1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần MISA trên thị trƣờng nội địa

52 311 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 136,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả đưa ra những lí luận cơ bản về cạnh tranh và đánh giá năng lực cạnh tranhcủa doanh nghiệp dựa trên các chỉ tiêu: khả năng duy trì và mở rộng thị phần, chấtlượng sản phẩm, giá cả,

Trang 1

TÓM LƯỢC

Trong nền kinh tế thị trường việc các doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong sựcạnh tranh gay gắt là điều tất yếu Cạnh tranh không chỉ đo lường bằng năng lực nộitại của doanh nghiệp mà còn được đo bằng sự so sánh với các đối thủ Năng lực cạnhtranh là sức mạnh của doanh nghiệp được thể hiện trên thương trường Sự tồn tại vàsức sống của một doanh nghiệp thể hiện trước hết ở năng lực cạnh tranh Để từng bướcvươn lên giành thế chủ động trong quá trình hội nhập, nâng cao năng lực cạnh tranhchính là tiêu chí phấn đấu của các doanh nghiệp hiện nay

Ngày nay, ngành công nghệ phần mềm đang cạnh tranh rất khốc liệt do sự pháttriển của nền kinh tế cùng với quá trình toàn cầu hóa trên thế giới Chính vì vậy nếukhông đứng vững trên thị trường thì công ty có thể bị đánh bật ra khỏi vòng xoáycạnh tranh đó Trong thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần MISA, nhận thấy tầmquan trọng trong vấn đề trên, em xin lựa chọn đề tài khóa luận tốt nghiệp: “Nâng caonăng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần MISA trên thị trường nội địa”

Dựa trên cơ sở lý luận về nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, bàiluận văn xây dựng các chỉ tiêu tạo lập năng lực cạnh tranh cho Công ty Cổ phần MISAnhư sau:

- Các chỉ tiêu định lượng: Về doanh thu, thị phần, tỷ suất lợi nhuận mà công tyđạt được

- Các chỉ tiêu định tính: Uy tín, thương hiệu; trình độ quản lý, trình độ côngnghệ, giá trị mang lại cho khách hàng

Từ đó, rút ra những kết luận về thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty trênthị trường hiện nay đó là những thành công và hạn chế, những vấn đề chưa làm đượctrong việc nâng cao năng lực cạnh của công ty trong lĩnh vực công nghệ phần mềmtrên thị trường nội địa Đồng thời tìm ra nguyên nhân của những hạn chế qua đó tìm ragiải pháp để khắc phục, nâng cao năng lực cạnh tranh của những chỉ tiêu còn yếu kém

Do thời gian ngắn đồng thời kiến thức hiểu biết còn nhiều hạn chế nên việc giảiquyết đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh Công ty Cổ phần MISA trên thị trườngnội địa” khó tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong Quý thầy cô thông cảm và cho

em những lời góp ý để bài luận văn của em được hoàn thiện hơn

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian thực tập và làm khóa luận tốt nghiệp với đề tài : “ Nâng caonăng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần MISA trên thị trường nội địa” em đã nhậnđược rất nhiều sự tận tình giúp đỡ

Trước hết, em xin chân thành cảm ơn thầy Ths Dương Hoàng Anh về nhữngđịnh hướng đề tài, chỉ bảo của thầy trong suốt quá trình hoàn thành bài khóa luận nàycũng như những chỉnh sửa mang tính thực tế của thầy

Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo của Trường Đại học Thương Mại,đặc biệt là các thầy cô khoa Kinh tế Thương Mại về những kiến thức mà các thầy cô

đã chỉ bảo em trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại nhà trường

Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn ông Lữ Thành Long – chủ tịch Công ty CổPhần MISA và toàn bộ tập thể cán bộ, nhân viên của công ty đã tạo điều kiện, tận tìnhchỉ bảo, giúp đỡ em trong quá trình thực tập và hoàn thành bài khóa luận này

Cuối cùng, cho em gửi lời cảm ơn tới các bạn trong lớp đã góp ý, giúp đỡ em rấtnhiều trong quá trình học tập rèn luyện tại trường và thực hiện bài luận văn này

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 10 tháng 04 năm 2018

Sinh viên

Trang 3

MỤC LỤC

TÓM LƯỢC i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ v

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài 1

2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan 1

3 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu 4

4 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Kết cấu khóa luận tốt nghiệp 6

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 7

1.1 Một số khái niệm cơ bản 7

1.1.1 Cạnh tranh 7

1.1.2 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 9

1.2 Lý thuyết về nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 11

1.2.1 Bản chất nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp 11

1.2.2 Ý nghĩa nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp 12

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 14

1.3 Nội dung và nguyên lý nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 17

1.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 17

1.3.2 Nguyên tắc nâng cao năng lực cạnh tranh 20

1.3.3 Chính sách nâng cao năng lực cạnh tranh 21

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN MISA TRÊN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA 23

2.1 Tổng quan tình hình và ảnh hưởng nhân tố môi trường đến nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần MISA 23

2.1.1 Thực trạng cạnh tranh cung ứng sản phẩm phần mềm của Việt Nam hiện nay .23 2.1.2 Ảnh hưởng nhân tố môi trường đến nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần MISA 25

2.2 Kết quả phân tích thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần MISA 30

2.2.1 Thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty thông qua các chỉ tiêu 30

2.2.2 Chính sách nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần MISA 32

Trang 4

2.3 Đánh giá thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty 34

2.3.1 Những thành tựu đạt được 34

2.3.2 Những hạn chế còn tồn tại 35

2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 35

CHƯƠNG 3: CÁC ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN MISA TRÊN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA 37

3.1 Mục tiêu phát triển và phương hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty 37 3.1.1 Mục tiêu phát triển của công ty 37

3.1.2 Phương hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty đến năm 2020 38

3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty 40

3.2.1 Giải pháp về trình độ và năng lực quản lý 40

3.2.2 Giải pháp về sản phẩm 41

3.2.3 Giải pháp về marketing 41

3.2.4 Giải pháp về phát triển nguồn lực của doanh nghiệp 42

3.3 Một số kiến nghị đối với phía Nhà nước 42

3.4 Vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 44

KẾT LUẬN 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 46

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ

Bảng 2.1 Bảng số liệu nhân sự của công ty MISA theo trình độ học vấn giai đoạn 2014 - 2016 27Bảng 2.2 Bảng báo giá sản phầm phần mềm kế toán SME2017.NET của công ty MISA 29Bảng 2.3 Bảng kết quả kinh doanh của công ty cố phần MISA giai đoạn 2014-2016 30Biểu đồ 2.1 Giá trị ngành công nghệ phần mềm thế giới năm 2016 24

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài

Cạnh tranh là một đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường Ở đâu có nền kinh

tế thị trường thì ở đó có nền kinh tế cạnh tranh Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũngvậy, khi tham gia vào kinh doanh trên thị trường muốn doanh nghiệp mình tồn tại vàđứng vững thì phải chấp nhận cạnh tranh Kết quả cạnh tranh là loại bỏ những công tylàm ăn kém hiệu quả, năng suất chất lượng thấp và ngược lại nó thúc đẩy những công

ty làm ăn tốt, năng suất chất lượng cao Do vậy, muốn tồn tại và phát triển thì doanhnghiệp cần phải cạnh tranh, tìm mọi cách nâng cao năng lực cạnh tranh của mìnhnhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng Ngày nay nhu cầu của con người về hànghóa ngày càng cao Để đáp ứng kịp thời nhu cầu đó, doanh nghiệp phải không ngừngđiều tra nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu của khách hàng, doanh nghiệp nào bắtkịp và đáp ứng đầy đủ nhu cầu đó thì sẽ chiến thắng trong cạnh tranh

MISA hay Công ty Cổ phần MISA (Management Information Systemfor Accounting) được thành lập năm 1994 là công ty cung cấp các phần mềm quản lýcho các cơ quan, nhà nước, doanh nghiệp, cá nhân Trải qua hơn 23 năm hình thành vàphát triển, đến nay MISA là một thương hiệu nổi tiếng và uy tín trong lĩnh vực phầnmềm Tuy nhiên, với sự phát triển của thị trường cung cấp dịch vụ phần mềm như hiệnnay, đã có rất nhiều doanh nghiệp mới tham gia vào thị trường với vai trò sản xuất,cung ứng dịch vụ phần mềm Cũng có nhiều doanh nghiệp chú trọng đẩy mạnh chiếnlược cạnh tranh, chiến lược marketing cũng như nâng cao chất lượng dịch vụ để pháttriển hoạt động kinh doanh Chính vì vậy, công ty MISA muốn giữ được vị thế củamình và phát triển tầm cao hơn nữa trên thị trường nội địa thì việc cụ thể hóa chiếnlược cạnh tranh là hết sức quan trọng

Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh tại doanh nghiệp

là hết sức cần thiết Qua quá trình học tập, tìm hiểu lí thuyết ở trường cùng với thời giantrải nghiệm tại công ty MISA, em đã quyết định lựa chọn nghiên cứu đề tài : “Nâng caonăng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần MISA trên thị trường nội địa” để làm đề tài tốtnghiệp nhằm đưa ra một bức tranh tổng thể về năng lực cạnh tranh cũng như đề xuất một

số giải pháp khả thi giúp ban lãnh đạo công ty có thể nâng cao năng lực cạnh tranh củamình để phát triển công ty một cách bền vững trên thị trường nội địa

2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan

- Lê Mạnh Cường (2011), “Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của

công ty thông tin di động VMS-Mobiphone Việt Nam”, khóa luận tốt nghiệp Đại họcThăng Long Tác giả đã vận dụng mô hình Micheal Porter về 5 lực lượng cạnh tranh

Trang 7

để đánh giá các yêu tố tác động đến năng lực cạnh tranh: các đối thủ tiềm năng, ngườimua, người cung ứng, sản phẩm thay thế, các đối thủ cạnh tranh hiện tại Từ đó, tác giảvận dụng mô hình Swot để phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội cũng như tháchthức của công ty VMS-Mobiphone và dựa vào việc phân tích đó để đưa ra các địnhhướng cũng như giải pháp về sản phẩm, quản trị, văn hóa, tinh thần cộng đồng để nângcao năng lực công ty trong thời đại thông tin di động phát triển mạnh như hiện nay.

