Bài viết trình bày việc nhận xét tình trạng nhiễm khuẩn vết thương trước và sau khi sử dụng dung dịch/kem betaine 0,1% - polyhexanide 0,1%.
Trang 1NHẬN XÉT HIỆU QUẢ DIỆT KHUẨN CỦA DUNG DỊCH/KEM BETAINE 0,1% – POLYHEXANIDE 0,1% TRONG CHĂM SÓC VẾT THƯƠNG MẠN TÍNH TẠI BỆNH
VIỆN TRƯNG VƯƠNG
Phạm Trịnh Quốc Khanh*
TÓM TẮT
Mục tiêu: Nhận xét tình trạng nhiễm khuẩn vết thương trước và sau khi sử dụng dung dịch/kem betaine
0,1% - polyhexanide 0,1%
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả hàng loạt ca; tiến hành làm sạch mô hoại tử (nếu có) và cấy
dịch vùng mô viêm loét mạn tính; sử dụng dung dịch/kem betaine 0,1%- polyhexanide 0,1% (Prontosan) rửa vết thương và thay băng thường quy, cấy lại dịch vết thương sau 4-7 ngày sử dụng dung dịch trên
Kết quả: điều trị 30 bệnh nhân (14 nữ) gồm 18 ca loét bàn chân đái tháo đường, 7 ca vết thương cấp tính
chuyển mạn, 5 ca viêm mô tế bào Kết quả cho thấy bệnh nhân hoàn toàn không cảm thấy đau hơn khi đắp hoặc rửa vết thương bằng Prontosan; không ghi nhận trường hợp nào bị kích ứng da hoặc dị ứng Kết quả cấy khuẩn trước khi sử dụng Prontosan: 6 trường hợp cấy khuẩn âm tính; 24 trường hợp cấy khuẩn (+), bao gồm các chủng Staphylococcus epidermidis, Pseudomonas aeruginosa, Staphylococcus aureus, Enterococcus faecalis, Proteus mirabilis, Escherichia coli Sau sử dụng Prontosan 4-7 ngày: 6/6 trường hợp cấy khuẩn âm tính trước đó có kết quả cấy lần 2 âm tính; chỉ còn lại 5/24 trường hợp cấy khuẩn (+) trước đó có kết quả cấy lần 2 (+), các vi khuẩn cấy được là Staphylococcus aureus, Pseudomonas aeruginosa, Enterococcus faecalis Các vết thương có độ xuất tiết dịch vừa phải; mô hạt tiến triển thuận lợi
Kết luận: dung dịch/kem betaine 0,1%- polyhexanide 0,1% hiệu quả trong ngăn ngừa cũng như điều trị
nhiễm khuẩn vết thương mạn tính; qua đó, giúp cho tiến trình lên mô hạt diễn tiến thuận lợi
Từ khóa: dung dịch/kem betaine 0,1%- polyhexanide 0,1%, vết thương mạn tính, cấy khuẩn
REMARKS ON BACTERICIDAL EFFECTS OF BETAINE 0.1% – POLYHEXANIDE SOLUTION/GEL IN
CHRONIC WOUND CARE AT TRUNG VUONG HOSPITAL
Pham Trinh Quoc Khanh * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 20 - No 5 - 2016: 31 - 35
ABSTRACT
Objective: Reviewing the status of infectious wounds before and after using solution/gel betaine 0.1%-
0.1% polyhexanide
Methods: descriptive study; debridement (if any) and 1 st culture of wound exudates; wound cleansings and dressings with solution/gel betaine 0.1%- 0.1% polyhexanide (Prontosan), 2 nd culture of wound exudates after 4-7 days of using that solution/gel
Results: 30 patients (14 women) compose of 18 diabetic foot ulcers, 7 retarded wounds, and 5 cellulitis
Results showed that patients do not completely feel the pain when dressings with Prontosan; not any cases of skin irritation or allergic reactions Results of 1 st bacterial culture before using Prontosan: 6 cases of negative resultat,
24 positive cases, including Staphylococcus epidermidis, Pseudomonas aeruginosa, Staphylococcus aureus, Enterococcus faecalis, Proteus mirabilis, Escherichia coli After 4-7 days of using Prontosan: 6/6 cases previously had 1 st negative cultures that had negative results of 2 nd cultures; there is only 5/24 cases having 1 st positive results
* Khoa Bỏng- Tạo hình Thẩm mỹ, Bệnh viện TrưngVương
