1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thực trạng nhân lực, trang thiết bị phục vụ công tác vận chuyển cấp cứu nội viện tại khoa cấp cứu chống độc tại Bệnh viện Nhi Trung Ương năm 2017

7 117 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 403,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày mô tả thực trạng nhân lực, trang thiết bị phục vụ công tác vận chuyển cấp cứu nội viện tại Khoa cấp cứu chống độc tại bệnh viện Nhi Trung Ương năm 2017.

Trang 1

THỰC TRẠNG NHÂN LỰC, TRANG THIẾT BỊ PHỤC VỤ

CÔNG TÁC VẬN CHUYỂN CẤP CỨU NỘI VIỆN TẠI KHOA CẤP CỨU CHỐNG ĐỘC TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG

NĂM 2017

Đỗ Mạnh Hùng*, Lê Thanh Hải*, Lưu Thị Mỹ Thục*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Mô tả thực trạng nhân lực, trang thiết bị phục vụ công tác vận chuyển cấp cứu nội viện tại Khoa

cấp cứu chống độc tại bệnh viện Nhi Trung Ương năm 2017

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, nghiên cứu định lượng kết hợp định tính trên 350

trường hợp vận chuyển cấp cứu nội viện

Kết quả: đội vận chuyển có bác sỹ đi cùng 61,71%, đội vận chuyển có điều dưỡng đi cùng 94,29%, đội vận

chuyển có cả bác sỹ và điều dưỡng đi cùng 59,14 Được học 03 lớp cấp cứu cơ bản và nâng cao ở bác sỹ chiếm 22,29%, ở điều dưỡng chiếm 38,86% Tỷ lệ đạt danh mục thiết bị quá trình vận chuyển chiếm 85,14%

Kết luận: Số lượng, trình độ cán bộ và trang thiết bị tại khoa Cấp cứu –chống độc của bệnh viện chưa đáp

ứng được nhu cầu công tác vận chuyển cấp cứu nội viện

Từ khóa: Nhân lực, trang thiết bị, vận chuyển cấp cứu nội viện

ABSTRACT

CURRENT STATUS OF HUMAN RESOURCES AND MEDICAL EQUIPMENTS FOR

INTRAHOSSPITAL TRANSPORT AT EMERGENRY – POISON CONTROL DEPARTMENT,

VIETNAM NATIONAL CHILDREN’S HOSPITAL IN 2017

Do Manh Hung, Le Thanh Hai, Luu Thi My Thuc

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 22 - No 6- 2018: 214 – 220

Objective: Describe the current status of human resources, equipment for emergency transport in the

hospital at Emergency – Poison control department, Vietnam National Children’s Hospital in 2017

Methodology: A cross-sectional study, we conducted on 350 cases of intrahospital transport

Result: Transport team accompanied by doctor accounts for 61.71%, transport team accompanied by nurse

accounts for 94.29%, Transport team accompanied by both doctor and nurse accounts for 59.14 22.29% of doctors has run 3 basic and advanced pediatric life support courses, 38.86% of nurses has run those courses 85.14% of equipment items meets the requirement of transport

Conclusion: Quantity, quanlification and medical equiptment at Emergency – Poison control department

have not met the demand of patient transport inside the hospital

Keywords: human resources, equipment, emergency transport in the hospital

ĐẶT VẤN ĐỀ

Beckmann và cộng sự (2004) có đến 61% sự

cố liên quan đến các vấn đề về nhân lực tham gia

bao gồm việc giao tiếp kém hiệu quả và kiểm

soát thiếu chặt chẽ, 39% sự cố xảy ra do vấn đề

về thiết bị, và 31% xảy ra do sức khỏe người bệnh diễn biến bất thường(1) Kết luận của tác giả: Việc vận chuyển bệnh nhân trong bệnh viện tiềm ẩn rủi ro đối với người bệnh Vì thế, xây