- Bùi Tiến Cường (2012), “Một số giải pháp nâng cao năng lượng cạnh tranh

của Công ty Cổ phần xây dựng năng lượng”, luận văn Thạc sĩ Đại học Bách khoa HàNội Tác giả đưa ra những lí luận cơ bản về cạnh tranh và đánh giá năng lực cạnh tranhcủa doanh nghiệp dựa trên các chỉ tiêu: khả năng duy trì và mở rộng thị phần, chấtlượng sản phẩm, giá cả, hiệu quả kinh doanh, khả năng đổi mới của doanh nghiệp, khảnăng đáp ứng nhu cầu của khách hàng, thương hiệu uy tín, khả năng liên kết hợp táccủa doanh nghiệp, công tác đấu thầu Đồng thời phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơhội và thách thức của doanh nghiệp theo mô hình Swot để đưa ra các nhóm giải pháp

về máy móc, thiết bị công nghệ; nhóm giải pháp về nguồn nhân lực; nhóm giải pháp

về quản lí dự án; năng lực đấu thầu và chính sách giá thành dựa trên cơ sở khoa học và

đề xuất các hoạt động cụ thể

- Lê Văn Phước (2013), “ Một số giải pháp góp phần nâng cao năng lực cạnh

tranh của Ngân hàng thương mại Cổ phần Á Châu đến năm 2015 “ , luận văn Thạc sĩĐại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh Tác giả đã hệ thống hóa các yếu tố tạo nênnăng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại bao gồm các yếu tố môi trường vĩ mô,

vi mô và các yếu tố nội bộ: nguồn nhân lực, năng lực quản lý và cơ cấu tổ chức, tiềmlực tài chính, mạng lưới kênh phân phối, sản phẩm dịch vụ Dựa trên cơ sở đó, tác giảđánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng ACB thông qua các tác động từmôi trường bên ngoài ( ma trận EFE ) và bên trong ( ma trận IFE ), đưa ra các tháchthức và cơ hội đem lại cho doanh nghiệp Từ đó, đưa ra định hướng và các nhóm giảipháp để góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đến 2015 là: nhómgiải pháp phát huy thế mạnh và tận dụng cơ hội, nhóm giải pháp khắc phục điểm yếu

và hạn chế nguy cơ, nhóm giải pháp hỗ trợ

- Lê Thị Hằng (2013), "Nâng cao năng lực cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ

thông tin di động của các công ty viễn thông Việt Nam", luận án Tiến sỹ Đại học Kinh

tế quốc dân Tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh trong cung ứngdịch vụ thông tin di động của doanh nghiệp Cụ thể: năng lực cạnh tranh trong cungứng dịch vụ thông tin di động của doanh nghiệp là khả năng dịch vụ thông tin di độngcủa doanh nghiệp đó được sử dụng nhiều và nhanh chóng trên thị trường khi có nhiềudoanh nghiệp cùng cung cấp dịch vụ thông tin di động Luận án vận dụng các chỉ tiêu

Trang 8

chung đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp để xác định các chỉ tiêu đánhgiá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong cung ứng dịch vụ thông tin di động,bao gồm: chất lượng dịch vụ; giá cước dịch vụ; sự khác biệt hóa dịch vụ; hệ thốngkênh phân phối dịch vụ; thông tin và xúc tiến thương mại; thương hiệu và uy tín dịchvụ.

- Trần Văn Tùng (2015), “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Tổng công ty May 10

tại thị trường nội địa”, luận văn Thạc sĩ Đại học Quốc gia Hà Nội Tác giả đã hệ thống hóa

lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh; trong đó phân tích các nhân tố ảnh hưởng vàcác chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: thị phần và mức tăng thịphần, quản trị hệ thống phân phối, năng lực cạnh tranh về giá, về chất lượng, đa dạng hóasản phẩm, thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp, khả năng thanh toán, tỷ suất lợi nhuận,trình độ công nghệ Đồng thời chỉ ra được sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranhđối với doanh nghiệp Từ đó, tác giả phân tích và đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranhcủa Tổng công ty May 10 tại thị trường nội địa, xác định những thành tựu, khó khăn hạnchế và nguyên nhân trong quá trình kinh doanh tại thị trường nội địa Sau đó, đưa ra cácgiải pháp và kiến nghị với nhà nước, tập đoàn dệt may và hiệp hội dệt may để nâng caonăng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nghiên cứu

- Nguyễn Duy Hùng (2016), "Nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty

chứng khoán Việt Nam", luận án Tiến sỹ Đại học Kinh tế quốc dân Tác giả đã vậndụng mô hình đánh giá các yếu tố nội bộ của Thompson và Strickland (2001) để xácđịnh hệ thống 07 yếu tố bên trong tác động đến năng lực cạnh tranh của các công tychứng khoán Việt Nam, bao gồm yếu tố về tiềm lực tài chính; vốn trí tuệ; chất lượngsản phẩm; trình độ công nghệ; chất lượng dịch vụ; thương hiệu, uy tín và hoạt độngxúc tiến; mạng lưới hoạt động Luận án đã lượng hóa được mức độ ảnh hưởng củatừng yếu tố bên trong tới năng lực cạnh tranh của các công ty chứng khoán Việt Nam

Từ đó tác giả đưa ra giải pháp tương ứng liên quan đến nâng cao năng lực cạnh tranhcho các công ty chứng khoán Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh tự do hoá thị trườngchứng khoán

Ở cả sáu nghiên cứu trên, tác giả đều đi từ những lý luận về cạnh tranh và nănglực cạnh tranh để đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của lĩnh vực, đối tượngnghiên cứu và từ đó đưa ra các quan điểm đánh giá, đề xuất những định hướng, giảipháp cụ thể nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của những đối tượng này Tuy nhiên,

vì mỗi doanh nghiệp có những đặc thù riêng về quy mô, chiến lược cũng như hoạtđộng kinh doanh nên dẫn đến có thực trạng cũng như giải pháp về nâng cao năng lựccạnh tranh khác nhau

Trang 9

3 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu

Dưới góc độ lý thuyết, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp luôn là mối quantâm hàng đầu không chỉ của các doanh nghiệp mà còn là mối quan tâm rất lớn của cácnhà nghiên cứu cả trong và ngoài nước Có khá nhiều nghiên cứu về nâng cao năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp đã được thực hiện, tuy nhiên khái niệm về năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp vẫn chưa có sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu Bên cạnh

đó, các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng được tiếp cậntheo nhiều hướng nghiên cứu khác nhau, đặc biệt có rất ít các nghiên cứu về nâng caonăng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh dịch vụ phần mềm.Liên quan tới lĩnh vực sản xuất phần mềm như Công ty Cổ phần MISA, các nghiêncứu mới chỉ dừng lại ở đề tài phân tích kết quả hoạt động kinh doanh, nghiên cứu vềhoạt động marketing của công ty MISA mà chưa có nghiên cứu nào về nâng cao nănglực cạnh tranh của công ty Trong khi đó đây lại là một vấn đề quan trọng với mọidoanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt như hiện nay.Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty

Cổ phần MISA trên thị trường nội địa” Với đề tài đã chọn, để làm rõ các vấn đềnghiên cứu, tác giả sẽ tập trung trả lời các câu hỏi sau:

- Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần MISA so với các đối thủ trênthị trường nội địa? Những ưu điểm, tồn tại cũng như nguyên nhân của những tồn tại đó?

- Những nhân tố nào ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của công ty? Các chínhsách nào có thể tác động giúp nâng cao sức cạnh tranh của công ty trên thị trường nội địa?

- Các giải pháp nào có thể tác động nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công

ty Cổ phần MISA trong môi trường có mức độ cạnh tranh cao như hiện nay?

