Nghiên cứu này được thực hiện để phân tầng nguy cơ đột quỵ theo thang điểm CHA2DS2-VASc và xác định tỉ lệ sử dụng thuốc kháng đông cho bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim điều trị ngoại trú tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định.
Trang 1TÌNH HÌNH ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ THUỐC KHÁNG ĐÔNG
TRÊN BỆNH NHÂN RUNG NHỈ KHÔNG DO BỆNH VAN TIM
TRONG 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2018 TẠI BỆNH VIỆN NHÂN DÂN GIA ĐỊNH
Nguyễn Hoàng Hải*.NguyễnThanh Thảo*, Huỳnh Trung Tín**, Nguyễn Văn Sĩ**,
Phạm Phùng Phương Nguyên*
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Rung nhĩ không do bệnh van tim ngày trở nên phổ biến với gia tăng nguy cơ đột quỵ.Thuốc
kháng đông giúp phòng ngừa đột quỵ hiệu quả trên những đối tượng bệnh nhân có nguy cơ cao Các nghiên cứu trước đây cho thấy tỉ lệ sử dụng thuốc kháng đông trên nhóm bệnh nhân rung nhĩ không do van tim chưa đạt tối ưu
Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu này được thực hiện để phân tầng nguy cơ đột quỵ theo thang điểm
CHA2DS2-VASc và xác định tỉ lệ sử dụng thuốc kháng đông cho bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim điều trị ngoại trú tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định
Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu hồi cứu thực hiện từ 1/1/2018 đến 30/6/2018 Thông tin được rút
trích từ dữ liệu của các phòng khám tim mạch thuộc bệnh viện Nhân Dân Gia Định
Kết quả: 431 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu Tỉ lệ bệnh nhân có nguy cơ đột quỵ theo phân
tầngCHA2DS2-VASc bao gồm 0,9% nguy thấp, 9,5% nguy cơ trung bình và 89,5% nguy cơ cao Tỉ lệ sử dụng thuốc kháng đông là 90,5% với 48,7% là thuốc kháng vitamin K và 41,8% là thuốc kháng đông thế hệ mới
Kết luận: Đa số bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim có nguy cơ cao đột quỵ Tỉ lệ sử dụng thuốc
kháng đông trên bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định có gia tăng đáng kể
Từ khóa: Rung nhĩ không do bệnh van tim; đột quỵ; thuốc kháng đông
ABSTRACT
ANTICOAGULANT PRESCRIPTION IN NON – VALVULAR ATRIAL FIBRILLATION DURING THE FIRST SIT MONTHS OF 2018 IN OUT – PATIENT SETTINGS OF GIA DINH PEOPLÉ S HOSPITAL
Nguyen Hoang Hai, Nguyen Thanh Thao, Huynh Trung Tin, Nguyen Van Si,
Pham Phung Phương Nguyen
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 22 - No 6- 2018: 50 – 55
Background: Non-valvular atrial fibrillation is getting more prevalent with increased risk of stroke
Anticoagulant agents have preventive effects on high risk patients Previous studies showed that the rates of anticoagulant prescription were not optimal in patients having non-valvular atrial fibrillation
Objectives: This study was conducted to assess the stroke risk based on CHA2DS2-VASc stratification and
to identify the rate of anticoagulant prescription in out-patient setting of Gia Dinh People’s Hospital
Method: Retrospective study was conducted from January 1 to June 30, 2018 The data was extracted from
