1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần tư vấn kiến trúc và nội thất việt nam

40 136 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 118,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trongnền kinh tế thị trường và nhất là trong xu thế hội nhập về kinh tế ngày càng sâu rộnghiện nay, hầu hết các rào cản kinh tế dần được dẹp bỏ, sự cạnh tranh diễn ra ngày cànggay gắt, k

Trang 1

TÓM LƯỢC

Cạnh tranh là động lực thúc đẩy sự phát triển của mọi thành phần kinh tế Trongnền kinh tế thị trường và nhất là trong xu thế hội nhập về kinh tế ngày càng sâu rộnghiện nay, hầu hết các rào cản kinh tế dần được dẹp bỏ, sự cạnh tranh diễn ra ngày cànggay gắt, khắc nghiệt khiến cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trởthành một vấn đề vồ cùng quan trọng và cấp bách Doanh nghiệp muốn tồn tại, đứngvững và phát triển thì không còn cách nào khác ngoài việc doanh nghiệp phải luôn vậnđộng, nâng cao năng lực cạnh Chính vì vậy, việc nâng cao năng lực cạnh tranh là vấn

đề mà mọi doanh nghiệp đều quan tâm và chú trọng Trong thời gian thực tập tại Công

ty cổ phần Tư vấn Kiến trúc và Nội thất Việt Nam, được sự giúp đỡ tận tình của banlãnh đạo cùng toàn thể nhân viên, em đã có cơ hội quan sát và tìm hiểu tình hình cụ thểtại đây, cùng với những kiến thức đã tích lũy trong quá trình học tập, em quyết định

thực hiện khóa luận với đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần

Tư vấn Kiến Trúc và Nội Thất Việt Nam” Nội dung của đề tài tập trung nghiên cứu

và giải quyết một số những vấn đề sau:

Hệ thống và làm rõ khái niệm và một số lý thuyết về nâng cao năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp Bằng những phương pháp như thu thập và xử lý số liệu,phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, đối chiếu, … chỉ ra những chỉ tiêu đánhgiá và các nhân tố ảnh hưởng đến đối với doanh nghiệp Đồng thời, dựa vào kết quảkinh doanh để đánh giá năng lực cạnh tranh, Trên cơ sở đó, khóa luận sẽ trình bàynhững thành công cũng như hạn chế tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế đó Từđây, đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao năng lực canh tranh của Công ty cổphần Tư vấn Kiến trúc và Nội thất Việt Nam

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

AFA Design Ccông ty cổ phần Tư vấn Kiến trúc và Nội thất Việt Nam CBCNV Cán bộ công nhân viên

CDC Công ty cổ phần Tư vấn đầu tư và Thiết kế xây dựng Việt Nam DAC Công ty Tư vấn & Thiết kế Kiến trúc Việt Nam

SXKD Sản xuất kinh doanh

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài khóa luận

Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh đóng vai trò vô cùng quan trọng và đượccoi là động lực của sự phát triển của mỗi doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh tế nóichung Cạnh tranh là động lực thúc đẩy sự phát triển của mọi thành phần kinh tế, gópphần xóa bỏ những độc quyền, bất hợp lý, bất bình đẳng trong kinh doanh Kết quảcủa quá trình cạnh tranh sẽ quyết định doanh nghiệp nào tiếp tục tồn tại và phát triểncòn doanh nghiệp nào sẽ bị phá sản và giải thể

Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng hiện nay, khi hầuhết các rào cản kinh tế dần được dẹp bỏ, các doanh nghiệp trong nước không còn đơnthuần cạnh tranh với các doanh nghiệp nội địa như trước đây mà thay vào đó là việccạnh tranh với cả trong và ngoài nước Doanh nghiệp sẽ tự loại mình ra khỏi cuộc chơinếu không ý thức đươc vấn đề nâng cao năng lưc cạnh tranh cuả bản thân và tìm rabiện pháp giải quyết

Nhận thấy việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đã trở thành mộtvấn đề quan trọng mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải quan tâm Công ty cổ phần

Tư vấn Kiến trúc và Nội thất Việt Nam là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực

là tạo ra các không gian “Xanh”, thiết kế văn phòng, … khá thành công trên thị trườngnhất là trên địa bàn Hà Nội Doanh thu và số lượng nhân viên của Công ty khôngngừng tăng lên Tuy nhiên, trên thị trường đang ngày càng xuất hiện những doanhnghiệp cùng cạnh tranh Để có thể tồn tại và phát triển lâu dài thì công ty cần phảikhẳng định được vị thế của mình trên thị trường Với tầm quan trọng và tính cấp thiếtcủa đề tài này, qua thời gian thực tập và nghiên cứu tại Công ty em quyết định chọn đề

tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Tư vấn Kiến trúc và Nội thất Việt Nam” là đề tài nghiên cứu với mục tiêu: Phân tích thực trạng năng lực cạnh

tranh của công ty từ đó đưa ra những điểm mạnh, điểm yếu Phân tích môi trường kinhdoanh, các chính sách kinh tế của Nhà nước … để tìm ra những cơ hội và thách thứcđối với công ty Đề ra các phương hướng và giải pháp nâng cao nâng cao năng lựccạnh tranh giúp công ty ngày cành phát triển hơn

2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan

Như chúng ta đã biết thì cạnh tranh là một yếu tố quan trọng đối với sự phát triểncủa nền kinh tế và doanh nghiệp Chính vì vậy, trên thực tế đã có rất nhiều đề tàinghiên cứu về vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Với mỗi đềtài đều có cách đặt vấn đề và giải quyết khác nhau Dưới đây tôi xin được khái quátmột số đề tài liên quan:

Trang 6

- Nguyễn Thị Hằng (2017), Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty TNHH Hoàng Vũ trên thị trường Miền Bắc, Khóa luận tốt nghiệp trường Đại học Thương Mại.