4 Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần MISA trên thị trường nội địa

4.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Mục tiêu lý luận: Đi sâu tìm hiểu, hệ thống hóa và làm rõ các khái niệm và lýluận liên quan đến năng lực cạnh tranh, bản chất cạnh tranh, ý nghĩa và các nhân tố

ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

- Mục tiêu thực tiễn:

Trên cơ sở lý luận về cạnh tranh đã phân tích:

+ Đánh giá thực trạng về năng lực cạnh tranh, hoạt động kinh doanh, chính sáchnâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần MISA giai đoạn 2014-2017

+ Tổng kết những kết quả cũng như tồn tại, đi sâu phân tích những tồn tại cả về cơchế và quá trình tổ chức thực hiện chính sách nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty

Trang 10

+ Đề xuất các kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh củaCông ty Cổ phần MISA trên thị trường nội địa.

4.3 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của công tytrong giai đoạn từ 2014 đến 2017 Từ đó, đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao nănglực cạnh tranh của công ty đến năm 2020

Phạm vi về không gian nghiên cứu: Nghiên cứu khả năng cung cấp các sản phẩmphần mềm, những ưu thế so với đối thủ cạnh tranh của công ty trên thị trường nội địa,chủ yếu tại thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh

Phạm vi về nội dung nghiên cứu: Từ việc hệ thống hóa lý luận về cạnh tranh vànăng lực cạnh tranh để phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty MISA dựatrên các chỉ tiêu: doanh thu, thị phần, tỷ suất lợi nhuận, uy tín của công ty, trình độcông nghệ và giá trị mang lại cho khách hàng Từ đó, xác định những thành tựu đạtđược hay những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong quá trình kinhdoanh để đề xuất những nhóm giải pháp: về năng lực và trình độ quản lý, về sản phẩm,

về marketing, về phát triển nguồn lực để nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty trênthị trường nội địa

5 Phương pháp nghiên cứu

Bài khóa luận sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, tuynhiên tập trung chủ yếu các phương pháp sau:

5.1 Phương pháp thu thập số liệu

Từ việc tìm hiểu và đưa ra các lí luận kinh tế, phương pháp này được sử dụng đểphân tích, thu thập, tổng hợp các số liệu có liên quan tới ngành dịch vụ phần mềm vàCông ty Cổ phần MISA Thông qua số liệu đó để xây dựng và chứng minh cơ sở líluận được rõ ràng, xác thực

Số liệu được thu thập thông qua báo cáo ngành công nghệ thông tin, báo cáo tàichính, báo cáo thường niên của công ty để phục vụ cho việc phân tích làm rõ đề tàinghiên cứu trong chương 2 về thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty MISA

5.2 Phương pháp tổng hợp, xử lí số liệu

Từ số liệu thu thập được, phương pháp này sử dụng để phân tích các kết quả hoạtđộng kinh doanh, kết quả báo cáo tài chính…tại Công ty Cổ phần MISA từ đó đưa racác nhận định, đánh giá về những thành tựu, hạn chế của công ty và nguyên nhân củanhững hạn chế để làm rõ vấn đề nghiên cứu trong chương 2 của đề tài

5.3 Phương pháp biểu đồ

Được sử dụng để trình bày các số liệu đã thu thập được về thị trường phần mềmViệt Nam và Công ty Cổ phần MISA dưới các dạng biểu đồ cột, biểu đồ tròn…để dễ

Trang 11

dàng phân tích và đánh giá tương quan về sự thay đổi của đối tượng nghiên cứu quathời gian, không gian thay đổi.

Phương pháp này thể hiện khả năng cạnh tranh của thị trường phần mềm ViệtNam trên thế giới; tình hình hoạt động kinh doanh, kết quả kinh doanh, thị phần củacông ty qua các năm khi nghiên cứu về khả năng cạnh tranh của công ty MISA trongchương 2

6 Kết cấu khóa luận tốt nghiệp

Ngoài các phần mục lục, lời cảm ơn, danh mục bảng biểu và danh mục tài liệutham khảo thì bài khóa luận được trình bày bao gốm 3 chương:

Chương 1: Một số lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng về năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần MISA

trên thị trường nội địa

Chương 3: Các đề xuất và kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của

Công ty Cổ phần MISA trên thị trường nội địa

Trang 12

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC

CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Cạnh tranh

a Khái niệm

Cạnh tranh là hiện tượng tự nhiên, là mâu thuẫn quan hệ giữa các cá thể có

chung một môi trường sống khi cùng quan tâm tới một đối tượng nào đó Trong hoạtđộng kinh tế, cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất, ngườitiêu dùng) nhằm giành lấy những vị thế lợi hơn trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùnghàng hóa để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình Cạnh tranh có thể xảy ra giữanhững nhà sản xuất với nhau hoặc có thể xảy ra giữa người sản xuất với người tiêudùng khi người sản xuất muốn bán hàng hóa với giá cao, người tiêu dùng lại muốnmua được với giá thấp Cạnh tranh mang lại nhiều lợi ích, đặc biệt cho người tiêudùng Người sản xuất phải tìm mọi cách để làm ra sản phẩm có chất lượng hơn, đẹphơn, có chi phí sản xuất rẻ hơn, có tỷ lệ tri thức khoa học, công nghệ cao hơn để đápứng nhu cầu, thị hiếu của khách hàng Cạnh tranh làm cho người sản xuất năng độnghơn, nhạy bén hơn, nắm bắt tốt hơn nhu cầu của khách hàng, thường xuyên cải tiến kỹthuật, áp dụng những tiến bộ, những nghiên cứu mới nhất vào sản xuất; hoàn thiệncách thức tổ chức sản xuất, quản lý sản xuất để nâng cao năng xuất, chất lượng và hiệuquả kinh tế

Theo K Marx: "Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bảnnhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thuđược lợi nhuận siêu ngạch "

Theo nhà kinh tế học của Mỹ - Michael Porter thì: Cạnh tranh là giành lấy thịphần Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mứclợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bìnhquân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả

có thể giảm đi

Hai nhà kinh tế học Mỹ P.A Samuelson và W.D.Nordhaus trong cuốn kinh tế học(xuất bản lần thứ 12) thì cho rằng : Cạnh tranh (Competition) là sự kình địch giữa cácdoanh nghiệp cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trường Hai tác giả nàycho cạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition)

Có nhiều biện pháp cạnh tranh: cạnh tranh giá cả (giảm giá,…) hoặc cạnh tranhphi giá cả (quảng cáo,…) Hay cạnh tranh của một doanh nghiệp, một ngành, một quốcgia là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện về thị trường tự do và công bằng có thể sản

Trang 13

xuất ra các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được đòi hỏi của thị trường, đồngthời tạo ra việc làm và nâng cao được thu nhập thực tế.

b Phân loại cạnh tranh

Có nhiều tiêu chí để phân loại cạnh tranh, tuy nhiên trong đề tài này đề cập theotiêu chí cấp độ cạnh tranh thì có thể chia ra cạnh tranh có 4 cấp độ:

- Cạnh tranh quốc gia

Cạnh tranh quốc gia được định nghĩa là khả năng nền kinh tế của một đất nướcđạt được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, bảo đảm ổn định kinh tế, xã hội,nâng cao đời sống của người dân

Năng lực cạnh tranh quốc gia phụ thuộc vào năng suất sử dụng nguồn lực conngười, tài nguyên và vốn của một quốc gia, bởi chính năng suất xác định mức sốngbền vững thể hiện qua mức lương, tỉ suất lợi nhuận từ vốn bỏ ra, tỉ suất lợi nhuận thuđược từ tài nguyên thiên nhiên Năng suất của nền kinh tế quốc dân có được nhờ sựkết hợp của các doanh nghiệp trong và ngoài nước

- Cạnh tranh ngành

Xét theo phạm vi ngành kinh tế, cạnh tranh được chia làm hai loại :

+ Cạnh tranh trong nội bộ ngành là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuấtkinh doanh một loại dịch vụ Cạnh tranh trong nội bộ ngành là một cuộc cạnh tranh tấtyếu phải xảy ra, tất cả đều nhằm vào mục tiêu cao nhất là lợi nhuận của doanh nghiệp.Chính vì vậy, mỗi doanh nghiệp phải cải tiến kỹ thuật, năng lực quản lý nhằm nâng caonăng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm để tìm lợi nhuận siêu ngạch

+ Cạnh tranh giữa các ngành là cạnh tranh giữa các chủ doanh nghiệp sản xuấtkinh doanh hàng hoá dịch vụ trong các ngành kinh tế khác nhau nhằm mục tiêu lợinhuận, vị thế và an toàn Cạnh tranh giữa các ngành tạo ra xu hướng di chuyển của vốnđầu tư sang các ngành kinh doanh thu được lợi nhuận cao hơn và tất yếu sẽ dẫn đến sựhình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân

- Cạnh tranh doanh nghiệp

Là việc sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các cơ hội của doanh nghiệp đểgiành lấy phần thắng, phần hơn về mình trước các doanh nghiệp khác trong quá trìnhkinh doanh, bảo đảm cho doanh nghiệp phát triển nhanh chóng và bền vũng.Trong nền kinh tế thị trường, trước mỗi nhu cầu của những người tiêu dùng dưới dạngcác loại sản phẩm tương tự - sản phẩm thường có rất nhiều các nhà sản xuất tham giađáp ứng, họ luôn phải cố gắng để giành chiến thắng, sự cạnh tranh diễn ra là tất yếutrong môi trường luật pháp của nhà nước, các thông lệ của thị trường và các quy luậtkhách quan vốn có của nó

Trang 14

- Cạnh tranh sản phẩm

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường của các doanh nghiệp, vấn

đề sản phẩm bán tới tay khách hàng được coi trọng hàng đầu Bởi sản phẩm là đại diệncho thương hiệu của doanh nghiệp, cho sự lớn mạnh hoặc yếu kém trong lĩnh vực cungcấp mặt hàng cùng công cụ sử dụng Cạnh tranh về sản phẩm thường được thể hiệnqua các mặt:

+ Cạnh tranh về trình độ sản phẩm

Tuỳ theo những sản phẩm khác nhau để chúng ta lựa chọn những nhóm chỉ tiêukhác nhau có tính chất quyết định trình độ của sản phẩm Doanh nghiệp sẽ chiến thắngtrong cạnh tranh nếu như lựa chọn trình độ sản phẩm phù hợp với yêu cầu của ngườitiêu dùng

+ Cạnh tranh về chất lượng

Tùy theo từng sản phẩm với đặc điểm khác nhau để lựa chọn chỉ tiêu phản ánhchất lượng khác nhau Nếu tạo ra nhiều lợi thế cho chỉ tiêu này thì sản phẩm càng cónhiều cơ hội giành thắng lợi cạnh tranh trên thị trường

+ Cạnh tranh do khai thác hợp lý chu kỳ sống của sản phẩm

Sử dụng biện pháp này, doanh nghiệp cần phải có những quyết định sáng suốt đểđưa ra một sản phẩm mới hoặc dừng việc cung cấp một sản phẩm đã lỗi thời

Nhận xét chung : Cả ba cấp độ cạnh tranh đều có mối quan hệ chặt chẽ biện chứng với nhau Tăng cường hỗ trợ cho nhau như : cạnh tranh cấp quốc gia tốt mà cạnh tranh cấp doanh nghiệp yếu kém thì người tiêu dùng không mua, cạnh tranh cấp quốc gia và doanh nghiệp tốt mà cạnh tranh sản phẩm thấp thì người tiêu dùng cũng không lựa chọn mua sản phẩm Do vậy, cấp độ cạnh tranh của quốc gia, doanh nghiệp, sản phẩm rất quan trọng tạo nên sức mạnh cạnh tranh, ba cấp độ cạnh tranh này tương trợ lẫn nhau.

1.1.2 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Theo Ts Nguyễn Hữu Thắng (chủ biên), “Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam”, Nxb chính

trị quốc gia, Hà Nội 2008 thì khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đềcập đầu tiên ở Mỹ đầu năm 1980 Theo Alinton Report (năm 1985): “Doanh nghiệp có

Trang 15

khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chấtlượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ cạnh tranh trong nước và quốc tế Khảnăng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khảnăng bảo đảm thu nhập cho người lao động và chủ doanh nghiệp”.

Tuy nhiên, khái niệm năng lực cạnh tranh đến nay vẫn chưa hiểu được một cáchthống nhất Theo Buckley (năm 1988), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần đượcgắn kết với việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp Theo Collins và Polart (năm1996), khái niệm năng lực cạnh tranh gắn với nhiệm vụ của doanh nghiệp với 3 yếu tốlà: các giá trị chủ yếu của doanh nghiệp, mục đích chính của doanh nghiệp và các mụctiêu giúp doanh nghiệp thực hiện chức năng của mình ”

Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh trên các cấp độ:quốc gia, ngành, doanh nghiệp và sản phẩm Và hiện chưa có một lý thuyết nào hoàntoàn có tính thuyết phục về vấn đề này, do đó không có lý thuyết “chuẩn” về năng lựccạnh tranh Tuy nhiên, hai hệ thống lý thuyết với hai phương pháp đánh giá được cácquốc gia và các thiết chế kinh tế quốc tế sử dụng nhiều nhất: Phương pháp thứ nhất doDiễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) thiết lập trong bản Báo cáo cạnh tranh toàn cầu;Phương pháp thứ hai do Viện Quốc tế về quản lý và phát triển (IMD) đề xuất trongcuốn niên giám cạnh tranh thế giới Cả hai phương pháp này đều do một số Giáo sưđại học Harvard như Michael Porter, Jeffrey Shach và một số chuyên gia của WEF nhưCornelius, Mache Levison tham gia xây dựng

Năng lực cạnh tranh là khả năng tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kếtquả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng các sản phẩmcũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm nảy sinhthị trường mới

Có quan điểm cho rằng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với ưuthế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường Có quan điểm gắn năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp với thị phần mà nó nắm giữ, cũng có quan điểm đồng nhất củadoanh nghiệp với hiệu quả sản xuất kinh doanh,…Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào thực lực

và lợi thế của mình thì chưa đủ, bởi trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế, lợi thế bênngoài đôi khi là yếu tố quyết định Thực tế chứng minh một số doanh nghiệp rất nhỏ,không có lợi thế nội tại, thực lực bên trong yếu nhưng vẫn tồn tại và phát triển trongmột thế giới cạnh tranh khốc liệt như hiện nay

Như vậy, “năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là việc khai thác, sử dụng thựclực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm – dịch vụ hấp dẫnngười tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến

vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường ”

Trang 16

Năng lực cạnh tranh của sản phẩm được đo bằng thị phần của sản phẩm đó Nănglực cạnh tranh của sản phẩm phụ thuộc vào chất lượng, giá cả, tốc độ cung cấp, dịch vụ đikèm, uy tín của người bán, thương hiệu, quảng cáo, điều kiện mua bán, v.v Năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp tạo ra được lợi thế cạnh tranh, cókhả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phầnlớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thểhiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãntốt hơn các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao.

1.2 Lý thuyết về nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

1.2.1 Bản chất nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thực chất là thể hiện thực lực và lợi thếcủa doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏicủa khách hàng để thu về lợi nhuận ngày càng cao Chỉ có cạnh tranh thì họ mới đứngvững được trên thị trường, do đó trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình cácdoanh nghiệp buộc phải chấp nhận cạnh tranh như một tất yếu cho sự ở lại với thịtrường của mình Các doanh nghiệp cũng vì thế phải thường xuyên đua tranh với nhau

để giành được ưu thế so với các đối thủ Nếu lợi nhuận được xem như là động lựcthúc đẩy các doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì cạnh tranhbuộc các doanh nghiệp phải cố gắng sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao nhất nhằmthu được lợi nhuận tối đa đồng thời giảm chi phí sản xuất tạo độ an toàn trong kinhdoanh bằng nhiều biện pháp Như vậy, năng lực canh tranh của một doanh nghiệptrước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp đó Đây là các yếu tố nội hàmcủa mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các chỉ tiêu về công nghệ, tài chính,nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp,… một cách riêng biệt mà được đánh giá, sosánh với các đối thủ cạnh tranh hoạt động trên cùng lĩnh vực, cùng một thị trường Dovậy, nâng cao năng lực cạnh tranh, thực chất là nâng cao “quy mô, trình độ và chấtlượng nguồn lực về kinh tế, kỹ thuật, quản lý và thương mại của doanh nghiệp”

Cụ thể hơn, bản chất nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ở đây làviệc doanh nghiệp tiến hành hoạt động kinh doanh sao cho hiệu quả ngày càng cao, tối