the database of cardiology out-patient rooms of Gia Dinh People’s Hospital
Results: 431 patients having non-valvular atrial fibrillation were collected The rates of low, moderate and
high risk of stroke were 0.9%, 9.5% and 89.5%, respectively, based on CHA2DS2-VASc score The prescription rate of anticoagulant agents was 90.5% in which vitamin K antagonist and novel oral anticoagulant rates were
* Khoa Nội Tim mạch - Bệnh viện Nhân Dân Gia Định
Tác giả liên lạc: ThS.BS Nguyễn Hoàng Hải ĐT: 0908247359 Email: bsnguyenhoanghai@gmail.com
Trang 248.7% and 41.8%, respectively
Conclusions: Most non-valvular atrial fibrillation patients have high risk of stroke The prescription of
anticoagulant agents has been increased significantly in Gia Dinh People’s Hospital
Key words: Non-valvular atrial fibrilltion; stroke; anticoagulant agents
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rung nhĩ không do bệnh van tim hiện
đang trở thành một vấn đề sức khỏe quan
trọng trên toàn thế giới Tỉ lệ hiện mắc của
rung nhĩ không do bệnh van tim là 2%, cao
gần gấp đôi thập kỷ trước và ước tính sẽ còn
gia tăng theo tuổi thọ của loài người cũng như
sự tiến bộ của nền y tế
Rung nhĩ làm tăng nguy cơ đột quỵ thiếu
máu cục bộ lên gấp 5 lần, suy tim lên gấp 3 lần,
sa sút trí tuệ và tử vong lên gấp 2 lần Rung nhĩ
không do bệnh van tim là yếu tố nguy cơ độc lập
của đột quỵ, chịu trách nhiệm cho 20% trường
hợp đột quỵ nói chung và là nguyên nhân của
hơn 50% các trường hợp đột quỵ có nguồn gốc
từ tim
Để phòng ngừa đột quỵ liên quan đến rung
nhĩ, thuốc chống huyết khối có vai trò quan
trọng, trong đó nổi bật là thuốc kháng đông đã
được chứng minh: giảm 62% nguy cơ đột quỵ,
26% tử vong do đột quỵ và giảm 33% tử vong do
mọi nguyên nhân Thang điểm CHA2DS2-VASc
được khuyến cáo sử dụng để phân tầng nguy cơ
đột quỵ và định hướng sử dụng thuốc chống
huyết khối ở bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh
van tim(5)
Các nghiên cứu đời thực cho thấy tỉ lệ sử
dụng kháng đông cho bệnh nhân rung nhĩ
không do van tim chưa đạt tối ưu Riêng ở Bệnh
viện Nhân Dân Gia Định, tỉ lệ sử dụng thuốc
kháng đông có khuynh hướng gia tăng theo thời
gian nhưng vẫn còn thấp (13% - 40%) theo các
nghiên cứu trước đây(7,8)
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Khảo sát tình hình điều trị ngoại trú thuốc
kháng đông trên bệnh nhân rung nhĩ không do
bệnh van tim tại Bệnh viện Nhân Dân Gia Định
trong 6 tháng đầu năm 2018
Mục tiêu chuyên biệt
Phân tầng nguy cơ đột quỵ theo thang điểm CHA2DS2-VASc
Xác định tỉ lệ sử dụng thuốc kháng đông trong điều trị phòng ngừa đột quỵ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu: Hồi cứu
Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim điều trị ngoại trú tại các phòng khám tim mạch thuộc bệnh viện Nhân Dân Gia Định từ 1/1/2018 đến 30/6/2018
Tiêu chuẩn chọn bệnh
Bệnh nhân ≥ 18 tuổi được chẩn đoán là rung nhĩ
Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân có hẹp van hai lá, sửa van hai lá hoặc có van tim nhân tạo