Trang 2that have 2 nd positive results: Staphylococcus aureus, Pseudomonas aeruginosa, and Enterococcus faecalis The wound exudates are moderate; the development of granulation tissue is progressively facilitated
Conclusion: solution/gel betaine 0.1%- 0.1% polyhexanide has effects in preventing and treating chronic
wound infections; thereby, the process of granulation tissue is progressively facilitated
Keywords: solution/gel betaine 0.1% - 0.1% polyhexanide, chronic wounds, culture.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Vết thương mạn tính luôn là thách thức đối
với các bác sĩ ngoại khoa và nội khoa(1) Vấn đề
nhiễm khuẩn trong vết thương mạn tính góp
phần làm chậm tiến trình lành vết thương(3) Do
đó, một trong những yếu tố quan trọng của điều
trị vết thương mạn tính là phải loại bỏ yếu tố
nhiễm khuẩn tại chỗ vết thương Theo các
nghiên cứu nước ngoài, dung dịch/kem betaine
0,1% - polyhexanide 0,1% đã được ghi nhận có
khả năng phân hủy màng sinh học vi khuẩn và
ngăn cản sự hình thành màng sinh học vi khuẩn
trên vết thương mạn tính giúp cho quá trình
lành vết thương diễn tiến thuận lợi(8)(2)(9) Tuy
nhiên, tại Việt Nam, khả năng diệt vi khuẩn
khuẩn của dung dịch/kem betaine 0,1% -
polyhexanide 0,1% chưa được nghiên cứu nhiều
tại Việt Nam
Tại Bệnh viện Trưng Vương trong hai
năm qua, chúng tôi ghi nhận hơn 500 trường
hợp có vết thương mạn tính cũng như các tổn
thương hoại tử mô mềm Chính vì vậy chúng
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nhận xét hiệu
quả diệt khuẩn của dung dịch/kem betaine 0,1% –
polyhexanide 0,1% trong chăm sóc vết thương
mạn tính tại bệnh viện Trưng Vương” nhằm
giúp bác sĩ có thêm một chọn lựa cho điều trị
vết thương mạn tính cũng như các tổn thương
hoại tử mô mềm
Mục tiêu nghiên cứu
Nhận xét tình trạng nhiễm khuẩn vết
thương trước và sau khi sử dụng dung
dịch/kem betaine 0,1% - polyhexanide 0,1%
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu:
Mô tả hàng loạt ca
Đối tượng nghiên cứu
30 bệnh nhân có vết thương mạn tính mới nhập viện hoặc chuyển từ các khoa khác đến khoa Bỏng - Tạo hình Thẩm mỹ
Tiêu chuẩn chọn bệnh:
Bệnh nhân có vết thương mạn tính +/- mô hoại tử, chưa được sử dụng dung dịch/kem betaine 0,1% – polyhexanide 0,1% điều trị trước đó
Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân dị ứng dung dịch/kem betaine 0,1% – polyhexanide 0,1% hoặc không đồng ý tham gia nghiên cứu
Kỹ thuật thực hiện
Trang thiết bị
Dụng cụ thay băng thường quy, Dụng cụ cấy khuẩn,
Dung dịch/kem betaine 0,1% – polyhexanide 0,1% do công ty B.Braun sản xuất với tên gọi Prontosan, đã được Hiệp Hội Thuốc và Thực phẩm Hoa Kỳ công nhận và được Bộ Y tế Việt Nam cho phép sử dụng rộng rãi
Các bước tiến hành
Chọn lựa vết thương phù hợp với tiêu chuẩn chọn bệnh
Thực hiện đánh giá lâm sàng, loại bỏ mô hoại tử và cấy khuẩn, lấy các biến số cần thu thập
Tiến hành thay băng với dung dịch/kem betaine 0,1% – polyhexanide 0,1%: ghi nhận các chỉ số và thực hiện các xét nghiệm theo các biến
số cần thu thập
Theo dõi và ghi nhận các biến số trong thời gian chăm sóc vết thương và thực hiện cấy khuẩn sau 4-7 ngày sử dụng Prontosan
Trang 3Các biến số thu thập
Tuổi, giới, bệnh nền
Phân loại vết thương
Tình trạng nhiễm khuẩn vết thương trước
sử dụng dung dịch/kem betaine 0,1% –
polyhexanide 0,1%: cấy dịch vết thương