*Bệnh viện Nhi Trung Ương

Trang 2

dựng các quy định đối với nhân viên y tế, với

thiết bị máy móc và công tác kiểm soát, kiểm tra

liên quan đến vận chuyển người bệnh là rất cần thiết

Bệnh viện Nhi Trung ương hàng ngày tiếp

nhận hàng trăm ca cấp cứu tại khoa Cấp cứu

chống độc Quá trình vận chuyển cấp cứu nội

viện do chưa đủ nhân lực, trang thiết bị nên hiện

đang là mối quan tâm của Bệnh viện Nhằm

đáng giá thực trạng nhân lực, trang thiết bị, qua

đó tìm ra các giải pháp can thiệp kịp thời trong

vận chuyển cấp cứu nội viện chúng tôi tiến hàng

nghiên cứu với đề tài: “Thực trạng nhân lực,

trang thiết bị phục vụ công tác vận chuyển cấp

cứu nội viện tại Khoa cấp cứu chống độc tại

Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2017”

Mục tiêu nghiên cứu

Mô tả thực trạng nhân lực, trang thiết bị

phục vụ công tác vận chuyển cấp cứu nội viện

tại Khoa cấp cứu chống độc tại bệnh viện Nhi

Trung ương năm 2017

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Các trường hợp vận chuyển cấp cứu nội viện cho

bệnh nhi

Các cán bộ y tế tham gia vận chuyển cấp cứu

nội viện

Các nhân viên y tế bệnh viện tham gia vào

quá trình vận chuyển nội viện từ khoa cấp cứu

chống độc tới các đơn vị khác trong bệnh viện;

Nhân viên y tế có thể bao gồm các thành

phần: Bác sỹ, Điều dưỡng viên; học viên

Phương tiện, trang thiết bị, thuốc được sử

dụng trong quá trình vận chuyển nội viện

Thiết kế nghiên cứu

Phương pháp thiết kế mô tả cắt ngang có

phân tích, nghiên cứu kết hợp định lượng định tính

Cỡ mẫu

Cỡ mẫu nghiên cứu được tính theo công thức:

Trong đó:

p = 30% = 0,3 là tỷ lệ các sự cố xảy ra trong các lần vận chuyển nội viện

Z = 1,96 (α = 0,05, độ tin cậy 95%, thu từ bảng Z)

d = 0,05 là sai số tuyệt đối, lấy mức 5%

n = 323: Cỡ mẫu cần nghiên cứu, lấy tròn khoảng 350 trường hợp bệnh nhi cần vận chuyển cấp cứu nội viện

Tiêu chuẩn đánh giá

Dựa vào kết quả nghiên cứu của Brunsveld-Reinders AH, Arbous MS, Kuiper SG, de Jonge E (2014)(3)

Vấn đề y đức

Nghiên cứu đã được thông qua Hội đồng y đức của bệnh viện Nhi Trung ương, trong đó: Nghiên cứu chỉ quan sát và nghi nhận thực trạng sự cố, không có bất cứ can thiệp nào lên người bệnh cũng như đến hệ thống vận chuyển cấp cứu nội viện,

Tất cả bệnh nhân trong các hồ sơ bệnh án, được giữ kín toàn bộ thông tin cá nhân về độ tuổi, quê quán và các thông tin cá nhân khác, Các bảng, biểu số liệu điều tra không ghi

rõ bất cứ một trường hợp cụ thể nào dễ nhận biết một đối tượng hay trường hợp vận chuyển

KẾT QUẢ

Bảng 1 Thông tin về cán bộ tham gia vận chuyển

trên thực tế

Đặc điểm cán bộ Số lượng Tỷ lệ%

Số lượng cán bộ

Cả bác sỹ, điều dưỡng

Đa số số là có trên 2 cán bộ tham gia VCCC

Trang 3

nội viện với gần 85% số bệnh nhân, số ca vận

chuyển có bác sỹ là 61,71%, số ca vận chuyển có

điều dưỡng là 83,43% Đa phần là học viên bao

gồm bác sỹ và điều dưỡng đang thực tập, thử

việc tại bệnh viện thực hiện

Kết quả nghiên cứu định tính cho thấy do

lượng cán bộ còn ít, bên cạnh đó tại khoa Cấp

cứu – Chống độc thường xảy ra tình trạng quá

tải, do vậy việc bố trí cán bộ tham gia vận

chuyển cấp cứu thường gặp nhiều khó khăn:

“Những hôm đông bệnh nhân, chúng tôi phải huy

động đến cả các trường hợp học viên đang học tập,

thử việc tại bệnh viện tham gia vận chuyển” (Lãnh

đạo khoa CCCĐ)

Bệnh nhi thở máy hoặc dùng thuốc vận

mạch, suy hô thấp, loạn nhịp tim cần 01 bác sỹ,

01 điều dưỡng VCCC, tỷ lệ không đáp ứng

chiếm 5,71% (Hình 1)

Hình 1 Đạt yêu cầu về số lượng cán bộ vận chuyển

cấp cứu nội viện

Bảng 2 Trình độ điều dưỡng tham gia vận chuyển

cấp cứu

Nội dung Số lượng Tỷ lệ %

Trình độ cao nhất của điều

dưỡng trong đội vận chuyển

Đội vận chuyển có ĐD

được học cấp cứu cơ bản

Đội vận chuyển có ĐD

được học cấp cứu nâng

cao

Đội vận chuyển có ĐD đã

được học về sử dụng trang

thiết bị

Trình độ ĐD tham gia vận chuyển với hơn

60 là đại học, với đa số được học cấp cứu cơ bản (72,73%), tỷ lệ được học cấp cứu nâng cao chiếm gần 1 nửa số ĐDV (48,79%)

Bảng 3 Trình độ bác sỹ tham gia vận chuyển (tại

thời điểm thu thập số liệu)

Nội dung Số lượng Tỷ lệ %

Trình độ cao nhất của Bs trong đội vận chuyển

Đội vận chuyển có Bs học lớp cấp cứu cơ bản

Đội vận chuyển có Bs học lớp cấp cứu nâng cao

Đội vận chuyển cấp cứu

có Bs được học về sử dụng TTB cấp cứu

Tại thời điểm thu thập số liệu, lực lượng bác

sỹ tham gia vận chuyển chủ yếu là các học viên

là bác sỹ mới tốt nghiệp đại học với 96,76%, tỷ lệ sau đại học chiếm tỷ lệ nhỏ với định hướng nhi chiếm 2,31%, chuyên khoa I và thạc sỹ đều chiếm 0,46%

Kết quả nghiên cứu định tính cho thấy, việc

bố trí bác sỹ có trình độ cao tham gia vận chuyển

là khó khăn, tuy vậy theo lãnh đạo khoa cấp cứu thì việc vận chuyển thì với quãng đường ngắn như trong bệnh viện thì không nhất thiết phải có bác sỹ có trình độ sau đại học đi cùng

Tuy vậy, đa số bác sỹ tham gia vận chuyển còn trẻ, chưa được học đầy đủ các lớp cấp cứu, điều này do thiếu nhân lực tại khoa “Các bác sỹ

có thâm niên công tác tại khoa Cấp cứu & chống độc 3 – 5 năm, Bác sỹ nội trú Nhi, được tập huấn thì phải trực tại phòng cấp cứu, vì phòng cấp cứu thường xảy ra quá tải, hơn nữa tại phòng cấp cứu có nhiều bệnh nhân nặng hơn, do vậy chúng tôi chỉ có thể cử các bác sỹ đang đi học tham gia vận chuyển”

Do thiếu hụt nhân lực, nên nhân viên tham gia vận chuyển cấp cứu chủ yếu là học viên, do

đó tỷ lệ được tập huấn đầy đủ 03 nội dung cấp cứu cơ bản, nâng cao và sử dụng các thiết bị cấp

Trang 4

cứu khi vận chuyển bệnh nhân ở điều dưỡng

viên chỉ đạt 38,86%, ở bác sỹ là 22,29%

Hình 2 Tỷ lệ đội vận chuyển có CBYT tham gia vận

chuyển được tập huấn đầy đủ cả 03 lớp cấp cứu cơ

bản, nâng cao (n=350)