Luận văn sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp so sánh tổng hợp để phântích và đánh giá về tình hình cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của công ty TNHHHoàng Vũ trên thị trường Miền Bắc Khóa luận đã đưa ra được những giải pháp nângcao năng lực cạnh tranh của công ty với các doanh nghiệp khác

- Mai Văn Nghiêm (2013), Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Cổ phần đầu tư và xây dựng Tam Sơn, Khóa luận tốt nghiệp trường Đại học Thương Mại.

Luận văn sử dụng phương pháp so sánh, phân tích tỷ lệ và đồ thị để đưa ra đánhgiá và kết luận về hoạt động của công ty Nhận thức một số lý luận làm rõ tầm quantrọng của năng lực cạnh tranh, đưa ra được các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranhcũng như chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến công ty Từ đó khóa luận đánh giá đượcthành công, hạn chế để đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao năng lựccạnh tranh của công ty

- Nguyễn Tuấn Minh (2011), Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Cổ phần Xây dựng công trình giao thông Bến Tre, Khóa luận tốt nghiệp trường Đại học

Kinh tế TP Hồ Chí Minh

Phương pháp được sử dụng trong bài khóa luận là phương pháp tổng hợp và sosánh nhằm thấy được thực trạng cạnh tranh của công ty Không những vậy luận văncòn chỉ ra những chỉ tiêu đánh giá và nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh củacông ty Từ đó đề ra những giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh Giúp công ty tăngkhả năng cạnh tranh và mở rộng thị trường

3. Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu

Trong nền kinh tế thị trường ngày nay, năng lực cạnh tranh không chỉ là thước đophản ảnh trình độ tổ chức, quản lý của những cán bộ đứng đầu doanh nghiệp mà nănglực cạnh tranh còn quyết định đến sự tồn tại, phát triển cũng như vị thế của doanhnghiệp Để nâng cao năng lực cạnh tranh cũng như vị thế của mình mỗi doanh nghiệpcần phải đưa ra được những bước đi thích hợp, phải có tầm nhìn chiến lược từ việc tổchức, quản lý đến việc tiếp cận thị trường

Đề tài tập chung giải quyết vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổphân Tư vấn Kiến trúc và Nội thất Việt Nam

Để có thể làm rõ bức tranh tổng thể nhất về nâng cao năng lực cạnh tranh cũngnhư tầm quan trọng của nó đối với mỗi doanh nghiệp và đưa ra những giải pháp để

giúp doanh nghiệp phát triển hơn Vì vậy em đã chọn đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần Tư vấn Kiến trúc và Nội thất Việt Nam” để tập chung trả

lời những câu hỏi sau:

Trang 7

- Cạnh tranh là gì? Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là gì?

- Làm thế nào để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp?

- Giải pháp nào được đưa ra để giúp doanh nghiệp có thể cạnh tranh tốt hơn trênthị trường?

4 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Năng lực cạnh tranh, chính sách nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổphần Tư vấn Kiến trúc và Nội thất Việt Nam

4.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Mục tiêu chung: Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh củacông ty

- Mục tiêu cụ thể:

+ Làm rõ một số vấn đề lý luận như: cạnh tranh là gì? Năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp là gì? Các chỉ tiêu, nguyên tắc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp, …

+ Phân tích thực trạng khả năng cạnh tranh của công ty so với những công tykhác trên cùng lĩnh vực

+ Đề xuất các định hướng và giải pháp cơ bản để nâng cao năng lực cạnh tranhcho công ty

4.3 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu về năng lực cạnh tranh doanh nghiệp Tậptrung đi sâu vào các nhân tố ảnh hưởng, các nguyên tắc, chỉ tiêu đánh giá và các chínhsách nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp

- Phạm vi về thời gian: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Tưvấn Kiến trúc và Nội thất Việt Nam trong giai đoạn 2015-2017 để từ đó tìm ra các hạnchế còn tồn tại và đưa ra giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty trong thờigian tới

- Phạm vi về không gian: Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công cổ phần Tưvấn Kiến trúc và Nội thất Việt Nam trên thị trường Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Bài làm được sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, song tập chungchủ yếu bằng những phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp thống kê số liệu:

Sau khi xác định vấn đề và mục tiêu nghiên cứu, cần thu thập số liệu để phục vụquá trình phân tích, đánh giá Dữ liệu được thu thập từ 2 nguồn chính là nguồn dữ liệu

sơ cấp và nguồn dữ liệu thứ cấp Với đề tài nâng cao năng lực cạnh tranh thì dữ liệu là

Trang 8

về doanh thu, chi phí, giá cả, số lượng hàng hóa,… từ năm 2015 đến 2017 của công tyqua các bảng cân đối kế toán, báo cáo tài chính thường niên.

- Phương pháp phân tích số liệu:

Phân tích các kết quả trong báo cáo tài chính, báo cáo kế hoạch kinh doanh,website của Chính phủ và các bộ ngành, các tổ chức quốc tế có liên quan, …

- Phương pháp so sánh:

So sánh giữa các kỳ, kỳ sau với kỳ trước để thấy được xu hướng cạnh tranh củacông ty đang ở mức độ nào để có thể đưa ra những biện pháp xử lý kịp thời So sánhkết quả kinh doanh với những doanh nghiệp khác cùng quy mô để thấy được mìnhđang ở vị trí nào, năng lực cạnh tranh của mình đến đâu để tiếp tục phấn đấu

6 Kết cấu khóa luận tốt nghiệp

Ngoài tóm lược, danh mục bảng biểu, danh mục sơ đồ, hình vẽ, danh mục từ viếttắt và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận được trình bày làm ba chương như sau:Chương 1: Một số lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng cạnh tranh của Công ty cổ phần Tư vấn Kiến trúc và Nộithất Việt Nam

Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Tư vấnKiến trúc và Nội thất Việt Nam

Trang 9

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH

CỦA DOANH NGHIỆP

1.1 Khái niệm

1.1.1 Cạnh tranh

Cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hànghoá nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùnghàng hoá để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình

Cạnh tranh có thể xảy ra giữa người sản xuất với người tiêu dựng (người sản xuấtmuốn bán đắt còn người tiêu dùng muốn mua rẻ), giữa người tiêu dùng với nhau, đểmua được hàng rẻ hơn, tốt hơn Giữa những người sản xuất để có những điều kiện tốthơn trong sản xuất và tiêu thụ Có nhiều biện pháp cạnh tranh: cạnh tranh giá cả, hoặcphi giá cả (quảng cáo)