Kết quả tại chỗ sau điều trị
+ Khảo sát cảm giác đau chủ quan của bệnh
nhân khi sử dụng Prontosan
+ Khảo sát tình trạng nhiễm khuẩn sau
điều trị 4-7 ngày: dựa vào kết quả cấy dịch vết
thương
+ Khảo sát tình trạng vết thương: xuất tiết,
mùi, màu sắc
+ Khảo sát đặc điểm mô hạt
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU– BÀN LUẬN
Đặc điểm nhóm nghiên cứu
30 bệnh nhân
Tuổi
Tuổi trung bình: 54,07 tuổi; trẻ nhất: 21 tuổi,
cao tuổi nhất: 89 tuổi Việt Nam là một nước
đang phát triển, đời sống người dân ngày càng
được nâng cao, tuổi thọ trung bình cũng tăng
lên kéo theo mô hình bệnh tật thay đổi; kèm
theo đó là các bệnh lý ở người lớn tuổi: tăng
huyết áp, tiểu đường…, cũng như các biến
chứng của các bệnh lý trên: vết thương mạn
tính Nhóm bệnh nhân nghiên cứu của chúng
tôi cũng nằm trong quy luật trên, phù hợp với
nghiên cứu của tổ chức y tế thế giới, ngoài
những vấn đề của các bệnh lý mạn tính, tình
trạng nhiễm khuẩn cũng chiếm tỉ lệ cao trong
mô hình bệnh tật nói chung
Giới
16 nam/14 nữ Nam và nữ chiếm tỉ lệ tương
đương
Về loại vết thương
Tình hình mắc bệnh đái tháo đường ở Việt
Nam đã và đang có chiều hướng gia tăng
nhanh chóng ở hầu khắp mọi miền của cả
nước, đặc biệt là tại các thành phố lớn và khu công nghiệp Theo Tổ chức Y tế thế giới và Liên đoàn Đái tháo đường, Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ gia tăng bệnh đái tháo đường nhanh nhất thế giới Rất nhiều người bệnh và gia đình cũng như các cơ sở y
tế đang phải chịu những gánh nặng về kinh tế cho chi phí rất lớn trong điều trị căn bệnh này Tại Việt Nam, trong 10 năm qua, số bệnh nhân mắc đái tháo đường đã tăng đến 211% với gần 5 triệu người mắc và cứ 10 ca thì có 6
ca được chuẩn đoán có biến chứng Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với các nhận định trên đa số (18 vết thương) vết thương/bệnh nhân đái tháo đường; ngoài ra,
là 5 vết thương cấp tính chậm liền, 7 trường hợp viêm mô tế bào
Mô hoại tử ở bề mặt vết thương mạn tính là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển(1)
Mô hoại tử cần được loại bỏ sớm để tiến trình lành vết thương diễn ra thuận lợi Trong lô nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận được 9 vết thương có mô hoại tử cần cắt làm sạch trước khi
sử dụng Prontosan
Kết quả đánh giá
Cảm giác đau, kích ứng da, dị ứng: những tiêu chí cần có của dung dịch/kem rửa vết thương là không gây đau thêm cho bệnh nhân, không gây kích ứng da, cũng như không gây dị ứng cho bệnh nhân Kết quả ghi nhận của chúng tôi cho thấy bệnh nhân hoàn toàn không cảm thấy đau hơn khi đắp hoặc rửa vết thương bằng Prontosan; chúng tôi cũng không ghi nhận trường hợp nào bị kích ứng da hoặc dị ứng; điều này chứng tỏ Prontosan an toàn khi sử dụng Kết quả trên cũng phù hợp với ghi nhận của Lenselink E., Andriessen A., đây là chất thích hợp tuyệt hảo cho mô, không gây độc tế bào, không kích ứng, không gây đau(7) Chỉ có hai ca dị ứng được báo cáo; trong đó, một ca chỉ được suy đoán dị ứng polyhexanide dựa trên bệnh sử đơn thuần, một ca được chẩn đoán dị ứng với polyhexanide thông qua việc việc xác định chất trung gian chuyển hóa viêm IgE;
Trang 4trong khi đó, dị ứng với các chất sát khuẩn khác
được biết rõ qua việc xác định chất trung gian
chuyển hóa viêm IgE(4) Chưa có một nghiên cứu
nào về yếu tố quyết định dị ứng của