Bảng 4 Trang thiết bị quá trình vận chuyển

Danh mục TTB cho VCCC Số lượng

(n=350) Tỷ lệ

Túi cấp cứu (thuốc/dụng cụ sử dụng

trong trường hợp khẩn cấp) 310 88,57

Các TTB phục vụ vận vận chuyển cấp cứu

nội viện được sử dụng nhiều nhất là bình oxy,

máu đo độ bão hòa oxy và túi cấp cứu với tỷ lệ

khoảng trên dưới 90% số ca VCCC nội viện

Đánh giá đạt khi trên xe vận chuyển cấp

cứu đầy đủ các trang thiết bị theo danh mục

theo Bảng 4 Hầu hết các danh mục TTB là đạt

(tức là TTB vận chuyển tương ứng với thiết bị tại

giường bệnh) với tỷ lệ 85,14%

Hình 4 Tỷ lệ đạt danh mục thiết bị quá trình vận

chuyển (n=350)

Nghiên cứu định tính cho thấy tỷ lệ không đạt các danh mục TTB là do khoa hiện còn thiếu

và không đáp ứng được “Máy thở xách tay mới

có 01 cái, chưa nói để dự trù khi hỏng hóc hoặc bảo dưỡng Nếu trong trường hợp có khoảng 2

đế 3 bệnh nhân thở máy cùng một lúc mà cần phải vận chuyển thì không biết nên sử lý thế nào?” (Lãnh đạo khoa CCCĐ)

Một số trang thiết bị mặc dù đã được đầu tư, tuy nhiên đã hỏng hóc và không sử dụng được

“Máy theo dõi đủ 6 chức năng hầu hết không tham gia vận chuyển được vì chai pin Chỉ còn

03 máy hai chức năng tham gia vận chuyển được Như thế có thể nói là hạn chế” (Lãnh đạo Khoa CCCĐ)

“Các trang thiết bị như: đèn nội khí quản, bóng bóp có được trang bị nhưng hiện tại đang

hư, hỏng nhiều” (Lãnh đạo khoa CCCĐ)

Xe điện vận chuyển là một trong những nhu cầu thiết yếu trong công tác VCCC nội viện:

“Nếu vận chuyển bệnh nhân trong lúc trời nắng, mưa cần sự linh hoạt thì xe điện, phương tiện đưa đón bệnh nhân cũng chưa có” (Lãnh đạo khoa CCCĐ)

BÀN LUẬN Nhân lực

Vận chuyển cấp cứu nội viện là một quá trình vận chuyển những bệnh nhân nặng, cần có những can thiệp để duy trì sự ổn định các chỉ số sinh tồn tại giường bệnh và trong quá trình vận chuyển Do vậy, quá trình vận chuyển đòi hỏi số

Trang 5

lượng đủ cán bộ với trình độ chuyên môn cao và

kỹ năng xử trí tốt

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy

số lượng công tác vận chuyển cấp cứu nội viện

với 01 cán bộ chiếm 16,57%, 02 cán bộ chiếm

52,29%, 03 cán bộ chiếm 28,29% và 04 cán bộ

chiếm Tỷ lệ có bác sỹ đi cùng là 61,71%, tỷ lệ có

học viên đi cùng là 94,29%, tỷ lệ có bác sỹ và điều

dưỡng tham gia vận chuyển là 59,14% Đa số

trường hợp chỉ có học viên tham gia vận chuyển

cấp cứu nội viện

So sánh với kết quả nghiên cứu của

Brunsveld-Reinders AH (2014) cho thấy trong

503 ca vận chuyển nội viện đến khoa chụp

X-Quang tỷ lệ điều dưỡng và bác sỹ là 66%, và tỷ lệ

vận chuyển chi với cán bộ khoa cấp cứu là 27%,

điều dưỡng khoa cấp cứu và bác sỹ khoa cấp

cứu là 3%

Thực tế các trường hợp vận chuyển cấp nội

viện cứu đều có những biểu hiện về suy giảm

các chỉ số sinh tồn Số lượng cán bộ tham gia vận

chuyển cấp cứu là không đạt so với tiêu chuẩn

theo C Waydhas (1999) và BF Mazza quá trình

vận chuyển cần có 02 cán bộ y tế hộ tống(5,10)