đa hóa lợi nhuận bằng việc đưa ra các chính sách, chiến lược nhằm tạo ra những ưu thếnhất định so với đối thủ để có thể tạo ra vị thế trên thị trường, chiếm lĩnh được thịphần, lượng tiêu thụ sản phẩm cao… Để thực hiện được điều đó, doanh nghiệp có thểxuất phát từ chính sách cạnh tranh về giá cả, về chất lượng sản phẩm, chất lượng củadịch vụ sau bán hay đẩy mạnh các hoạt động marketing…đi đến mục đích cuối cùng là

sự tồn tại và phát triển bền vững của công ty trên thị trường

Trang 17

1.2.2 Ý nghĩa nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh tồn tại như một quy luật kinh tế kháchquan và do vậy việc nâng cao năng lực cạnh tranh để cạnh tranh trên thị trường luônđược đặt ra đối với các doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu rộngnhư hiện nay Cạnh tranh ngày càng gay gắt, khi trên thị trường ngày càng xuất hiệnnhiều các đối thủ cạnh tranh nước ngoài với tiềm lực mạnh về tài chính, công nghệ,trình độ quản lý và có sức mạnh thị trường Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp là một đòi hỏi cấp bách, có ý nghĩa hết sức quan trọng để doanh nghiệp có đủsức cạnh tranh một cách lành mạnh và hợp pháp trên thương trường, quyết định đến sựsống còn của doanh nghiệp Tuy nhiên, cũng cần nói rằng, nâng cao năng lực cạnhtranh không chỉ có ý nghĩa đối với doanh nghiệp nói riêng mà nó còn có ý nghĩa to lớnvới toàn bộ nền kinh tế của một quốc gia và có ảnh hưởng sâu sắc tới tầng lớp dân cư

là người tiêu dùng trong xã hội

- Đối với doanh nghiệp

+ Nâng cao năng lực cạnh tranh để tồn tại và phát triển

Ngày nay trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một điều kiện, yếu tố kíchthích kinh doanh Quy luật cạnh tranh là động lực phát triển sản xuất, cung ứng hànghóa, dịch vụ Hàng hóa bán ra nhiều, số lượng người cung ứng ngày càng đông thìcạnh tranh ngày càng khốc liệt, kết quả của quá trình cạnh tranh là loại bỏ nhữngdoanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả và sự lớn mạnh của những doanh nghiệp kinhdoanh tốt Do vậy, muốn tồn tại và phát triển thì doanh nghiệp phải cạnh tranh, phảitìm mọi cách nâng cao khả năng cạnh tranh của mình nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầucủa khách hàng Các doanh nghiệp cần phải tìm ra biện pháp để đáp ứng nhu cầu, thịhiếu của khách hàng bằng cách sản xuất và kinh doanh dịch vụ có chất lượng cao,công dụng tốt và giá cả phù hợp Có như vậy, hàng hóa và dịch vụ của doanh nghiệpmới ngày càng phát triển

+ Nâng cao khả năng cạnh tranh để thực hiện mục tiêu

Mỗi doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ đều đặt ra những mục tiêu nhất định Tùythuộc vào từng giai đoạn phát triển mà doanh nghiệp đặt mục tiêu nào lên hàng đầucho phù hợp Bởi lẽ, mục đích cuối cùng trong hoạt động kinh doanh, của doanhnghiệp là mang lại nhiều lợi nhuận Chính vì vậy mà doanh nghiệp luôn tìm cách đểbán được sản phẩm hay tiêu thụ hàng hóa, cung ứng dịch vụ của mình nhiều nhất trên

cơ sở tối đa hóa lợi nhuận Cạnh tranh là chiến lược không thể thiếu trong quá trìnhthực hiện mục tiêu, là con đường tốt nhất để doanh nghiệp có thể tự đánh giá khả năng

và năng lực của mình hay đánh giá được đối thủ cạnh tranh Từ đó, tìm ra được những

lỗ hổng của thị trường và đó là con đường để doanh nghiệp đạt được mục tiêu

Trang 18

- Đối với người tiêu dùng

Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp và việc nâng cao năng lực cạnh tranh đã khiếncho các doanh nghiệp tìm mọi cách để sản xuất ra các sản phẩm tốt nhất với giá cả hợp

lý nhất để phục vụ khách hàng Rõ ràng, khách hàng là những người được lợi nhiềunhất từ việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường

Bằng việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, người tiêu dùng sẽ có

cơ hội được hưởng những hàng hoá tốt nhất, đa dạng mẫu mã, chủng loại, từ đó thoảmãn ngày càng tốt hơn nhu cầu ngày càng cao của khách hàng Để luôn dẫn đầu và tồntại được trên thị trường, doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lượng, tínhnăng, công dụng của sản phẩm đồng thời phải sử dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại vàcác quy trình sản xuất, quản lý tiên tiến để cắt giảm chi phí hay dịch vụ chăm sóckhách hàng sau bán Vì vậy mà khách hàng sẽ luôn có những sản phẩm ngày càngđược hoàn thiện hơn với giá cả phải chăng nhất

- Đối với nền kinh tế xã hội

Nâng cao năng lực cạnh tranh không chỉ có ý nghĩa đối với riêng bản thân doanhnghiệp hay chỉ với người tiêu dùng mà còn có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với nền kinh

tế xã hội của quốc gia thậm chí là quốc tế Trong nền kinh tế thị trường, cuộc chạy đuacủa các doanh nghiệp có vai trò là động lực thúc đẩy sự phát triển đối với nền kinh tế

và nâng cao năng suất lao động xã hội Khi tham gia một cuộc cạnh tranh lành mạnh,hợp pháp thì các doanh nghiệp đều muốn giành thắng lợi dù rõ ràng đó không phải làviệc dễ dàng Tất yếu cho chiến thắng của mình là sự cố gắng của doanh nghiệp trongviệc nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trên thị trường, có như vậy thì doanhnghiệp mới thu hút được mối quan tâm của khách hàng dẫn đến bán được nhiều sảnphẩm, dịch vụ và thu được nhiều lợi nhuận bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển củamình Mà cụ thể là họ sẽ cố gắng để nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hoá sảnphẩm, dịch vụ, hạ giá thành nếu có thể, tạo lập và duy trì niềm tin của khách hàng đốivới doanh nghiệp Kết quả của việc đó, những doanh nghiệp hoạt động yếu kém, làm

ăn thua lỗ sẽ tự khắc rút khỏi thị trường nhường chỗ cho những doanh nghiệp mới,những doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn Đây chính là sự loại trừ bởi cạnh tranhcủa nền kinh tế thị trường đã đảm bảo cho sự phát triển đi lên của nền kinh tế Kinh tếphát triển vững mạnh chính là một sự bảo đảm vững chắc cho sự tiến bộ xã hội Đặcbiệt trong thời đại ngày nay, khi mà nền kinh tế của một quốc giacó sự gắn liền với nềnkinh tế thế giới bởi sự phát triển của công nghệ thông tin đã thu hẹp khoảng cách giữacác quốc gia thì cạnh tranh có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế toàn cầu Và chính nhưvậy thì cạnh tranh chính là một trong những động lực để phát triển kinh tế xã hội trêntoàn thế giới

Trang 19

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

a Nhóm nhân tố bên ngoài

- Đối thủ cạnh tranh

Đối thủ cạnh tranh là những đối thủ có cùng phân khúc khách hàng, cùng sảnphẩm, cùng giá và có sức mạnh cạnh tranh trên cùng phân khúc thị trường Mọi doanhnghiệp khi tham gia vào thị trường đều có rất nhiều đối thủ cạnh tranh, ngay cả đối vớicông ty độc quyền Mức độ cạnh tranh phụ thuộc vào sự tương tác giữa các yếu tố như

số lượng doanh nghiệp tham gia cạnh tranh, mức độ tăng trưởng của ngành, cơ cấu chiphí cố định và mức độ đa dạng hóa sản phẩm

Các doanh nghiệp cần phân tích từng đối thủ cạnh tranh về mục tiêu tương lai,chiến lược họ đang thực hiện, tiềm năng của họ, điểm mạnh, điểm yếu và hiểu đượcnhững biện pháp phản ứng hành động mà họ có thể có Trên cơ sở đó hoàn thiệnnhững điểm còn yếu kém, phát huy những thế mạnh của doanh nghiệp từng bước nângcao năng lực cạnh tranh

- Chính trị, pháp luật của Nhà nước

Thể chế, chính sách là tiền đề quan trọng cho hoạt động của doanh nghiệp Nội dungcủa thể chế, chính sách bao gồm các quy định pháp luật, các biện pháp hạn chế haykhuyến khích đầu tư hay kinh doanh đối với hàng hoá, dịch vụ, ngành nghề, địa bàn, đây là nhóm yếu tố quan trọng và bao quát rất nhiều vấn đề liên quan tới hoạt động củadoanh nghiệp nói chung và nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp nói riêng

Một thể chế chính trị ổn định, luật pháp rõ ràng, rộng mở sẽ là cơ sở cho việcđảm bảo sự thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh có hiệuquả Ví dụ các luật thuế có ảnh hưởng rất lớn đến cạnh tranh, đảm bảo sự bình đẳnggiữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế khác nhau và trên mọi lĩnh vực;thuế suất nhập khẩu cũng ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sảnxuất trong nước

- Khách hàng

Khách hàng là đối tượng mà doanh nghiệp phục vụ và là yếu tố quyết định đến

sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp Mục đích của các doanh nghiệp là thỏamãn nhu cầu của khách hàng để tìm kiếm lợi nhuận Nếu doanh nghiệp đáp ứng tốtnhu cầu của khách hàng so với đối thủ cạnh tranh thì họ càng nhận được sự ủng hộ cao

và sự trung thành từ phía khách hàng Trong điều kiện có sự cạnh tranh gay gắt thì vaitrò của khách hàng lại càng trở nên quan trọng Tuy nhiên, thực tế tâm lý khách hàng

là người mua luôn muốn đòi hỏi chất lượng cao với mức giá thấp vì vậy sẽ thực hiệnviệc ép giá…điều này làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Vậy nên, doanh nghiệpcần phải phân loại khách hàng thành các nhóm khác nhau và đưa ra các chính sách phùhợp để thu hút thị phần

