người, quyền công dân của họ cũng phải bị hạn chế Cho nên, ở đây pháp luật quy định là: trách nhiệm hình sự chỉ được đưa ra áp dụng đối với người phạm tội, tức là khi
mà người đó thực hiện hành vi vi phạm điều mà pháp luật hình sự cấm, hay nói cách khác một người chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự bởi những hậu quả do hành vi của chính người đó gây ra Ngoài việc vi phạm điều cấm của pháp luật hình sự - phạm tội ra, thì bất luận trong trường hợp nào, trách nhiệm hình sự cũng không thể được đưa ra áp dụng Không những thế, chỉ có những dấu hiệu của hành vi được mô tả trong luật mới là cơ sở cho việc giải quyết trách nhiệm hình sự Trách nhiệm hình sự thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân, là sự phản ứng của Nhà nước đối với hành vi cụ thể nguy hiểm cho xã hội được luật hình sự quy định, tức là đối với tội phạm Hành vi có thể được coi là tội phạm nếu có các yếu tố của một cấu thành tội phạm và được luật hình sự quy định
2.2.2 Quy định phân loại tội phạm
Việc đặt ra các quy phạm pháp luật hình sự không phải là để trừng phạt mà các quy phạm này "có khả năng tác động lên ý thức và ý chí của
cá nhân, một mặt chúng kích thích các hoạt động hợp pháp, khuyến khích các hành vi tích cực pháp luật; mặt khác lại có tác động kìm chế, đe doạ các động cơ dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật của cá nhân" [21,204]
Do vậy, việc quy định tất cả mọi tội phạm trong một Bộ luật hình sự là quan trọng, nhưng quan trọng hơn đối với việc quy định tội phạm là xác định rõ ràng giới hạn giữa hành vi bị coi là tội phạm với các hành vi vi phạm pháp luật khác Bởi vì, nếu không xác định cụ thể giới hạn đó thì có hành vi tuy chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự lại bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc ngược lại, có trường hợp phạm tội lại coi là vi