polyhexanide được thực hiện(6,7)
Cấy khuẩn
Trước khi sử dụng Prontosan
6 trường hợp cấy khuẩn âm tính 24 trường
hợp cấy khuẩn (+), bao gồm các chủng
Staphylococcus epidermidis, Pseudomonas
aeruginosa, Staphylococcus aureus, Enterococcus
faecalis, Proteus mirabilis, Escherichia coli Trong
quá trình liền vết thương, nhiễm khuẩn là biến
chứng nặng và hay gặp, làm chậm quá trình liền
vết thương; nguồn nhiễm khuẩn có thể xuất
phát từ môi trường xung quanh hoặc tại chỗ tổn
thương; các nội độc tố, ngoại độc tố và các men
do vi khuẩn tiết ra ở tổn thương có ảnh hưởng
tại chỗ và toàn thân(3) Về chủng loại vi khuẩn,
theo Christian Échinard, Jacques Latarjet (1995),
các vi khuẩn thường gặp thuộc nhóm Gram (+)
là Staphylococcus epidermidis và Streptococcus
nhóm D; các vi khuẩn thuộc nhóm Gram (-)
thường gặp là Pseudomonas aeruginosa,
Enterobacteries và Acinetobacter Theo Charles
Marks (1997), tác nhân chủ yếu dẫn đến nhiễm
trùng tại chỗ vết thương và nhiễm trùng toàn
thân là Pseudomonas aeruginosa và Staphylococcus
aureus Theo Anturson M.G (2002), các chủng vi
khuẩn thường gặp trong bỏng là Staphylococcus
aureus, các loài thuộc chủng Streptococcus,
Pseudomonas aeruginosa Theo Cynthia Villarreal
và cộng sự (2002), ở thập kỷ 1990-1999, tác nhân
Gram (+) chiếm tỉ lệ vượt trội trong nhiễm trùng
vết thương, các chủng Enterococci chiếm vị trí
khiêm tốn hơn, Pseudomonas aeruginosa cũng
chiếm tỉ lệ cao trong thời gian này; theo Lipsky
B.A và cộng sự (2012), vết thương cấp tính
thường tồn tại vi khuẩn thường trú ở da, như tụ
cầu và các trực trùng Ở vết thương mạn tính
với môi trường đặc biệt thường có số lượng
cũng như các chủng vi khuẩn nhiều hơn ở vết
thương cấp tính Vết thương mạn tính có liên
quan đến vi khuẩn kỵ khí và nhiều chủng vi khuẩn cùng lúc trên vết thương(8) Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng ghi nhận các chủng vi khuẩn như các tác giả trên đã nêu
Sau khi sử dụng Prontosan
6 trường hợp cấy khuẩn âm tính trước đó cũng có kết quả cấy lần 2 âm tính (sau 4-7 ngày
sử dụng Prontosan) Với 24 trường hợp cấy khuẩn (+), chỉ còn lại 5 trường hợp cấy khuẩn
(+), các vi khuẩn cấy được là Staphylococcus aureus, Pseudomonas aeruginosa, Enterococcus faecalis Kết quả của chúng tôi phù hợp với nhận
định của Minnich K.E., dung dịch/kem betaine 0,1% – polyhexanide 0,1% được sử dụng rộng rãi như là một tác nhân làm sạch trong điều trị tại chỗ vết thương mạn tính Trên thực nghiệm, các nghiên cứu đã chứng tỏ dung dịch và kem với nồng độ trên có tác dụng kháng khuẩn hiệu quả, chúng có hiệu quả làm giảm sự tăng
trưởng trên các chủng vi khuẩn Aspergillus brasiliensis, Staphylococcus epidermidis, Pseudomonas aeruginosa, Serratia marcescens, Candida albicans, Staphylococcus aureus, vancomycin-resistant Enterococcus faecalis, Proteus mirabilis, Escherichia coli, methicillin-resistant Staphylococcus aureus, Acinetobacter baumannii, Enterobacter cloacae, và Enterobacter faecalis(9,7,10) Theo Bjarnsholt T., màng sinh học vi khuẩn làm châm tiến trình lành vết thương(2); có nhiều nghiên cứu nước ngoài cho thấy Prontosan có khả năng phân hủy và phòng ngừa hình thành màng sinh học vi khuẩn trên vết thương, đặc biệt là vết thương mạn tính; polyhexanide là chất kháng khuẩn được sử dụng rộng rãi trong thực tế như dung dịch rửa kính áp tròng, băng vết thương, làm sạch hồ và