Bệnh nhân có chỉ định khác của thuốc kháng đông
Cỡ mẫu
Cỡ mẫu được tính theo công thức:
N = Z21-α/2.p.(1-p)/d2 Z: tham số lấy từbảng phân bốchuẩn; α: xác suất sai lầm loạiI, chọn α = 0.05 nên Z = 1,96 d: sai số cho phép; d=0,05
p: tỷ lệ sử dụng thuốc kháng đông cho bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim theo tác giả Nguyễn Thanh Phương (2018)(6); p = 0,9
Do đó, N ≥ 138
Phương pháp thu thập số liệu
Thông tin được rút trích tại Trung tâm công nghệ thông tin từ cơ sở dữ liệu khám bệnh của các phòng khám tim mạch thuộc bệnh viện Nhân Dân Gia Định, bao gồm: Phòng khám 112, phòng khám dịch vụ tim mạch, phòng khám tim mạch Nơ Trang Long và phòng khám tại khoa
Trang 3Nội tim mạch Nội dung rút trích bao gồm: Mã
số khám bệnh, tuổi, giới tính, chẩn đoán và toa
thuốc điều trị
Chẩn đoán đầy đủ nhất trong các lần khám
của bệnh nhân được sử dụng để xét tiêu chuẩn
chọn vào và tiêu chuẩn loại trừ Thông tin toa
thuốc mới nhất được sử dụng nếu bệnh nhân có
nhiều lần tái khám
Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm Excel 2010 để nhập liệu
và xử lý số liệu bằng phần mềm Stata 12,0
KẾT QUẢ
Trong khoảng thời gian từ 1/1/2018 đến
30/6/2018, có 431 bệnh nhân rung nhĩ không do
bệnh van tim đến khám tại các phòng khám nội
tim mạch thuộc bệnh viện Nhân Dân Gia Định
Đặc điểm dân số nghiên cứu
Bảng 1: Đặc điểm về tuổi
Trung bình
Độ lệch chuẩn
Lớn nhất
Nhỏ nhất
Tuổi (năm) 70,1 11,1 98 25
Bảng 2: Đặc điểm về giới tính
Nam N (%) Nữ N (%)
Giới 197 (45,7) 234 (54,3)
Phân tầng nguy cơ đột quỵ theo CHA2DS2-VASc
Bảng 3: Tỉ lệ các yếu tố nguy cơ của đột quỵ theo
thang điểm CHA2DS2-VASc
Yếu tố nguy cơ N (%)
Suy tim sung huyết 110 (25,5)
Tăng huyết áp 353 (81,9)
Tuổi ≥ 75 152 (35,3)
Đái tháo đường 76 (17,6)
Đột quỵ 15 (3,5)
Bệnh động mạch 8 (1,9)
Tuổi ≥ 65 (< 75) 147 (34,1)
Giới tính nữ 134 (54,3)
Bảng 4: Phân tầng nguy cơ đột quỵ theo CHA2DS2-VASc
Nguy cơ Điểm N (%)
Thấp 0 4 (0,9) 4 (0,9)
Trung bình 1 41 (9,5) 41 (9,5)
Cao
2 131 (30,4)
386 (89,5)
3 121 (28,1)
4 85 (19,7)
5 39 (9,1)
6 9 (2,1)
Nguy cơ Điểm N (%)
7 1 (0,2)
Bảng 5: Điểm CHA2DS2-VASc
Trung bình Độ lệch
chuẩn
Lớn nhất Nhỏ nhất
Điểm 2,9 1,2 7,0 0
Tình hình sử dụng thuốc kháng đông
Bảng 6: Tỉ lệ sử dụng thuốc chống huyết khối
Thuốc kháng vitamin K 200 (46,4) Thuốc kháng đông thế hệ mới 174 (40,4) Thuốc kháng tiểu cầu 19 (4,4) Phối hợp thuốc kháng đông và thuốc kháng
tiểu cầu
16 (3,7)
Không sử dụng 22 (5,1)
Bảng 7: Loại thuốc kháng đông sử dụng
Thuốc kháng vitamin K 210 (48,7) Thuốc kháng đông thế hệ mới 180 (41,8)
Tổng 390 (90,5)
Chú thích
- Trong 16 bệnh nhân sử dụng phối hợp thuốc kháng đông
và thuốc kháng tiểu cầu có 10 bệnh nhân dùng thuốc kháng vitamin K và 6 bệnh nhân dùng thuốc kháng đông thế hệ mới
- Tỉ lệ phần trăm tính trên tổng số bệnh nhân
- Thuốc kháng đông thế hệ mới bao gồm dabigatran và
rivaroxaban
Bảng 8: Tình hình sử dụng thuốc kháng đông theo
phân tầng nguy cơ CHA2DS2-VASc
Nguy cơ Không dùng
N (%)
Có dùng
N (%)
Cao 32 (8,3) 354 (92,7) Trung bình 7 (16,3) 36 (83,7) Thấp 2 (100) 0 (0)