Nói tóm lại, cạnh tranh là sự ganh đua giữa các ngành kinh tế, giữa các quốc giatrong việc giành giật các lợi thế để thực hiện các mục tiêu khác nhau trong từng giaiđoạn cạnh tranh nhất định Cạnh tranh là quy luật của nền kinh tế thị trường, là độnglực thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hóa phát triển Vì vậy, các doanh nghiệp cầnphải nhận thức đúng đắn về cạnh tranh để từ đó luôn phát huy nội lực, tận dụng ngoạilực, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng Mặt khác tránh cạnh tranh bất hợp pháplàm tổn hại lợi ích của cộng đồng cũng như làm suy yếu chính mình

1.1.2 Năng lực cạnh tranh

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanhnghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của kháchhàng để thu lợi ngày càng cao hơn

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp Đây

là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí vềcông nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp… một cách riêng biệt

mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnhvực, cùng một thị trường Sẽ là vô nghĩa nếu những điểm mạnh và điểm yếu bên trongdoanh nghiệp được đánh giá không thông qua việc so sánh một cách tương ứng với cácđối tác cạnh tranh Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đòihỏi doanh nghiệp phải tạo lập được lợi thế so sánh với đối tác của mình Nhờ lợi thếnày, doanh nghiệp có thể thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũngnhư lôi kéo được khách hàng của đối tác cạnh tranh

Thường thì doanh nghiệp có lợi thế về mặt này và có hạn chế về mặt khác, khôngmột doanh nghiệp nào có khả năng thỏa mãn đầy đủ tất cả những yêu cầu của khách

Trang 10

hàng Doanh nghiệp phải nhận biết được điều này và cố gắng phát huy tốt những điểmmạnh mà mình đang có để đáp ứng tốt nhất những đòi hỏi của khách hàng Nhữngđiểm mạnh và điểm yếu bên trong một doanh nghiệp được biểu hiện thông qua cáclĩnh vực hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp như marketing, tài chính, sản xuất, nhân

sự, công nghệ, quản trị, hệ thống thông tin… Tuy nhiên, để đánh giá năng lực cạnhtranh của một doanh nghiệp, cần phải xác định được các yếu tố phản ánh năng lựccạnh tranh từ những lĩnh vực hoạt động khác nhau và cần thực hiện việc đánh giá bằng

cả định tính và định lượng Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh ở nhữngngành, lĩnh vực khác nhau có các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh khác nhau Mặc

dù vậy, vẫn có thể tổng hợp được các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh của mộtdoanh nghiệp bao gồm: giá cả sản phẩm và dịch vụ; chất lượng sản phẩm và bao gói;kênh phân phối sản phẩm và dịch vụ bán hàng; thông tin và xúc tiến thương mại; nănglực nghiên cứu và phát triển; thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp; trình độ laođộng; thị phần sản phẩm doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng thị phần; vị thế tài chính;năng lực tổ chức và quản trị doanh nghiệp

Nâng cao năng lực cạnh tranh là vấn đề sống còn của mỗi doanh nghiệp trongquá trình tồn tại và phát triển của mình Đặc biệt trong thời kỳ Việt nam đã gia nhậpWTO , để nâng cao năng lưc cạnh tranh thì các doanh nghiệp phải hiểu rõ các yêu cầucủa WTO đối với ngành SXKD của đơn vị , để từ đó thông qua phương pháp so sánhtrực tiếp các yếu tố để đánh giá được hiện trạng của doanh nghiệp đồng thời đề ra cácgiải pháp phù hợp để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

1.2 Lý thuyết về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

1.2.1 Bản chất nâng cao năng lực cạnh tranh

Xét dưới góc độ ngành kinh tế - kỹ thuật, từ trước đến nay, cạnh tranh được chiathành 2 loại là cạnh tranh giữa các ngành và cạnh tranh nội bộ ngành

Cạnh tranh giữa các ngành là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong mọilĩnh vực khác nhau nhằm thu được lợi nhuận lớn và có tỳ suất lợi nhuận cao hơn sovới số vốn đã bỏ ra, cùng với đó là việc đầu tư vốn vào ngành có lợi nhất cho sự pháttriển Sự cạnh tranh giữa các ngành dẫn đến việc các doanh nghiệp luôn tìm kiếmnhững ngành đầu tư có lợi nhất nên đã chuyển vốn đầu tư sang ngành có lợi nhuận caohơn Điều này, vô hình chung đã hình thành nên sự phân phối vốn hợp lý giữa cácngành khác nhau và giúp cho các doanh nghiệp ở các ngành khác nhau có số vốn bằngnhau thì thu được lợi nhuận ngang nhau

Cạnh tranh trong nội bộ ngành là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sản xuất vàtiêu thụ một loại sản phẩm hàng hóa-dịch vụ nào đó Cạnh tranh trong nội bộ ngànhdẫn đến sự hình thành nên giá cả thị trường trên cơ sở giá trị xã hội của loại hàng hóa

Trang 11

dịch vụ đó Những doanh nghiệp có lợi thế trong cạnh tranh sẽ mở rộng quy mô hoạtđộng của mình trên thị trường, ngược lại những doanh nghiệp kém lợi thế trong cạnhtranh sẽ phải thu hẹp phạm vi kinh doanh, thậm chí còn có thể bị giải thể, phá sản.