Trang 20

b Nhóm nhân tố bên trong

- Nguồn lực tài chính

Vốn là nguồn lực mà doanh nghiệp cần có trước tiên vì không có vốn không thểthành lập được doanh nghiệp và không thể tiến hành hoạt động được Một doanhnghiệp có năng lực cạnh tranh là doanh nghiệp có nguồn vốn dồi dào luôn đảm bảohuy động được vốn trong những trường hợp cần thiết, doanh nghiệp đó phải sử dụngđồng vốn có hiệu quả và hạch toán chi phí một cách rõ ràng Như vậy doanh nghiệpcần đa dạng nguồn cung vốn bởi nếu thiếu vốn thì hạn chế rất lớn đến kết quả hoạtđộng của doanh nghiệp như đầu tư đổi mới công nghệ hiện đại, hạn chế đào tạo nângcao trình độ cán bộ, công nhân, nghiên cứu thị trường

Doanh nghiệp có tiềm lực về tài chính sẽ có điều kiện để đổi mới công nghệ, đầu

tư trang thiết bị, đảm bảo nâng cao chất lượng, hạ giá thành Như vậy, doanh nghiệp sẽduy trì và nâng cao sức cạnh tranh, củng cố vị thế của mình trên thị trường

- Nguồn lực vật chất, công nghệ

Một hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại cùng với một công nghệ tiên tiếnphù hợp với qui mô sản xuất của doanh nghiệp chắc chắn sẽ nâng cao năng lực sảnxuất, làm tăng khả năng của doanh nghiệp lên rất nhiều, chất lượng sản phẩm sẽ đượcnâng lên cao hơn cùng với việc hạ giá thành sản phẩm kéo theo sự giảm giá bán trênthị trường Khả năng chiến thắng trong cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ rất lớn, ngượclại không một doanh nghiệp nào lại có khả năng cạnh tranh cao khi mà công nghệ sảnxuất lạc hậu, máy móc thiết bị cũ kỹ sẽ làm giảm chất lượng sản phẩm, tăng chi phísản xuất

- Trình độ quản lí

Năng lực tổ chức, quản lí doanh nghiệp được coi là nhân tố có tính quyết định sự tồntại và phát triển của doanh nghiệp nói chung cũng như năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp nói riêng Trình độ tổ chức, quản lí doanh nghiệp được thể hiện trên các mặt:+ Trình độ của đội ngũ cán bộ quản lí: được thể hiện bằng những kiến thức cầnthiết để quản lí và điều hành, thực hiện các công việc đối nội và đối ngoại của doanhnghiệp Trình độ của đội ngũ này không chỉ đơn thuần là trình độ học vấn mà còn thểhiện những kiến thức rông lớn và phức tạp thuộc rất nhiều lĩnh vực liên quan tới hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp, từ pháp luật trong nước và quốc tế, thị trường,ngành hàng, đến kiến thức về xã hội, nhân văn

+ Trình độ tổ chức, quản lí doanh nghiệp: thể hiện ở việc sắp xếp, bố trí cơ cấu tổchức bộ máy quản lí và phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận Việc hìnhthành tổ chức bộ máy quản lí doanh nghiệp theo hướng tinh, gọn, nhẹ và hiệu lực cao

có ý nghĩa quan trọng không chỉ bảo đảm hiệu quả quản lí cao, ra quyết định nhanh

Trang 21

chóng, chính xác, mà còn làm giảm tương đối chi phí quản lí của doanh nghiệp Nhờ

đó mà nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

- Nguồn nhân lực

Con người là yếu tố quyết định mọi thành bại của hoạt động kinh doanh Conngười cũng là tài sản quan trọng và có giá trị cao nhất của doanh nghiệp Bởi vậy,muốn nâng cao khả năng cạnh tranh của mình doanh nghiệp phải chú ý việc sử dụngcon người phát triển nhân sự, xây dựng môi trường văn hoá và có nề nếp, tổ chức củadoanh nghiệp Đồng thời doanh nghiệp phải quan tâm đến các chỉ tiêu rất cơ bản như

số lượng lao động, trình độ nghề nghiệp, năng suất lao động, thu nhập bình quân, nănglực của cán bộ quản lý

Trong bất cứ một doanh nghiệp nào chỉ mới có nhà lãnh đạo giỏi vẫn chưa đủ,vẫn chỉ mới có người ra quyết định mà chưa có người thực hiện những quyết định đó.Bên cạnh đó phải có một đội ngũ nhân viên giỏi cả về trình độ và tay nghề, có óc sángtạo có trách nhiệm và có ý thức trong công việc Có như vậy họ mới có thể đưa ranhững sản phẩm có chất lượng tốt mang tính cạnh tranh cao

- Chất lượng sản phẩm

Chất lượng sản phẩm có vai trò quan trọng trong cạnh tranh của mỗi doanhnghiệp Một trong những cơ sở để khách hàng quyết định lựa chọn sử dụng sản phẩmcủa doanh nghiệp là chất lượng sản phẩm Chất lượng sản phẩm thể hiện khả năngthỏa mãn nhu cầu khách hàng Sản lượng tiêu thụ sản phẩm,dịch vụ sẽ tăng cùng với

sự gia tăng mức độ thỏa mãn của khách hàng Đặc biệt khi trình độ xã hội ngày càngcao, xã hội ngày càng văn minh thì thị hiếu của người tiêu dùng đòi hỏi sản phẩm chấtlượng cao về mọi mặt

Ngược lại, nếu chất lượng sản phẩm, dịch vụ kém thì sẽ giảm dần thị phần, kháchhàng không còn sự tin dùng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp đó nữa và thay thếbằng sản phẩm tương tự có chất lượng cao hơn của doanh nghiệp khác trên thị trường.Như vậy, chất lượng và cạnh tranh là hai phạm trù gắn bó chặt chẽ với nhau, chấtlượng làm tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và ngược lại cạnh tranh cao lạitạo cơ sở tài chính và vật chất cần thiết cho nâng cao chất lượng sản phẩm

- Giá cả sản phẩm

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì giá bán sản phẩm là một trong nhữngcông cụ quan trọng thường được sử dụng Bởi giá bán sản phẩm có ảnh hưởng trựctiếp đến sự hấp dẫn của sản phẩm và sản lượng tiêu thụ Tâm lý chung của mọi kháchhàng là luôn muốn mình trở thành người tiêu dùng thông minh khi mua được sảnphẩm tốt với mức giá rẻ Tuy nhiên, có tâm lý trái chiều rằng tiền nào của nấy nênkhông phải lúc nào giá bán thấp cũng có thể thu hút được người tiêu dùng Chính vì

Trang 22

vậy, để xác định được mức giá cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp cần xem xét đồng thờicác yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm.

Có nhiều chính sách giá khác nhau được doanh nghiệp sử dụng phù hợp với sảnphẩm mục tiêu, tình hình thị trường và khả năng thanh toán của khách hàng: chínhsách định giá thấp, chính sách định giá cao, chính sách ổn định giá, chính sách phânbiệt giá…

- Hoạt động marketing

Hoạt động marketing là việc doanh nghiệp làm để tìm hiểu khách hàng của mình

là những ai, họ cần gì và muốn gì, làm thế nào để đáp ứng nhu cầu của họ đồng thờitạo ra lợi nhuận Mục tiêu của marketing là thỏa mãn các nhu cầu và mong muốn củakhách hàng bên ngoài và bên trong doanh nghiệp, đảm bảo được cung cấp sản phẩm

ổn định với chất lượng theo yêu cầu của sản xuất và giá cả phù hợp nhằm giúp doanhnghiệp giành thắng lợi trong cạnh tranh và đạt được lợi nhuận cao trong dài hạn Vìthế, hoạt động marketing của doanh nghiệp càng có chất lượng và phạm vi rộng baonhiêu thì doanh nghiệp càng có lợi thế cạnh tranh để chiến thắng đối thủ bấy nhiêu

1.3 Nội dung và nguyên lý nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

1.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

a Các chỉ tiêu định lượng

- Doanh thu

Doanh thu là số tiền mà doanh nghiệp thu được khi bán hàng hoá hoặc dịch vụ.Bởi vậy mà doanh thu có thể được coi là một chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh.Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và tăng thêm lợi nhuận.Căn cứ vào chỉ tiêu doanh thu qua từng thời kỳ hoặc qua các năm ta có thể đánh giáđược kết quả hoạt động kinh doanh là tăng hay giảm, theo chiều hướng tốt hay xấu.Nhưng để đánh giá được hoạt động kinh doanh đó có mang lại được hiệu quả haykhông ta phải xét đến những chi phí đã hình thành nên doanh thu đó Nếu doanh thu vàchi phí của doanh nghiệp đều tăng lên qua các năm nhưng tốc độ tăng của doanh thulớn hơn tốc độ tăng của chi phí thì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được đánhgiá là tốt, doanh nghiệp đã biết phân bổ và sử dụng hợp lý yếu tố chi phí, bởi một phầnchi phí tăng thêm đó được doanh nghiệp mở rộng quy mô kinh doanh, đầu tư mua sắmtrang thiết bị và xây dựng cơ sở hạ tầng.v.v