Chú thích
Tỉ lệ phần trăm tính riêng cho từng nhóm nguy cơ
Một số chẩn đoán được ghi nhận trong nhóm không sử dụng thuốc kháng đông có thể
có liên quan đến chống chỉ định điều trị bao
gồm: xuất huyết phụ khoa (2 trường hợp), xuất huyết bàng quang (1 trường hợp), xơ gan (1
trường hợp), giảm tiểu cầu (3 trường hợp)
BÀN LUẬN Đặc điểm dân số nghiên cứu
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tuổi trung bình của các bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh
Trang 4van tim là 70,1 ± 11,1 Kết quả này tương đồng
với nghiên cứu khác của tác giả Nguyễn Văn Sĩ
(2011) nhưng lại cao hơn tác giả Nguyễn Xuân
Tuyến (2015) cũng tại bệnh viện Nhân Dân Gia
Định và cao hơn so với tác giả Nguyễn Thanh
Phương (2018), thực hiện khảo sát tại bệnh viện
Chợ Rẫy(6,8,9) Sự khác biệt có thể do cách lấy mẫu
tại nội viện hay ngoài phòng khám và tính đặc
thù của từng địa điểm lấy mẫu Với ưu thế về số
lượng người tham gia so với các nghiên cứu
khác, chúng tôi nhận định bệnh nhân rung nhĩ
không do bệnh van tim có tuổi trung bình cao
với hơn 2/3 dân số có tuổi ≥ 65
Tuổi cao là một trong những yếu tố nguy cơ
quan trọng của đột quỵ trên bệnh nhân rung nhĩ
Bệnh nhân lớn tuổi rất thường có các bệnh đồng
mắc như tăng huyết áp, đái tháo đường và suy
tim vốn dĩ làm tăng nặng thêm nguy cơ đột quỵ
Ngược lại, tuổi cao cũng là một yếu tố nguy cơ
chính của biến chứng xuất huyết khi sử dụng
thuốc kháng đông Tuy nhiên, lợi ích về phòng
ngừa đột quỵ của thuốc kháng đông trên bệnh
nhân lớn tuổi vượt trội hơn so với bất lợi liên
quan đến xuất huyết Chính vì vậy, tuổi cao đơn
thuần không nên được xem là yếu tố cản trở việc
điều trị phòng ngừa bằng thuốc kháng đông
Dân số nghiên cứu của chúng có tỉ lệ nữ giới
cao hơn so với nam giới Nghiên cứu của tác giả
Bùi Thúc Quang (2013), tác giả Nguyễn Xuân
Tuyến (2015)và tác giả Nguyễn Thanh Phương
(2018) cho kết quả ngược lại với nam giới chiếm
ưu thế(1,7,9) Nếu nhận định dựa trên tuổi tác, tuổi
trung bình cao trong dân số của chúng tôi có thể
giải thích sự khác biệt về kết quả phân bố giới
tính Nữ giới có tuổi thọ cao hơn nam giới và
rung nhĩ có gia tăng tỉ suất hiện mắc tích lũy
theo thời gian Giới tính nữ là một yếu tố đã
được chứng minh có liên quan đến nguy cơ đột
quỵ ở bệnh nhân rung nhĩ Như vậy, xét về mặt
đặc điểm dân số, những bệnh nhân rung nhĩ
không do bệnh van tim tại bệnh viện Nhân Dân
Gia Định đa số đều có tăng nguy cơ đột quỵ xét
theo tuổi và giới tính
Phân tầng nguy cơ đột quỵ theo CHA2DS2-VASc
Bên cạnh yếu tố tuổi và giới tính nữ, nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận tăng huyết
áp (81,9%) và suy tim sung huyết (25,5%) là hai yếu tố nguy cơ thường gặp liên quan đến đột quỵ trên bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim Các tác giả khác cũng đề cập đến sự xuất hiện phổ biến của hai tình trạng này tuy nhiên với tỉ lệ có thấp hơn đối với tăng huyết áp và cao hơn đối với suy tim(6,8,9) Sự khác biệt có thể do đặc điểm dân số cũng như
về cách thiết kế nghiên cứu
Đa số dân số của nghiên cứu của chúng tôi