1.2.2 Vai trò của nâng cao năng lực cạnh tranh với sự phát triển của doanh nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh tồn tại như một quy luật kinh tế kháchquan và do vậy việc nâng cao năng lực cạnh tranh để cạnh tranh trên thị trường luônđược đặt ra đối với các doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu rộngnhư hiện nay

Cạnh tranh ngày càng gay gắt khi trên thị trường ngày càng xuất hiện nhiều đốithủ cạnh tranh nước ngoài với tiềm lực mạnh về tài chính, công nghệ, quản lý và cósức mạnh thị trường Nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp là một đòi hỏicấp bách để doanh nghiệp đủ sức cạnh tranh một cách lành mạnh và hợp pháp trênthương trường

Không những thế, với xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới hiện ngay, việcnâng cao năng lực cạnh tranh ở các doanh nghiệp có ý nghĩa hết sức quan trọng vàquyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp Khi cạnh tranh thắng lợi, doanh nghiệp

sẽ đứng vững và phát triển không ngừng, đó là tiền đề tác động ngược trở lại chodoanh nghiệp nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh của mình Những thành tựu của

sự phát triển sẽ tạo đà giúp cho doanh nghiệp có thêm nhiều cơ hội kinh doanh mới.Khi doanh nghiệp có đủ khả năng nguồn lực về vốn và con người, doanh nghiệp sẽ dễdàng tiếp cận với công nghệ mới, phương thức quản lý tiên tiến, hiện đại Từ đâynhững sản phẩm mới có chất lượng cao được ra đời góp phần nâng cao năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp

Bởi lẽ suy cho cùng, mục đích cuối cùng trong hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp là mang lại càng nhiều lợi nhuận, khi đó việc nâng cao năng lực cạnh tranh tạidoanh nghiệp được xem như là một chiến lược không thể thiếu trong định hướng pháttriển và nó góp phần vào việc hoàn thành mục tiêu của doanh nghiệp

Nâng cao năng lực cạnh tranh không chỉ nhằm mục đích là đem lại lợi ích chodoanh nghiệp, mà còn góp phần vào sự tăng trưởng của ngành và cả quốc gia

Tóm lại, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, vấn đề có tính chấtquyết định là mỗi doanh nghiệp phải nhận thức được và luôn cố gắng nâng cao nănglực của mình, sẵn sàng nắm lấy cơ hội để vươn lên, chuẩn bị đủ mọi điều kiện để đủkhả năng đối mặt với những thách thức trong quá trình hội nhập giúp doanh nghiệp cóthể tồn tại và phát triển bền vững

Trang 12

1.2.3 Nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Doanh nghiệp là một tế bào kinh tế - xã hội và chịu sự tác động của hàng loạt cácyếu tố của môi trường hoạt động Doanh nghiệp cần thấy rõ được sự ảnh hưởng củacác yếu tố này để có biện pháp nhằm phát huy điểm mạnh và giảm thiểu những tiêucực nhằm tạo dựng năng lực cạnh tranh của mình ngày càng cao hơn Do đó có thểchia thành hai nhóm nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là:a) Nhóm nhân tố bên ngoài doanh nghiệp

- Người cung ứng các yếu tố đầu vào:

Nói đến đầu vào là nói đến việc cung cấp các yếu tố cần thiết để doanh nghiệptiến hành sản xuất kinh doanh như: nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, vốn, nhânlực Trong thời đại của sự phân công lao động, của chuyên môn hoá thì mọi doanhnghiệp không nên tiến hành sản xuất theo kiểu "tự cung, tự cấp" tức là tự lo cho mình

từ khâu đầu vào đến khâu đầu ra Điều này sẽ giảm hiệu quả sản xuất vì không tậndụng và phát huy được lợi thế so sánh giữa các ngành, các quốc gia Các doanh nghiệpnên tìm đến những nhà cung ứng đầu vào bên ngoài có uy tín vì đây là điều kiện cầnthiết để đảm bảo cho tiến trình sản xuất kinh doanh được thuận lợi, đảm bảo cho đầu

ra của các quá trình đó có năng suất và chất lượng cao Nếu nhà cung cấp không giaohàng đúng hẹn, đúng chủng loại và đảm bảo chất lượng thì doanh nghiệp cũng sẽ saihẹn với khách hàng của mình và ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

- Khách hàng:

Suy cho cùng tất cả các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đều nhằm thoảmãn nhu cầu của khách hàng Nếu doanh nghiệp nào càng đáp ứng tốt nhu cầu củakhách hàng so với các đối thủ cạnh tranh thì họ càng nhận được sự ủng hộ và sự trungthành từ phía khách hàng Trong điều kiện có sự cạnh gay gắt thì vai trò của kháchhàng càng trở nên quan trọng và ưu tiên hơn Tuy nhiên thực tế là người mua luônmuốn trả giá thấp vì vậy sẽ thực hiện việc ép giá, gây áp lực đòi chất lượng cao hơnhoặc đòi được phục vụ nhiều hơn đối với doanh nghiệp khi có điều kiện do vậy, sẽ làmgiảm lợi nhuận của doanh nghiệp và doanh nghiệp không thể thoả mãn được tất cả cácnhu cầu của các loại khách hàng Cho nên các doanh nghiệp cần phải phân loại kháchhàng thành các nhóm khác nhau, trên cơ sở đó tiến hành phân tích và đưa ra các chínhsách thích hợp để thu hút ngày càng nhiều khách hàng về phía mình

- Đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành:

Các đối thủ cạnh tranh trong ngành quyết định tính chất và mức độ tranh đuagiành giật lợi thế trong ngành, mà mục đích cuối cùng là giữ vững và phát triển thịphần hiện có, đảm bảo thu được lợi nhuận cao nhất Cạnh tranh trở lên khốc liệt khingành ở giai đoạn bão hoà hoặc suy thoái hoặc có đông đối thủ cạnh tranh cùng năng

Trang 13

lực Đây là đối tượng ảnh hưởng rất lớn đến doanh nghiệp, là động lực kích thích mỗidoanh nghiệp không ngừng phải nâng cao năng lực của mình Vì chỉ cần doanh nghiệp

có những bước đi sai lầm thì chính họ sẽ là mối đe doạ lớn của công ty trong việctranh giành thị trường Do vậy doanh nghiệp cần phải tìm hiểu mọi thông tin về đốithủ như: mục đích tương lai, các nhận định, các tiềm năng, chiến lược hiện tại, nhữngđiểm mạnh, điểm yếu, khả năng thích nghi với môi trường của đối thủ cạnh tranh.Trên cơ sở đó hoàn thiện những mặt còn yếu kém, phát huy những thế mạnh của doanhnghiệp từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh hơn đối thủ

- Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn:

Khi một ngành có sự gia tăng thêm đối thủ cạnh tranh mới thì hệ quả là tỷ suấtlợi nhuận giảm và tăng thêm mức độ cạnh tranh Các đối thủ cạnh tranh mới tham giavào thị trường sau nên họ có lợi thế trong ứng dụng những thanh tựu mới của khoahọc, công nghệ Không phải lúc nào cũng gặp phải đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn, nhưngkhi đối thủ mới xuất hiện thì vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ thay đổi Vì vậydoanh nghiệp cần phải tạo cho mình một hàng rào ngăn cản sự xâm nhập của các đốithủ mới Những hàng rào này là lợi thế sản xuất theo quy mô, đa dạng hoá sản phẩm,

sự đòi hỏi có nguồn tài chính lớn, chi phí chuyển đổi mặt hàng cao, khả năng hạn chếxâm nhập các kênh tiêu thụ

- Các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước:

+ Môi trường chính trị: Đây là yếu tố có tác động lớn tới mọi doanh nghiệp Nếuquốc gia nào có môi trường chính trị ổn định, ít biến động, một thể chế minh bạch rõràng thì thu hút được rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài và tạo điều kiện thuận lợi chocác doanh nghiệp yên tâm kinh doanh vì tài sản của họ được đảm bảo, rủi ro cũng íthơn Đối với các doanh nghiệp nước ngoài thì họ có thể xác định đầu tư làm ăn lâu dàitại quốc gia đó, còn với doanh nghiệp trong nước thì có điều kiện phát huy năng lựccạnh tranh của mình

+ Môi trường pháp lý: Yếu tố này được mọi doanh nghiệp quan tâm vì nó ảnhhưởng trực tiếp đến lợi ích cũng như nghĩa vụ của doanh nghiệp Trước khi bắt tay vàokinh doanh một lĩnh vực gì đó thì doanh nghiệp cũng phải xem xét tới hệ thống vănbản pháp lý của quốc gia có cho phép kinh doanh mặt hàng đó hay không? Các thủ tụccần thiết là gì? Những quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp ra sao? Do vậy, nếu mộtquốc gia có hệ thống luật pháp cồng kềnh, phức tạp, chồng chéo, thủ tục hành chínhrườm rà, nhiều tiêu cực, quá nhiều cửa, và đặc biệt hay thay đổi chính sách hoặc chínhsách đưa ra còn chưa phù hợp với thực tế thì đây quả thực là rào cản vô cùng lớn chodoanh nghiệp, làm hạn chế khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường

Trang 14

+ Môi trường kinh tế: Bao gồm các chính sách phát triển kinh tế, chính sáchthương mại, chính sách cạnh tranh, chính sách đầu tư Các chính sách và biện phápkinh tế nhằm khuyến khích hay hạn chế, ưu tiên hay kìm hãm sự phát triển của từngngành cụ thể, do đó ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của từng doanh nghiệp trongcác ngành đó Do đó, các chính sách kinh tế, các quy định và thủ tục hành chính phảiđơn giản, minh bạch, không phân biệt đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp sẽ có tácđộng mạnh tới kết quả, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.

+ Môi trường khí hậu tự nhiên: Cũng tuỳ vào từng doanh nghiệp khác nhau mà

sự ảnh hưởng của yếu tố này cũng khác nhau Nếu quốc gia có vị trí địa lý thuận lợicho thông thương quốc tế thì là điều kiện tốt để doanh nghiệp kinh doanh xuất nhậpkhẩu nâng cao được năng lực của mình Ví dụ như đối với ngành xây dựng sản phẩm

là các công trình do vậy điều kiện khí hậu cũng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sảnphẩm và tiến độ thi công của doanh nghiệp

- Bối cảnh quốc tế và sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật: Ngày này thế giới đang chuyểnbiến mạnh mẽ, thời đại của hội nhập kinh tế quốc tế, của toàn cầu hoá, của công nghệ

tự động hoá Đó quả thực là vũ đài kinh tế lớn, là sân chơi chung cho mọi quốc gia, nó

sẽ là cơ hội cho doanh nghiệp nào biết tận dụng Đồng thời nó cũng tạo điều kiện tốtcho doanh nghiệp nâng cao được năng lực của mình bằng việc chuyển giao công nghệ,vốn, nhân lực có trình độ tay nghề vào trong sản xuất

b) Nhóm nhân tố bên trong doanh nghiệp

- Các chính sách chiến lược của công ty:

Chính sách và chiến lược của doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng, giúp hoạtđộng của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao Nó vạch ra phương hướng và mục tiêu hoạtđộng cho doanh nghiệp trong trung hạn và dài hạn, giúp doanh nghiệp hạn chế rủi ro,vượt qua khó khăn thử thách để đi đến thành công Chính sách và chiến lược bao gồmnhiều loại như: chính sách nhân sự, chính sách sản phẩm, chính sách thị trường Việc

đề ra được các chính sách và chiến lược đúng là điều cơ bản để mọi doanh nghiệpgiành được thành công trên thương trường Làm được điều này phụ thuộc rất nhiềuvào tài, đức và nghệ thuật quản lý của lãnh đạo doanh nghiệp

- Sự sẵn sàng của các nhân tố đầu vào:

Các nhân tố đầu vào bao gồm: nhân lực, nguyên vật liệu, phụ liệu, bán thànhphẩm, nhiên liệu, công nghệ, thông tin Các nhân tố này phải sẵn sàng, nghĩa là phải

dự trữ đủ số lượng, chủng loại và chất lượng, để kịp thời cung cấp cho các bộ phận sảnxuất kinh doanh khi cần, nếu không sẽ làm gián đoạn quá trình sản xuất, làm giảmnăng suất và chất lượng, hậu quả là làm giảm năng lực cạnh tranh Đặc biệt trong thời

Trang 15

đại ngày nay việc cung cấp thông tin về đối thủ và thị trường đúng và kịp thời cho các

bộ phận là cực kỳ quan trọng để doanh nghiệp có thể chiến thắng trong cạnh tranh

- Nhận thức chung của người lao động trong doanh nghiệp:

+ Thứ nhất, nhận thức của người lao động về cạnh tranh: Quy luật của cạnh tranh

là sẽ đào thải những cái yếu, cái không đủ năng lực Do vậy nếu người lao động trongcông ty chưa nhận thức được quy luật và không chịu rèn luyện, phấn đấu, học tập nângcao trình độ, chưa nhận thức được vai trò và địa vị của mình trong dây chuyền sảnxuất sẽ làm cho sản phẩm không đảm bảo chất lượng và như vậy sẽ gây tổn hại đếnnăng lực cạnh tranh, cũng như sự tồn tại của doanh nghiệp

+ Thứ hai, sự hiểu biết của người lao động về chính sách luật pháp của Nhànước Điều này rất quan trọng vì nếu kiến thức này của người lao động chưa đượctrang bị đầy đủ thì rất có thể gây ra những hành vi sai lầm xâm hại tới lợi ích của tậpthể, của quốc gia, làm giảm uy tín của doanh nghiệp như: tham gia biểu tình, đìnhcông mà pháp luật không cho phép

+ Thứ ba, quan điểm về lao động: Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa mọi người cầnnhận thức rõ rằng là mình làm cho ai? Để làm gì? chứ không chỉ đơn thuần là làm thuêkiếm sống Từ đó mới có ý thức lao động tốt, chủ động và sáng tạo nhằm xây dựng vàphát triển công ty Nếu quan điểm lao động không đúng sẽ dẫn tới kỷ luật lao độngchấp hành không tốt, người lao động làm với tinh thần nghĩa vụ, hoàn thành công việcvới chất lượng không cao, sản phẩm không có tính cạnh tranh và điều này sẽ ảnhhưởng lớn tới sức cạnh tranh của doanh nghiệp

- Về trình độ tổ chức, quản trị doanh nghiệp:

+ Thứ nhất là về cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp: Nếu một doanh nghiệp có cơcấu tổ chức hợp lý, phân công trách nhiệm và quyền hạn rõ ràng thì mọi hoạt động sẽtrôi chảy, có năng suất Ngược lại một cơ cấu chồng chéo, quyền lực không được phânchia thì hiệu quả hoạt động sẽ kém Trong đó thì cơ cấu Ban lãnh đạo có phẩm chất vàtài năng có vai trò quan trọng bậc nhất, ảnh hưởng tới sự thành công của doanhnghiệp Một nhà lãnh đạo giỏi không chỉ biết làm cho bộ máy công ty vận hành đúngquy luật và còn phải làm cho nó hoạt động một cách linh hoạt, uyển chuyển cho phùhợp với sự thay đổi của môi trường trong và ngoài doanh nghiệp

+ Thứ hai là công tác đào tạo: Quản trị doanh nghiệp trước hết là phải làm tốtcông tác giáo dục đào tạo trong công ty Lãnh đạo doanh nghiệp phải tiến hành thườngxuyên việc giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, văn hóa cho mọi thành viên Từ đógiúp họ nhận thức tốt về pháp luật, về đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước,khuyến khích mọi người tiết kiệm, chống lãng phí, tham nhũng, giảm thiểu những chiphí vô ích, ngoài ra còn tạo môi trường văn hoá lành mạnh trong công ty giúp mọi

Trang 16

người đoàn kết, gắn bó, tạo dựng được tập thể vững mạnh cùng phấn đấu cho mục tiêu

"Nâng cao năng lực cạnh tranh" của doanh nghiệp

+ Thứ ba là việc áp dụng các phương pháp quản trị mới: Nếu biết áp dụng cácphương pháp và biện pháp quản trị mới sẽ mang lại hiệu quả và năng suất cao, giảmđược nhiều chi phí, tạo điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh Nếu ta sử dụng một lốimòn trong quản trị sẽ dẫn đến sự trì trệ, bảo thủ, không phù hợp với những thay đổicủa cơ chế thị trường và đặc biệt sẽ bị đối thủ "bắt bài" tìm kẽ hở để chiếm mất thịphần của công ty bên trong doanh nghiệp

1.3 Nội dung và nguyên lý nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

1.3.1 Phương pháp đánh giá về nâng cao năng lực cạnh tranh

"Cùng ngành nghề chứ không cùng lợi nhuận”, cạnh tranh là sự tất yếu củathương trường Cạnh tranh là sự so sánh, đối chứng sức mạnh cơ bản giữa các doanhnghiệp Những đe doạ, thách thức hoặc cơ hội của doanh nghiệp, chủ yếu có được từquá trình đối kháng của sức mạnh này Cạnh tranh có thể xuất hiện trên nhiều phươngdiện: Thương hiệu - Chất lượng - Mẫu mã - Giá cả Chúng ta đã và đang tiến tới xâydựng một thương trường lành mạnh, một môi trường kinh doanh có văn hoá - sự pháttriển vững bền cho doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế đất nước nói chung

- Xem xét, đánh giá tình hình, chiến thắng bằng cách “thay đổi”: Đây là một nguyên tắcđược dùng phổ biến nhất trong đấu tranh quân sự và chính trị Nó cũng thích hợp trongcạnh tranh kinh tế thời hiện đại vì doanh nghiệp là một hệ thống lớn kiểu mở cửa, luônmuốn trao đổi thông tin và trao đổi năng lượng với môi trường toàn xã hội Bảo thủ làđiều tối kị trong cạnh tranh Việc xem xét đánh giá tình hình, biết trước, làm trước là

"pháp bảo" của thắng lợi Các doanh nghiệp cần phải biết nhìn xa trông rộng và cósáng kiến để đối phó với những thay đổi, những sự cố đột biến, tránh tình trạng khôngkịp đề phòng, không kịp trở tay