- Thị phần

Thị phần sản phẩm là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất để đánh giá sức cạnhtranh của hàng hóa trên thị trường Thị phần của sản phẩm là phần trăm thị trường màsản phẩm đó chiếm lĩnh được trong một thời gian nhất định và được xác định bằngcông thức sau:

Trang 23

Chỉ tiêu này đồng thời phản ánh mức tiêu thụ của thị trường đối với hàng hóa củadoanh nghiệp và mức độ ưa thích của khách hàng đối với sản phẩm Khi một sản phẩmđược khách hàng ưa thích thì rõ ràng bản thân sản phẩm sẽ có năng lực cạnh tranh.Nếu thị phẩn của sản phẩm trên thị trường lớn và có xu hướng tăng thì đó là một dấuhiệu tốt cho thấy rằng sản phẩm đã và đang khẳng định được vị thế trên thị trường.Ngược lại, nếu chỉ tiêu này nhỏ hơn kỳ vọng của doanh nghiệp hoặc đang có xu hướnggiảm thì doanh nghiệp cần thiết phải thực hiện những chiến lược nhằm nâng cao nănglực cạnh tranh sản phẩm Còn nếu sản phẩm đã vào chu kỳ cuối của vòng đời sảnphẩm thì doanh nghiệp có thể ngưng sản xuất và chuẩn bị tung ra sản phẩm mới

- Tỷ suất lợi nhuận

Lợi nhuận là một phần dôi ra của doanh thu sau khi đã trừ đi các chi phí dùngvào hoạt động sản xuất kinh doanh Lợi nhuận được coi là một chỉ tiêu tổng hợp đánhgiá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Bởi vì nếu doanh nghiệp thu được lợi nhuậncao chắc chắn doanh nghiệp có doanh thu cao và chi phí thấp Căn cứ vào chỉ tiêu lợinhuận các doanh nghiệp có thể đánh giá được khả năng cạnh tranh của mình so với đốithủ Nếu lợi nhuận cao thì khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cao và được đánh giáhoạt động kinh doanh của doanh nghiệp rất khả quan

b Các chỉ tiêu định tính

- Uy tín, thương hiệu

Đây là chỉ tiêu có tính chất khái quát, nó bao gồm nhiều yếu tố như: chất lượngsản phẩm, các hoạt động dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp, hoạt động marketing,quan hệ của doanh nghiệp với các tổ chức tài chính, mức độ ảnh hưởng của doanhnghiệp đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp…Đó là tài sản vô hình, vô giá màdoanh nghiệp nào cũng coi trọng Nếu mất uy tín thì doanh nghiệp đó không có khảnăng cạnh tranh trên thị trường Ngược lại, nếu doanh nghiệp đó có uy tín thì góp phầntăng khả năng cạnh tranh hơn so với các đối thủ, đồng thời có thể huy động nhiềunguồn lực như vốn, nguyên liệu…

Khác với các chỉ tiêu định lượng, để đo lường được chỉ tiêu này đòi hỏi ngườiphân tích cần phải thu thập được nhiều thông tin phản hồi từ khách hàng, xem xem sựđánh giá của họ đối với các nhãn hiệu sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp như thếnào Nếu một doanh nghiệp có uy tín cao thì các sản phẩm, dịch vụ của nó cũng đượckhách hàng tín nhiệm và đánh giá cao và do đó các sản phẩm, dịch vụ của doanhnghiệp đó sẽ có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường

Trang 24

- Trình độ quản lí

Trình độ quản lý của doanh nghiệp được thể hiện thông qua năng lực của nhàquản trị, cụ thể là thể hiện ở việc đưa ra các chiến lược, hoạch định hướng đi chodoanh nghiệp Nhà quản trị giỏi phải là người giỏi về trình độ, giỏi về chuyên mônnghiệp vụ, có khả năng giao tiếp, biết nhìn nhận và giải quyết các công việc một cáchlinh hoạt và nhạy bén, có khả năng thuyết phục để người khác làm việc một cách tựnguyện và nhiệt tình Biết quan tâm, động viên, khuyến khích cấp dưới làm việc cótinh thần trách nhiệm Điều đó sẽ tạo nên sự đoàn kết giữa các thành viên trong doanhnghiệp Ngoài ra nhà quản trị còn phải là người biết nhìn xa trông rộng, vạch ra nhữngchiến lược kinh doanh trong thương trường Họ là những người có quyền lực cao nhất

và trách nhiệm thuộc về họ cũng là nặng nề nhất Họ chính là những người xác địnhhướng đi và mục tiêu cho doanh nghiệp, doanh nghiệp có phát triển bền vững haykhông, có khả năng cạnh tranh, vị thế trên thị trường so với đối thủ hay không, phụthuộc rất lớn vào trình độ quản lí của doanh nghiệp đó Vì vậy mà nhà quản trị đóngmột vai trò chủ chốt trong sự phát triển của doanh nghiệp, là một trong những chỉ tiêu

để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

- Trình độ công nghệ

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay tại Việt Nam nói riêng và tạicác nước đang phát triển nói chung, công nghệ đang trở thành một động lực của pháttriển kinh tế trong nước, cải thiện năng lực cạnh tranh trên thị trường, tham gia vàomậu dịch quốc tế và nâng cao mức sống của dân cư Một doanh nghiệp có phát triểnhay không cũng được đánh giá trên việc doanh nghiệp đó ứng dụng khoa học, côngnghệ của thời đại như thế nào trong kinh doanh

Mặc dù nắm công nghệ trong tay nhưng việc quản lý công nghệ không chỉ là vấn

đề riêng của doanh nghiệp Chính sách của nhà nước sẽ giúp các doanh nghiệp nângcao trình độ công nghệ thông qua chuyển giao công nghệ hoặc tự mình phát triển đểnâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

- Giá tri mang lại cho khách hàng

Giá trị khách hàng (customer value) là toàn bộ lợi ích mà khách hàng nhận đượcnhờ sở hữu sản phẩm/dịch vụ, nó bao gồm những lợi ích do sản phẩm/dịch vụ manglại, lợi ích do dịch vụ cộng thêm, lợi ích do hình ảnh của thương hiệu người bán, lợiích nhờ mối quan hệ cá nhân hình thành

Khi so sánh giá trị khách hàng với chi phí của khách hàng sẽ hình thành kháiniệm giá trị dành cho khách hàng Mặc dù vẫn cần thiết để cạnh tranh trong các ngànhhiện nay nhưng chất lượng đã không còn là một nguồn lợi thế cạnh tranh đủ mạnh nữa.Việc đổi mới sản phẩm và chất lượng không còn cung cấp được cơ sở cho ưu thế cạnh

Trang 25

tranh Thay vì vẫn tập trung vào những hoạt động và cơ cấu nội bộ như trước, chuyểnđổi chính về quản lý tiếp theo sẽ xảy ra khi doanh nghiệp hướng sự quan tâm nhiềuhơn ra bên ngoài đến các thị trường và khách hàng Nhất quán định hướng này là chiếnlược theo hướng cung cấp giá trị khách hàng ưu việt hơn.

1.3.2 Nguyên tắc nâng cao năng lực cạnh tranh

Năng lực cạnh tranh thể hiện ở việc làm tốt hơn với các công ty so sánh (các đốithủ) về doanh thu, thị phần, khả năng sinh lời và đạt được thông qua các hành vi chiếnlược, được định nghĩa như là một tập hợp các hành động tiến hành để tác động tới môitrường nhờ đó làm tăng lợi nhuận công ty, cũng như bằng những công cụ marketingkhác Sự cạnh tranh buộc người sản xuất phải năng động, nhạy bén, nắm bắt tốt hơnnhu cầu của người tiêu dùng, tích cực nâng cao tay nghề, thường xuyên cải tiến kỹthuật, áp dụng những tiến bộ, các nghiên cứu thành công mới nhất vào trong sản xuất,hoàn thiện cách thức tổ chức trong sản xuất, trong quản lý sản xuất để nâng cao năngsuất, chất lượng và hiệu quả kinh tế Ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độcquyền thì thường trì trệ và kém phát triển

Như vậy, việc nâng cao năng lực cạnh tranh mang lại nhiều lợi ích, đặc biệt chongười tiêu dùng Người sản xuất phải tìm mọi cách để làm ra sản phẩm có chất lượnghơn, đẹp hơn, có chi phí sản xuất rẻ hơn, có tỷ lệ tri thức khoa học, công nghệ trong đócao hơn để đáp ứng với thị hiếu của người tiêu dùng