có nguy cơ cao đột quỵ dựa theo phân tầng CHA2DS2-VASc với tỉ lệ là 89,5% Một nghiên cứu gần đây của tác giả Nguyễn Thanh Phương (2018) thực hiện tại bệnh viện Chợ Rẫy cũng cho kết quả tương tự là 84%(6) Các nghiên cứu nước ngoài cũng đều cho thấy tỉ lệ bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim có nguy cơ cao đột quỵ đều trên 80%(4) Do đó, các bác sĩ lâm sàng cần lưu tâm đến chỉ định thuốc kháng đông trên nhóm đối tượng bệnh nhân này
Do giới hạn của thiết kế nghiên cứu nên chúng tôi không thể khảo sát được đầy đủnguy
cơ xuất huyết khi sử dụngthuốc kháng đông nhưng có thể nhận định sơ khởi nguy cơ này không hề thấp Những bệnh nhân của chúng tôi
có tuổi trung bình cao và hầu hết có tăng huyết
áp Đây là hai yếu tố nguy cơ quan trọng của xuất huyết liên quan đến thuốc kháng đông Việc cân nhắc điều trị trên lâm sàng là cần thiết dựa vào đánh giá cụ thể trên từng bệnh nhân
Tình hình sử dụng thuốc kháng đông
Trong 6 tháng đầu năm 2018, 94.9% bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim của chúng tôi được chỉ định thuốc chống huyết khối với 90,5% sử dụng thuốc kháng đông Kết quả này rất khác biệt so với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Sĩ (2011)và tác giả Nguyễn Xuân
Trang 5Tuyến (2015) cũng thực hiện tại bệnh viện Nhân
Dân Gia Định(7,8) Có thể nhận thấy được khuynh
hướng gia tăng rõ rệt trong chỉ định sử dụng
thuốc kháng đông (Bảng9)
Bảng 9: Tỉ lệ sử dụng thuốc kháng đông trên bệnh
nhân rung nhĩ không do bệnh van tim tại bệnh viện
Nhân Dân Gia Định qua các thời kỳ
Nguyễn Văn Sĩ
(2011)
Nguyễn Xuân Tuyến (2015)
Chúng tôi (2018)
Tỉ lệ 13% 40% 90,5%
Vai trò của khuyến cáo thực hành lâm sàng
cũng như sự cập nhật thông tin điều trị có thể
giải thích cho hiện tượng này Cụ thể, khuyến
cáo của Trường môn tim mạch Hoa Kỳ/Hội tim
Hoa Kỳ/Hội tim châu Âu năm 2006 và bản cập
nhật năm 2011 đề nghị sử dụng thang điểm
CHADS2 (Suy tim sung huyết, tăng huyết áp,
tuổi ≥ 75, đái tháo đường và đột quỵ/cơn
thoáng thiếu máu não trước đó) cho phân tầng
nguy cơ đột quỵ đối với rung nhĩ không do bệnh
van tim(2,3) Thang điểm CHADS2 tuy đơn giản
nhưng lại dễ bỏ sót các đối tượng nguy cơ cao
cần sử dụng thuốc kháng đông do không đề cập
đến một số yếu tố nguy cơ quan trọng khác của
đột quỵ Thang điểm CHA2DS2-VASc có bổ
sung thêm bệnh lý mạch máu, giới tính nữ và
phân tầng tuổi chi tiết hơn So sánh hai thang
điểm với nhau, thang điểm CHA2DS2-VASc
giúp xác định các đối tượng có nguy cơ thực sự
thấp và phân tầng chính xác hơn các bệnh nhân
có nguy cơ cao đột quỵ(10) Thang điểm
CHA2DS2-VASc hiện được khuyến cáo sử dụng
trong các hướng dẫn dẫn thực hành lâm sàng(6)
Vị trí của thuốc kháng tiểu cầu cũng được đề cao
khiến bác sĩ lâm sàng dễ dàng thay thế cho thuốc
kháng đông với kỳ vọng là sẽ giảm biến chứng
xuất huyết Cho đến những năm sau, vai trò của
thuốc kháng đông được chứng minh rõ ràng dẫn
đến sự thay đổi về khuyến cáo điều trị Khi so
sánh hiệu quả và tính an toàn giữa thuốc kháng
đông và thuốc kháng tiểu cầu, thuốc kháng đông