- Nắm bắt cơ hội, nhanh chóng dành thắng lợi: "Thời gian là vàng bạc" thực sự là kinhnghiệm cạnh tranh hiện đại, bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị của đồng tiền, tínhchiếm dụng và tốc độ quay vòng của đồng tiền và khả năng nắm bắt cơ hội Với mộtdoanh nghiệp mà nói, cơ hội thường là điểm chuyển hướng của thăng tiến, là nơi mở

ra thành công Chỉ có nắm chắc được thời cơ thì chiến lược kinh doanh của doanhnghiệp mới có thể mang lại hiệu quả Người cạnh tranh hiện đại phải rất coi trọng "cơhội", phải tranh thủ thời gian từng giây, từng phút, nếu có cơ hội phải quyết đoán, dứtkhoát bắt tay vào làm ngay

- Tập chung ưu thế, đột phá trọng điểm: Cạnh tranh kinh tế thực chất là cuộc cạnh tranh

về nhân lực, vật lực và tài lực Nhưng bất kỳ cá nhân, tập thể nào cũng đều bị hạn chếtrong những nguồn này Nếu ở trong hoàn cảnh như vậy, bạn phải sử dụng nguồn vốn

Trang 17

như thế nào để có hiệu quả nhất? Đây là một trong những điểm mấu chốt để cạnh tranhthắng lợi Người thành công thật sự thì quy mô sự nghiệp của họ không thể trải ra quárộng mà chỉ nên hành động trong phạm vi mình mà mình có thể nắm chắc được Nhưvậy, họ vừa có thể bảo đảm tập trung ưu thế, vừa đột phá trọng điểm, thúc đẩy toàncục.

- Lùi bước để mưu cầu thắng lợi: Những người thành công đều biết vận dụng thành thạochiến thuật tiến thoái hợp lý Khi ở vào thế bất lợi, họ có thể đầu hàng, có thể giảnghòa cũng có thể rút lui Trong ba điều này đầu hàng là thất bại hoàn toàn, giảng hoà làmột nửa thất bại, rút lui có thể chuyển bại thành thắng Trong cạnh tranh kinh tế, lùibước cũng là một khái niệm rất có giá trị Nó giúp doanh nghiệp có thể dự báo trướcnhững thất bại hoặc tình hình xấu có thể xảy ra để có kế hoạch và thu xếp chu đáo.1.3.2 Chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

a) Nhóm chỉ tiêu định lượng

- Thị phần doanh nghiệp trên thị trường:

Thị phần phản ánh thế mạnh của doanh nghiệp trong ngành, là chỉ tiêu đượcdoanh nghiệp hay dùng để đánh giá mức độ chiếm lĩnh thị trường của mình so với đốithủ cạnh tranh Thị phần lớn sẽ tạo lợi thế cho doanh nghiệp chi phối và hạ thấp chiphí sản xuất do lợi thế về quy mô Thị phần của doanh nghiệp trong một thời kỳ là tỷ

lệ phần trăm thị trường mà doanh nghiệp đã chiếm lĩnh được trong thời kỳ đó Có cácloại thị phần sau:

+ Thị phần tuyệt đối: Thị phần của doanh nghiệp đối với một loại hàng hoá, dịch

vụ nhất định là tỷ lệ phần trăm giữa doanh thu bán ra của doanh nghiệp này với tổngdoanh thu của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hoá, dịch vụ đó trên thịtrường liên quan hoặc tỷ lệ phần trăm giữa doanh số mua vào của doanh nghiệp nàyvới tổng doanh số mua vào của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hoá, dịch

vụ đó trên thị trường liên quan theo tháng, quý, năm ( Điều 3 Luật Canh Tranh )

Công thức tính:

Thị phần tuyệt đối = * 100%

+ Thị phần tương đối: Là tỷ lệ so sánh về doanh thu của công ty so với đối thủcạnh tranh mạnh nhất Nó cho biết vị thế của công ty trong cạnh tranh trên thị trườngnhư thế nào

Công thức tính:

Thị phần tương đối = * 100%

- Chỉ tiêu lợi nhuận:

Chỉ tiêu này được thể hiện qua một số yếu tố sau như: giá trị tổng sản lượng sảnxuất, lợi nhuận ròng, tỷ suất lợi nhuận/ tổng sản lượng sản xuất

Trang 18

Đây là một trong các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp Nếucác chỉ tiêu này càng cao phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh càng cao và do đó tạođiều kiện nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

- Năng suất lao động:

Năng suất lao động là chỉ tiêu tổng hợp của nhiều yếu tố như: con người, côngnghệ, cơ sở vật chất kỹ thuật, tổ chức phối hợp Do vậy nó là tiêu chí rất quan trọng

để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Năng suất lao động được đo bằngsản lượng sản phẩm đảm bảo chất lượng trên một đơn vị số lượng lao động làm ra sảnphẩm đó

Công thức tính:

Năng suất lao động =

Năng suất lao động của doanh nghiệp càng cao bao nhiêu thì năng lực cạnh tranhcàng cao bấy nhiêu so với các doanh nghiệp cùng lĩnh vực

b) Nhóm chỉ tiêu định tính:

- Uy tín, thương hiệu:

Đây là chỉ tiêu có tính chất rất khái quát, nó bao gồm rất nhiều yếu tố như: chấtlượng sản phẩm, các hoạt động dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp, hoạt độngMarketing, quan hệ của doanh nghiệp với các tổ chức tài chính, mức độ ảnh hưởng củadoanh nghiệp với chính quyền Đó là tài sản vô hình vô giá mà doanh nghiệp nàocũng coi trọng, nếu mất uy tín thì chắc chắn doanh nghiệp sẽ không có khả năng cạnhtrạnh trên thương trường Có uy tín doanh nghiệp có thể huy động được rất nhiềunguồn lực như: vốn, nguyên vật liệu, và đặc biệt là sự an tâm, gắn bó của người laođộng với doanh nghiệp hay sự ủng hộ của chính quyền địa phương với công ty

- Kinh nghiệm của doanh nghiệp:

Một công ty có bề dày kinh nghiệm trên thương trường thì cũng được đánh giárất cao về năng lực cạnh tranh Kinh nghiệm lâu năm sẽ giúp công ty nâng cao chấtlượng sản phẩm, có thể nắm bắt và sử lý nhiều tình huống phức tạp với chi phí và thờigian thấp nhất Đây cũng chính là một lợi thế của doanh nghiệp trong cuộc chạy đuavới các đối thủ khác