Từ đây có thể thấy nếu cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải nâng cao năng lựccạnh tranh của mình trên thị trường là một cuộc cạnh tranh công bằng và đúng phápluật thì có thể tạo nên những ảnh hưởng sâu sắc tới không chỉ doanh nghiệp và ngườitiêu dùng trực tiếp đối với sản phẩm của doanh nghiệp đó mà còn tới toàn bộ nền kinh

tế xã hội của một quốc gia và nền kinh tế toàn cầu Nhưng cũng cần phải chú ý rằngbản thân cạnh tranh cũng chứa đựng những khuyết tật của nền kinh tế thị trường đó làviệc các doanh nghiệp luôn chạy theo lợi nhuận mà không chú trọng đến các vấn đề xãhội như tình trạng phân hoá giàu nghèo, vấn đề ô nhiễm môi trường, cạn kiệt cácnguồn tài nguyên thiên nhiên nên vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để hài hòa vớimục tiêu của toàn xã hội Bên cạnh đó là thực trạng cạnh tranh thiếu công bằng, cạnhtranh gian dối, điều này làm cho các doanh nghiệp làm ăn chân chính bị cảm thấykhông còn động lực để cạnh tranh trên thị trường, họ có thể nản lòng và như vậy cạnhtranh mất đi tác động tích cực của nó

Chính vì thế, để hướng đến một môi trường cạnh tranh lành mạnh, các doanhnghiệp nên có những cái nhìn bao quát hơn, đạo đức hơn trong kinh doanh, dựa vàonhững dữ liệu thực tế kết hợp với chiến lược kinh doanh của mình để đưa ra cho thịtrường, người tiêu dùng những sản phẩm rẻ hơn và chất lượng hơn Về phía các cơ

Trang 26

quan chức năng cần có nhưng thông tin đa chiều để giải quyết sự việc một cách thấutình, đạt lí tránh những ảnh hưởng, thiệt hại không đáng có đến cộng đồng doanhnghiệp và người tiêu dùng.

1.3.3 Chính sách nâng cao năng lực cạnh tranh

Dưới đây là 3 chính sách tổng quát mà doanh nghiệp có thể sử dụng nhằm nângcao năng lực cạnh tranh, vị thế của mình so với các đối thủ khác trong ngành

- Chính sách về giá cả (tổng chi phí thấp): Chính sách này nhằm đạt tổng chi phí

thấp so với các đối thủ khác trong ngành để tạo ra lợi thế cạnh tranh thông qua tập hợpcác chính sách nhằm tạo ra sản phẩm với chi phí thấp nhất

Đặc điểm:

+ Tập trung vào công nghệ và quản lý để giảm chi phí

+ Không tập trung vào khác biệt hóa sản phẩm

+Không đi tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu, đưa ra tính năng mới, sản phẩm mới + Nhóm khách hàng mà công ty phục vụ thường là nhóm “khách hàng trung bình”.Chính sách này giúp doanh nghiệp có mức lợi nhuận cao, bảo vệ doanh nghiệptrước các khách hàng, nhà cung cấp mạnh, tạo ra một hàng rào chống gia nhập cao,giảm sự đe doạ của các sản phẩm thay thế

Để đạt được tổng chi phí thấp, doanh nghiệp có thị phần cao, và có những lợi thếkhác như tiếp cận thuận lợi với nguồn nhiên liệu, thiết kế sản phẩm để chế tạo, dòngsản phẩm rộng để chia nhỏ chi phí, bán được sản phẩm cho các khách hàng lớn

- Chính sách về sản phẩm (đặc trưng hoá khác biệt):

Chiến lược khác biệt hoá sản phẩm hay chiến lược định vị sản phẩm và dịch vụ

là chiến lược làm khác biệt các sản phẩm và dịch vụ của công ty so với đối thủ cạnhtranh, tạo ra điểm độc đáo riêng làm sao để nó chiếm được một chỗ đặc biệt và có giátrị trong tâm trí của khách hàng Chiến lược khác biệt hoá sản phẩm đòi hỏi công typhải quyết tạo ra bao nhiêu điểm khác biệt và những điểm khác biệt nào sẽ dành chokhách hàng mục tiêu Các phương pháp khác biệt hoá sản phẩm được xây dựng trênthương hiệu, đặc tính của sản phẩm hay dịch vụ khách hàng

Đặc điểm:

+ Cho phép công ty định giá ở mức cao

+ Tập trung vào việc khác biệt hóa

+ Chia thị trường thành nhiều phân khúc khác nhau

+ Vấn đề chi phí không quan trọng

Chiến lược khác biệt hoá - nếu thực hiện thành công - là một chiến lược bềnvững giúp công ty đối phó được với 5 yếu tố cạnh tranh một cách hiệu quả, và thuđược lợi nhuận trên mức trung bình trong ngành

Ngày đăng: 15/01/2020, 19:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Tiến Cường (2012), “Một số giải pháp nâng cao năng lượng cạnh tranh của Công ty Cổ phần xây dựng năng lượng ”, luận văn Thạc sĩ Đại học Bách khoa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nâng cao năng lượng cạnhtranh của Công ty Cổ phần xây dựng năng lượng
Tác giả: Bùi Tiến Cường
Năm: 2012
2. Lê Mạnh Cường (2011), “Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty thông tin di động VMS-Mobiphone Việt Nam”, khóa luận tốt nghiệp Đại học Thăng Long Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh củacông ty thông tin di động VMS-Mobiphone Việt Nam
Tác giả: Lê Mạnh Cường
Năm: 2011
3. Phạm Văn Đoàn, Nguyễn Tiến Lịch đồng chủ biên (2004), Giáo trình “Kinh tế doanh nghiệp thương mại” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tếdoanh nghiệp thương mại
Tác giả: Phạm Văn Đoàn, Nguyễn Tiến Lịch đồng chủ biên
Năm: 2004
4. Lê Thị Hằng (2013), "Nâng cao năng lực cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ thông tin di động của các công ty viễn thông Việt Nam", luận án Tiến sỹ Đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực cạnh tranh trong cung ứng dịch vụthông tin di động của các công ty viễn thông Việt Nam
Tác giả: Lê Thị Hằng
Năm: 2013
5. Nguyễn Duy Hùng (2016), "Nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty chứng khoán Việt Nam", luận án Tiến sỹ Đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các công tychứng khoán Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Duy Hùng
Năm: 2016
6. Lê Văn Phước (2013), “ Một số giải pháp góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại Cổ phần Á Châu đến năm 2015 “ , luận văn Thạc sĩ Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp góp phần nâng cao năng lực cạnhtranh của Ngân hàng thương mại Cổ phần Á Châu đến năm 2015
Tác giả: Lê Văn Phước
Năm: 2013
7. Nguyễn Hữu Thắng (2008), “Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay” - nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanhnghiệp Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
Tác giả: Nguyễn Hữu Thắng
Nhà XB: nhà xuất bản Chínhtrị quốc gia
Năm: 2008
8. Nguyễn Đình Thọ (2009), “Một số yếu tố tạo thành năng lực động DN và giải pháp nuôi dưỡng” tại Hội thảo “Năng lực cạnh tranh động của DN” – TP.HCM, 18/04/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số yếu tố tạo thành năng lực động DN và giảipháp nuôi dưỡng"” tại Hội thảo “Năng lực cạnh tranh động của DN
Tác giả: Nguyễn Đình Thọ
Năm: 2009
9. Trần Văn Tùng (2015), “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Tổng công ty May 10 tại thị trường nội địa”, luận văn Thạc sĩ Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực cạnh tranh của Tổng công ty May 10tại thị trường nội địa
Tác giả: Trần Văn Tùng
Năm: 2015
10. ThS. Bùi Khánh Vân (2013), “Một vài suy nghĩ về nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài suy nghĩ về nâng cao năng lực cạnhtranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: ThS. Bùi Khánh Vân
Năm: 2013
13. Website Công ty Cổ phần chứng khoán Mê Kong (tháng 8 năm 2017), “Báo cáo ngành công nghệ thông tin”, truy cập ngày 23/03/2018http://images1.cafef.vn/Images/Uploaded/DuLieuDownload/PhanTichBaoCao/NganhCNTT_210817_MSC.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báocáo ngành công nghệ thông tin
17. Trần Quốc Việt (2014), “Chính sách có ảnh hưởng tới doanh nghiệp”, truy cập ngày 02/04/2018http://giaoduc.net.vn/Kinh-te/6-chinh-sach-co-anh-huong-toi-doanh-nghiep-tu-thang-82014-post148149.gd Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách có ảnh hưởng tới doanh nghiệp
Tác giả: Trần Quốc Việt
Năm: 2014
11. Báo cáo thường niên của Công ty Cổ phần MISA năm 2016, truy cập ngày 19/03/2018http://www.misa.com.vn/tin-tuc/chi-tiet/newsid/49222/MISA-to-chuc-Dai-hoi-Co-dong-thuong-nien-2016 Link
12. Báo cáo thường niên của Công ty cổ phần MISA năm 2017, truy cập ngày 20/03/2018http://www.misa.com.vn/tin-tuc/chi-tiet/newsid/56830/MISA-to-chuc-Dai-hoi-co-dong-thuong-nien-2017 Link
15. Website Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ CNTT Việt Nam, truy cập ngày 25/03/2018http://vinasa.org.vn/Default.aspx?sname=vinasa&sid=4&pageid=307516. Website Thời báo tài chính Việt Nam, truy cập ngày 03/03/2018 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w