giúp giảm nguy cơ thuyên tắc nhiều hơn trong
khi biến chứng chảy máu lại không khác biệt so
với thuốc kháng tiểu cầu(11) Hiện nay, thuốc
kháng đông được sử dụng cho các đối tượng có nguy cơ trung bình trở lên (CHA2DS2-VASc ≥
1 điểm) trong khi thuốc kháng tiểu cầu chỉ giới hạn trong nhóm nguy cơ thấp hoặc thậm chí không có chỉ định(6)
Sự lựa chọn loại thuốc kháng đông cũng là vấn đề đáng lưu tâm Thuốc kháng đông nhóm kháng vitamin K vốn là điều trị kinh điển nhưng
có nhiều bất lợi liên quan đến cách sử dụng thuốc như chỉnh liều khó khăn, tương tác thuốc phúc tạp, ảnh hưởng từ chế độ ăn và vấn đề theo dõi INR Các thuốc kháng đông thế hệ mới ra đời đã giải quyết được hầu hết các nhược điểm trên Hơn thế nữa, thuốc kháng đông thế hệ mới như dabigatran và rivaroxaban còn có những thử nghiệm lâm sàng thuyết phục chứng minh hiệu quả và tính an toàn vượt hơn thuốc kháng vitamin K Do vậy, khuyến cáo điều trị hiện tại đều ưu tiên sử dụng thuốc kháng đông thế hệ mới trong phòng ngừa đột quỵ trên đối tượng bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim(6) Nghiên cứu của chúng tôi có tỉ lệ sử dụng kháng đông thế hệ mới là 41%, thấp hơn so với kết quả của tác giả Nguyễn Xuân Tuyến (2015) và tác giả Nguyễn Thanh Phương (2018)(6,8) Không thể loại trừ sự ảnh hưởng nguồn thuốc lưu hành vào thời điểm kê toa hoặc danh mục thuốc có trong bảo hiểm y tế liên quan đến vấn đề này Chi phí điều trị cao cho thuốc kháng đông thế hệ mới cũng hạn chế chỉ định từ bác sĩ lâm sàng
Chúng tôi ghi nhận có 8,3% bệnh nhân nhóm nguy cơ cao đột quỵ không được chỉ định kháng đông Tỉ lệ này là 6% trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Phương (2018)(7) Nghiên cứu của chúng tôi không nhằm mục tiêu khảo sát lý
do hoãn điều trị kháng đông nhưng khi xem xét lại chẩn đoán, chúng tôi ghi nhận có 7 trường hợp có nguy cơ hoặc đang xảy ra chảy máu Mối quan ngại về biến chứng xuất huyết luôn là cản trở lớn nhất cho chỉ định thuốc kháng đông theo các khảo sát khác Ngoài ra, cũng chưa loại trừ được các yếu tố khác như sự lựa chọn của bệnh nhân và quan điểm của bác sĩ điều trị đối với
“vùng xám” CHA2DS2-VASc = 2 điểm ở bệnh
Trang 6nhân nữ(10)
Tóm lại, khảo sát 6 tháng đầu năm 2018 về
vấn đề sử dụng thuốc chống huyết khối ở khu
vực các phòng khám tim mạch của bệnh viện
Nhân Dân Gia Định cho thấy sự gia tăng tích cực
về chỉ định thuốc kháng đông cho bệnh nhân
rung nhĩ không do bệnh van tim Kết quả này
cũng đồng bộ với các bệnh viện tuyến đầu khác
chứng tỏ chất lượng điều trị phòng ngừa đột
quỵ liên quan đến rung nhĩ không do bệnh van
tim được nâng cao một cách có hệ thống Nghiên
cứu này là tiền đề cho các nghiên cứu quy mô
hơn về cỡ mẫu và thiết kế nghiên cứu nhằm
đánh giá một cách chính xác nguy cơ đột quỵ,
nguy cơ chảy máu, sự tương hợp với khuyến cáo
điều trị và các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ định
thuốc kháng đông
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bùi Thúc Quang (2013) “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, siêu