Trang 19

1.3.3 Chính sách năng cao năng lực cạnh tranh

tế khác và của các CBCNV trong DN Để sử dụng vốn có hiệu quả, DN phải giải quyếttốt các công việc như giải phóng hàng tồn kho, đầu tư vào những hoạt động có khảnăng đem lại hiệu quả và thu hồi vốn nhanh… Việc tăng tốc độ luân chuyển vốn lưuđộng có tác dụng làm giảm nhu cầu về vốn, cho phép làm ra nhiều sản phẩm hơn Khi

DN đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn thì sẽ góp phần nâng cao năng lực của DN

- Chính sách nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Con người là yếu tố quyết định tới sự thành công hay thất bại của bất kỳ hoạtđộng kinh doanh nào Con người tác động lớn đến việc nâng cao năng lực canh tranh.Trong mọi chiến lược phát triển DN không thể thiếu con người Các DN luôn cần cónhiều thợ tay nghề cao và giàu kinh nghiệm Khoa học công nghệ ngày càng phát triểnvậy nên căn cứ vào nhu cầu của từng bộ phận mà DN cần lập ra kế hoạch bồi dưỡng,đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho việc sử dụng qui trình máymóc, thiết bị mới đầu tư Không những vậy DN cần có những chính sách khen thưởngcũng như xử phạt cụ thể vừa để khuyến khích vừa giữ kỷ luật nhằm tăng năng suất laođộng từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh

- Chính sách phát triển thị trường

Trong xu thế hội nhập hiện nay, để nâng cao năng lực cạnh tranh DN cần phảinâng cao hiệu quả hoạt động marketing và nghiên cứu thị trường Hiệu quả của côngtác này được nâng cao chính là DN mở rộng được thị trường, khi đó sản phẩm tiêu thụtăng góp phần nâng cao năng luwcjc ạnh tranh của DN Để hoạt động maketing manglại hiệu quả cần sự phối hợp chặt chẽ, nhân viên phải là người có trình độ, hiểu biết vềnghiên cứu thị trường,… để từ đó thu thập và điều tra các thông tin về thị trường vềcác đối thủ cạnh tranh của DN Sau khi xây dựng một hệ thống nghiên cứu thị trườnghoàn chỉnh DN cần phân tích đánh giá nhu cầu thị hiếu người tiêu dùng Để từ đó lựachọn chính sách bán hàng phù hợp Phát triển thị trường như mở rộng chi nhánh sẽgiúp cho sản phẩm của DN dễ dàng đến tay người tiêu dùng

Trang 20

- Chính sách về giá

Giá cả sản phẩm không chỉ là phương tiện thanh toán mà còn là công cụ bánhàng Vì vậy, giá cả là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến khối lượng sản phẩm tiêu thụcủa doanh nghiệp Tuỳ theo sự biến động của các yếu tố mà mức giá được điều chỉnhtheo từng thời điểm Việc xác lập một chính sách giá hợp lý phải gắn với từng giaiđoạn, mục tiêu của chiến lược kinh doanh, chu kỳ sống của sản phẩm đối với từng khuvực thị trường, từng đối tượng khách hàng Ngoài ra chính sách giá cũng không táchrời với chính sách sản phẩm của doanh nghiệp Một điều đáng lưu ý là giá cả sản phẩmphải tính đến yếu tố cạnh tranh Doanh nghiệp cần phải điều chỉnh mức giá các sảnphẩm của mình phù hợp hơn giá của các doanh nghiệp khác trên thị trường Đối vớinhững mặt hàng có nhiều đối thủ cạnh tranh nên giảm giá thấp hơn so với thị trường,chấp nhận lợi nhuận thấp Ngược lại nâng giá trong khoảng có thể đối với các sảnphẩm độc quyền hay có ít đối thủ cạnh tranh hoặc cạnh tranh không đáng kể

- Chính sách tăng cường liên kết kinh tế

Liên kết kinh tế là hình thức phối hợp hoạt động kinh doanh trong một lĩnh vựcnào đó nhằm mục đích khai thác hiệu quả tiềm năng thế mạnh của mỗi bên tham giavào mối quan hệ liên kết tốt nhất Đẩy mạnh công tác nâng cao uy tín của mỗi bêntham gia liên kết trên cơ sở nâng cao chất lượng, sản lượng sản xuất, mở rộng thịtrường, nâng cao hiệu quả kinh tế Các doanh nghiệp với điểm mạnh là doanh nghiệp

tư nhân, linh hoạt trong việc ra quyết định nhưng điểm yếu nhất hiện nay là sự hạn chế

về vốn, khó khăn về vấn đề nguyên vật liệu, nguồn nguyên vật liệu hàng năm phảinhập khẩu với một số lượng lớn làm cho giá thành sản xuất tăng Do vậy, việc tăngcường liên kết sẽ giúp cho Doanh nghiệp khai thác được những thế mạnh của mình,đồng thời khắc phục được những điểm yếu của mình Tuy nhiên công tác tăng cườngliên kết kinh tế cần phải thận trọng trong việc tìm kiếm đối tác để liên kết để hạn chếnhững thiệt thòi, tổn thất trong quá trình liên kết

- Chính sách khách hàng

Khách hàng là nhân tố quan trọng quyết định tới hiệu quả kinh doanh của DN

Do nếu không có các chính sách về khách hàng như chính sách khuyến mại cho từngđối tương, chính sách trước và sau bán hàng,… thì sản phẩm của DN không thể bán tốtđược, khi đó các sản phẩm sẽ bị tồn đọng, luồng vốn không được lưu chuyển,… gây ranhiều hậu quả nghiêm trọng cho doanh nghiệp Cuối cùng dẫn tới kết quả kinh doanh

bị giảm sút, hiệu quả kinh doanh kém Vậy nên, chính sách khách hàng là một trongnhững chính sách nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh cho DN

Ngày đăng: 15/01/2020, 19:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w