sử dụng trong thẩm mỹ
Tình trạng xuất tiết tại vết thương
Các vết thương trong lô nghiên cứu của chúng tôi có độ xuất tiết dịch vừa phải Tình trạng xuất tiết tại vết thương là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của Prontosan Theo Kapalschinski N và cộng sự,
Trang 5nồng độ albumin tại vết thương ảnh hưởng tới
hiệu lực kháng khuẩn của dung dịch/kem
betaine 0,1% – polyhexanide 0,1%; những vết
thương xuất tiết nhiều với nồng độ albumin cao
nên được lảm giảm tiết dịch để tăng hiệu quả
kháng khuẩn của chất trên(5) Với kết quả trên,
chúng tôi nhận thấy có thể do tình trạng xuất
tiết vừa phải ở các vết thương trong lô nghiên
cứu giúp cho tỉ lệ nhiễm khuẩn giảm rõ rệt sau
khi sử dụng Prontosan Để có nhận định chính
xác chúng tôi cần thực hiện những nghiên cứu
sâu hơn
Đặc điểm mô hạt
Các vết thương trong lô nghiên cứu đều có
tiến triển thuận lợi, các vết thương đều tự liền
tốt hoặc có kết quả mảnh da ghép, vạt da sống
tốt Kết quả này phù hợp với nhận định của
Kevin E Minnich, polyhexanide là một chọn lựa
trong điều trị vết thương mạn tính và vết
thương bỏng do dung dịch trên không làm
chậm tiến trình lành vết thương(9)
KẾT LUẬN
Việc sử dụng dung dịch/kem betaine 0,1% –
polyhexanide 0,1% trên vết thương mạn tính
giúp ngăn ngừa nhiễm khuẩn một cách hiệu
quả và cũng hiệu quả trong điều trị các trường
hợp nhiễm trùng, giúp cho tiến trình hình thành
mô hạt cũng như biểu mô hóa diễn tiến một
cách thuận lợi
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Baranoski S, Ayello EA, Langemo DK (2012) Wound
Assessment Wound Care Essentials, Lippincott Williams &
Wilkins Six Edition, pp 101-125
2 Bjarnsholt T (2013) The role of bacterial biofilms in chronic
infections APMIS Supplementum, V 136, pp 1-51
3 Gardner SE, Frantz RA (2012) Wound Bioburden and
Infection Wound Care Essentials, Lippincott Williams &
Wilkins Six Edition, pp 126-156
4 Gilliver S (2009) PHMB: a well-tolerated antiseptic with no
reported toxic effects J Wound Care, V Activa Health
Supplement, pp 9-14
5 Kapalschinski N, Seipp HM, Onderdonk AB, Goertz O, Daigeler A, Lahmer A, Lehnhardt M, Hirsch T (2013) Albumin reduces the antibacterial activity of polyhexanide-biguanide-based antiseptics against Staphylococcus aureus
and MRSA Burns, V 39, pp.1221-1225
6 Kautz O, Schumann H, Degerbeck F, Venemalm L, Jakob T (2010) Severe anaphylaxis to the antiseptic polyhexanide
Allergy, V 65(8), pp 1068-1070
7 Lenselink E , Andriessen A (2011) A cohort study on the efficacy of a polyhexanide-containing biocellulose dressing in
the treatment of biofilms in wounds J Wound Care, V 20(11),
pp 536-539
8 Lipsky BA, Embil JM, Joseph WS, Karchmer AW, Pinzur MS, Senneville E (2012) 2012 Infectious Diseases Society of America Clinical Practice Guideline for the Diagnosis and
Treatment of Diabetic Foot Infections Oxford Journal of Clinical
Infectious Diseases, V.54(12), pp.132-173
9 Minnich KE, Stolarick R, Wilkins RG, Chilson G, Pritt SL, Unverdorben M (2012) The effect of a Wound Care Solution containing Polyhexanide and Betaine on Bacterial Counts:
Results of an in vitro Study Ostomy Wound Manage, V 58(10),
pp 32-36
10 Valenzuela AR, Perucho NS (2008) The Effectiveness of a 0,1%
polyhexanide gel Revista de Enfermeria, V 31(4), pp 7-12