âm doppler tim và siêu âm tim qua thực quản ở bệnh nhân
rung nhĩ mạn tính không có bệnh van tim” Luận án tiến sĩ y học,
Viện nghiên cứu khoa học y dược lâm sàng 108
2 Fuster V, Rydén LE, Cannom DS et al (2006) “ACC/AHA/ESC
2006 guidelines for the management of patients with atrial
fibrillation executive summary: a report of the American
College of Cardiology/American Heart Association Task Force
on Practice Guidelines and the European Society of Cardiology
Committee for Practice Guidelines (Writing Committee to
Revise the 2001 Guidelines for the Management of Patients With
Atrial Fibrillation)” Journal of the American College of Cardiology,
58, trang 854-906
3 Fuster V, Rydén LE, Cannom DS et al (2011) “ACCF/AHA/HRS
focused updates incorporated into the ACC/AHA/ESC 2006
guidelines for the management of patients with atrial
fibrillation: a report of the American College of Cardiology
Foundation/American Heart Association Task Force on practice
guidelines”, Circulation, 123, trang e269-367
4 Huisman MV, Rothman KJ, Paquette M et al (2017) “The Changing Landscape for Stroke Prevention in AF: Findings
From the GLORIA-AF Registry Phase 2” Journal of the American
College of Cardiology, 69, trang 777-785
5 Kirchhof P, Benussi S, Kotecha D et al (2016) “ESC Guidelines for the management of atrial fibrillation developed in
collaboration with EACTS“ European Journal of Cardio-Thoracic
Surgery, 50, trang e1-e88
6 Nguyễn Thanh Phương (2018) “Khảo sát tình hình sử dụng thuốc chống huyết khối trên bệnh nhân rung nhĩ không do
bệnh van tim” Luận văn chuyên khoa II, Đại học y dược thành
phố Hồ Chí Minh
7 Nguyễn Văn Sĩ (2011) “Khảo sát tình hình sử dụng thuốc chống huyết khối theo thang điểm CHADS2 trên bệnh nhân rung nhĩ
không do bệnh lý van tim” Luận văn tốt nghiệp bác sĩ nội trú, Đại
học y dược thành phố Hồ Chí Minh
8 Nguyễn Xuân Tuyến (2015) “Khảo sát tình hình sử dụng thuốc chống huyết khối bằng thang điểm CHA2DS2-VASc và nguy cơ xuất huyết bằng thang điểm HAS-BLED ở bệnh nhân rung nhĩ
không do bệnh lý van tim” Luận văn chuyên khoa II, Đại học y
dược thành phố Hồ Chí Minh
9 Nielsen PB, Skjøth F, Overvad TF et al (2018) “Female Sex Is a Risk Modifier Rather Than a Risk Factor for Stroke in Atrial Fibrillation: Should We Use a CHA2DS2-VA Score Rather Than
CHA2DS2-VASc?” Circulation, 137, trang 832-840
10 Odum LE, Cochran KA, Aistrope DS et al (2012) “The CHADS₂versus the new CHA2DS2-VASc scoring systems for guiding antithrombotic treatment of patients with atrial fibrillation: review of the literature and recommendations for
use” Pharmacotherapy, 32, trang 285-286
11 Zhang JT, Chen KP, Zhang S (2015) “Efficacy and safety of oral anticoagulants versus aspirin for patients with atrial fibrillation:
a meta-analysis” Medicine (Baltimore), 94, trang e409
12 Zoni-Berisso M, Lercari F, Carazza T et al (2014) “Epidemiology
of atrial fibrillation: European perspective” Clinical Epidemiology, 6, trang 213
Ngày phản biện nhận xét bài báo: 09/07/2018 Ngày bài báo được đăng: 10/11/2018.