Sự thiếu hụt nguồn nhân lực tại khoa Cấp

cứu & chống độc cũng như của bệnh viện hiện

đang là vấn đề đã được giám đốc bệnh viện rất

qua tâm, tuy nhiên việc bổ sung nhân lực đặc

biệt nhân lực có trình độ, kỹ năng thì đòi hỏi cần

có thời gian và cần có cơ chế thu hút nhân lực

Việc bố trí nhân lực tham gia vận chuyển cấp

cứu nội viện tùy thuộc vào nhu cầu bệnh nhân

Ở những bệnh nhân nhẹ hơn, ít hoặc không phải

can thiệp thì không cần thiết đầy đủ cả bác sỹ lẫn

điều dưỡng Theo Brunsveld-Reinders AH,

Arbous MS, Kuiper SG, de Jonge E (2014) ở các

trường hợp bệnh nhân thở máy hoặc dùng thuốc

vận mạch, suy hô thấp và loạn nhịp tim cần 01

bác sỹ và 01 điều dưỡng VCCC [2], Nghiên cứu

của chúng tôi cho thấy tỷ lệ không đáp ứng

chiếm 5,71% số bệnh nhân

Theo VW Stevenson, CF Haas, and WL

Wahl (2002) và DW Chang và cộng sự (2002),

thì quá trình vận chuyển cần có điều dưỡng chuyên trách có chứng chỉ cấp cứu nâng cao,

và kinh nghiệm ứng phó với các tình huống cấp cứu(4,8) Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy trình độ điều dưỡng thiếu chuyên môn chiếm

tỷ lệ cao Kết quả cho thấy đại học và sau đại học chiếm 42,43%, cao đẳng và trung cấp chiếm 57,57% Điều dưỡng được học về cấp cứu cơ bản chiếm 72,73%, điều dưỡng được học về cấp cứu nâng cao chiếm 48,79%, điều dưỡng được học về cách sử dụng thiết bị vận chuyển cấp cứu chiếm 98,86%

Đội vận chuyển đa số là bác sỹ đa khoa và mới tốt nghiệp ra trường chiếm 96,76%, bác sỹ được học lớp cấp cứu cơ bản chiếm 77,31%, bác sỹ được học lớp cấp cứu nâng cao chiếm 37,96%, bác sỹ được học về sử dụng TTB cấp cứu chiếm 97,69%

Theo VW Stevenson, CF Haas and WL Wah bệnh nhân thở máy cần một bác sĩ chuyên khoa

hô hấp(8) Nghiên cứu của các tác giả C Waydhas (1999), BB Pope (2003) và nghiên cứu của J Warren và cộng sự (2004) cho thấy bệnh nhân có tình trạng huyết động không ổn định cần bác sĩ

có kinh nghiệm chăm sóc tích cực(6,9,10) Tuy vậy, hiện khoa chưa thực hiện được việc này vì chưa đáp ứng đủ về nhân lực để tham gia vận chuyển bệnh nhân đặc biệt bệnh nhân nặng

Trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ điều dưỡng được học đầy đủ cấp cứu cơ bản, nâng cao và sử dụng trang thiết bị là 38,86% số ca vận chuyển và bác sỹ được học đầy đủ cấp cứu cơ bản, nâng cao và sử dụng thiết bị y tế chiếm 22,29%

Với kết quả này cho thấy bệnh viện cần đẩy mạnh công tác tập huấn nâng cao trình độ cho cán bộ tham gia vận chuyển cấp cứu, mặt khác cần bổ sung nguồn nhân lực phục vụ công tác vận chuyển cấp cứu nhằm đảm bảo VCCC nội viện tính an toàn cao

Trang thiết bị, thuốc

Ở những bệnh nhân suy giảm các chỉ số sinh tồn thì TTB trong quá trình vận chuyển đóng vai

Trang 6

trò quan trọng trong việc duy trì tình trạng ổn

định các chỉ số sinh tồn ở bệnh nhân Đảm bảo

được các TTB là đảm bảo được tính mạng và sự

phục hồi sức khỏe cho người bệnh Do vậy, việc

tổ chức, xây dựng kế hoạch và sử dụng tốt các

TTB trong quá trình vận chuyển cấp cứu đóng

vai trò hết sức quan trọng

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ các

thiết bị sử dụng trong các ca vận chuyển như

sau: Canuyn 28,57%, ống nội khí quản 60,57%,

Mask thở oxy 71,71%, máy hút đờm dãi 22,29%,

máy thở di động để vận chuyển 6,57%, bình oxy

và dây dẫn 91,14%, bóng ambu tự phồng (có túi

chứa oxy là 78%, máy đo độ bãi hòa oxy trong

máu SPO2 là 91,43%, máy truyền dịch là 31,43%,

máy tiêm là 34%, Catheter tĩnh mạch 55,14%;

Ống nghe 59,14%; máy đo huyết áp 8,29%, túi

cấp cứu 88,57%

Thực tế thì mỗi ca vận chuyển cấp cứu có

những biểu hiện suy giảm chức năng sống là

khác nhau và nguyên nhân gây bệnh cũng khác

nhau Do vậy đòi hỏi những TTB riêng biệt Điều

quan trọng là các vật dụng kèm theo không

thừa, không thiếu Điều kiện tối thiểu là bệnh

nhân cần được chăm sóc với tiêu chuẩn giống

như tại khoa Cấp cứu & chống độc(4) Theo C

Waydhas và cộng sự (1999) việc mang quá nhiều

thiết bị không cần thiết có thể ảnh hưởng đến sự

an toàn của người bệnh bởi vì nhiều hơn không

đồng nghĩa với tốt hơn nếu các thiết bị này xảy

ra sự cố khiến cho nhân viên y tế xao nhãng

người bệnh(10)

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy danh mục

TTB là đạt (tức là TTB vận chuyển tương ứng với

thiết bị tại giường bệnh) với tỷ lệ là 85,14%, trong

khi tỷ lệ không đạt còn chiếm tớ 14,86% Thực tế

tại bệnh viện, nghiên cứu định tính cũng chỉ ra

sự thiếu hụt về trang thiết bị cho đội vận chuyển

cấp cứu nội viện Sự thiếu hụt TTB có nhiều

nguyên nhân như hỏng hỏng, quá tải bệnh nhân

và các thiết bị không phù hợp với mỗi bệnh

nhân Bệnh viện Nhi Trung ương cần có các

phương án và dự báo về tình hình bệnh tật, qua

đó có kế hoạch mua sắm các TTB phù hợp phục

vụ công tác vận chuyển là hết sức quan trọng Bên cạnh đó, nghiên cứu định tính cho thấy mặc dù bệnh viện đã có các xe đẩy/ giường đẩy phục vụ bệnh nhân cấp cứu, tuy vậy xe đẩy/giường đẩy hiện nay là không phù hợp với thiết kế các khoa phòng trong khuân viên bệnh viện Do có nhiều dãy nhà khác nhau, việc vận chuyển bệnh nhân ngoài trời đòi hỏi phải có sự che mưa, che nắng và chắn gió Với khoảng cách vận chuyển có khi lên đến 2km (tính cả lượt đi lượt về), việc đầy tư các xe điện chuyên dụng trong việc vận chuyển nội viện bệnh nhân là hết sức quan trọng

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Nghiên cứu cho thấy thực trạng nhân lực, trang thiết bị tại bệnh viện còn chưa đáp ứng được nhu cầu công tác vận chuyển cấp cứu nội viện Trong đó số lượng và trình độ qua kết quả cho thấy:

Số lượng: Đội vận chuyển có từ 2 cán bộ chiếm 83,43%, có bác sỹ đi cùng 61,71%, điều dưỡng đi cùng 94,29%, có cả bác sỹ và điều dưỡng 59,14%, đạt về số cán bộ theo sức khỏe người bệnh 94,29%

Trình độ: ĐD có trình độ đại học, sau đại học chiếm 42,43%; ĐD được học cấp cứu cơ bản 72,73%, ĐD được học cấp cứu nâng cao 48,79%,

ĐD được học về sử dụng TTB chiếm 98,86% Bác

sỹ chủ yếu là bác sỹ đa khoa đại học với 96,76%, bác sỹ được học cấp cứu cơ bản chiếm 22,69%, bác sỹ học cấp cứu nâng cao 37,96% Tỷ lệ được học đầy đủ cấp cứu cơ bản, nâng cao và sử dụng TTB ở ĐD là 22,29%, Bác sỹ là 38,86%

TTB vận chuyển: Tỷ lệ đạt danh mục thiết bị (tương đương với giường bệnh) là 85,14% Bệnh viện cần đảm bảo nhân lực tham gia vận chuyển cấp cứu được đào tạo cấp cứu cơ bản, nâng cao và sử dụng thành thạo TTB vận chuyển Cần có chính sách thu hút cán bộ tham gia thực hiện công tác vận chuyển cấp cứu, cần

có đủ các bác sỹ có chuyên môn tham gia vào các

ca vận chuyển bệnh nhân nặng Bên cạnh đó,

Trang 7

bệnh viện cần bổ sung mua sắm TTB, phương tiện

đầy đủ cho công tác vận chuyển cấp cứu nội viện

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Beckmann U, Gillies DM., Berenholtz SM, Wu AW and

Pronovost P (2004), “Incidents relating to the intra-hospital

transfer of critically ill patients An analysis of the reports

submitted to the Australian Incident Monitoring Study in

Intensive Care,” Intensive Care Med., vol 30, no 8, pp 1579–

1585

2 Braxton CC, Reilly PM and Schwab CW (2000), “The traveling

intensive care unit patient Road trips,” Surg Clin North Am, vol

80, no 3, pp 949–956

3 Brunsveld-Reinders H, Arbous MS, Kuiper SG and de Jonge E

(2015), “A comprehensive method to develop a checklist to

increase safety of intra-hospital transport of critically ill

patients,” Crit Care Lond Engl, vol 19, p 214

4 Chang DW and American Association for Respiratory Care

(AARC) (2002), “AARC Clinical Practice Guideline: in-hospital

transport of the mechanically ventilated patient 2002 revision &

update,” Respir Care, vol 47, no 6, pp 721–723

5 Mazza F et al (2008), “Safety in intrahospital transportation:

evaluation of respiratory and hemodynamic parameters A

prospective cohort study,” Sao Paulo Med J Rev Paul Med, vol

126, no 6, pp 319–322

6 Pope BB (2003), “Provide safe passage for patients,” Nurs Manag (Harrow), vol 34, no 9, pp 41–46

7 Rice DH, Kotti G and Beninati W (2008), “Clinical review:

critical care transport and austere critical care,” Crit Care Lond Engl, vol 12, no 2, p 207

8 Stevenson VW, Haas CF and Wahl WL (2002), “Intrahospital

transport of the adult mechanically ventilated patient,” Respir Care Clin N Am, vol 8, no 1, pp 1–35

9 Warren J, Fromm RE, Orr RA, Rotello LC, Horst HM and American College of Critical Care Medicine (2004), “Guidelines for the inter- and intrahospital transport of critically ill patients,”

Crit Care Med, vol 32, no 1, pp 256–262

10 Waydhas C (1999), “Intrahospital transport of critically ill

patients,” Crit Care Lond Engl, vol 3, no 5, pp R83-89

Ngày đăng: 15/01/2020, 19:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w