1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Báo cáo trường hợp lâm sàng: U tủy thượng thận có biểu hiện thần kinh

5 43 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 306,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc kiểm soát tốt huyết áp trước điều trị và phẫu thuật nội soi cắt bỏ toàn bộ tuyến thượng thận mang lại nhiều lợi ích cho bệnh nhân. Bài viết nhằm ghi nhận thêm một trường hợp lâm sàng hiếm gặp vào y văn về một trường hợp lâm sàng hiếm gặp u tủy thượng thận có biểu hiện thần kinh đồng thời đề ra hướng chẩn đoán, điều trị và theo dõi sau phẫu thuật.

Trang 1

BÁO CÁO TRƯỜNG HỢP LÂM SÀNG:

U TỦY THƯỢNG THẬN CÓ BIỂU HIỆN THẦN KINH

Trần Ngọc Khánh*, Lê Lương Vinh*, Ngô Quang Liêm*, Trần Hoài Linh*, Đinh Thị Phương Hoài **

TÓM TẮT

U tủy thượng thận là khối u hiếm gặp có nguồn gốc từ các tế bào chromaffin, chiếm 0,1 - 1% của tất cả các trường hợp tăng huyết áp thứ phát U tủy thượng thận có biểu hiện thần kinh là rất hiếm gặp với tỷ lệ không rõ Bài báo cáo xin được trình bày về trường hợp lâm sàng bệnh nhân nữ 39 tuổi vào viện vì với triệu chứng đau đầu và yếu ½ người trái nhẹ, CT scan sọ não: nhồi máu não cũ bao ngoài phải CT scan ổ bụng: khối u có kích thước # 2,1x1,43cm, nằm trên cực trên thận Phải, theo dõi u tuyến thượng thận Phải Việc kiểm soát tốt huyết áp trước điều trị và phẫu thuật nội soi cắt bỏ toàn bộ tuyến thượng thận mang lại nhiều lợi ích cho bệnh nhân Bài viết nhằm ghi nhận thêm một trường hợp lâm sàng hiếm gặp vào y văn về một trường hợp lâm sàng hiếm gặp u

tủy thượng thận có biểu hiện thần kinh đồng thời đề ra hướng chẩn đoán, điều trị và theo dõi sau phẫu thuật

Từ khóa: u tủy thương thận, tăng huyết áp khần cấp, yếu ½ người, biểu hiện thần kinh

ABSTRACT

A CASE REPORT OF A PHEOCHROMOCYTOMA WITH PRESENTING NEUROLOGICAL MANIFESTATIONS

Tran Ngoc Khanh, Le Luong Vinh, Ngo Thanh Liem, Tran Hoai Linh, Dinh Thi Phuong Hoai

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 3 - 2019: 48 - 52

Pheochromocytoma is a rare tumor derived from chromaffin cells, accounting for 0.1 to 1% of all cases of secondary hypertension A pheochromocytoma with presenting neurological manifestations is very rare with an unknown rate This paper presents a case study of a 39-year-old female patient admitted to hospital because of symptoms of headache and left hemiparalysis, CT scan of the brain: old cerebral infarction on the right CT scan of the abdomen: the tumor has the size # 2.1x1.43cm, lying on the pole of the right kidney (a right adrenal adenoma) The good control of blood pressure before treatment and laparoscopy surgery to remove the entire adrenal gland brings many benefits to patients The paper aims to report a rare case study of pheochromocytoma with presenting neurological manifestations: diagnosis and treatment

Keyword: pheochromocytoma, hypertension, hemiparalysis, neurological manifestation

ĐẶT VẤN ĐỀ

U tủy thượng thận là khối u hiếm gặp có

nguồn gốc từ các tế bào chromaffin, chiếm 0,1 -

1% của tất cả các trường hợp tăng huyết áp thứ

phát Phần lớn là lành tính và một bên, u được

đặc trưng bởi việc sản xuất catecholamine và các

neuropeptide khác Chủ yếu nằm ở tuyến

thượng thận, u thường gặp vào những năm 30

và 50 của cuộc đời; 10- 25% liên quan với các hội

chứng di truyền như bệnh Von Hippel-Landau

(VHL), u xơ thần kinh loại 1 (NF1) và đa u thần kinh nội tiết loại 2 (MEN 2)(10) Các catecholamine được giải phóng từ u tủy thượng thận có thể dẫn đến suy tim, phù phổi, rối loạn nhịp tim cũng như liên quan đến các biến chứng thần kinh bao gồm bệnh não tăng huyết áp và đột quỵ(4) Bài báo cáo xin được trình bày về một trường hợp lâm sàng: u tủy thượng thận có biểu hiện thân thần kinh: bệnh não - tăng huyết áp, và yếu nửa người trái với 2 lần tai biến mạch máu não: chẩn đoán và hướng điều trị

*Khoa Ngoại Tổng hợp, Bệnh viện Trung Ương Huế **Trường Đại học Y Dược Huế

Trang 2

TRÌNH BÀY TRƯỜNG HỢP LÂM SÀNG

Bệnh nhân nữ 39 tuổi vào viện vì với triệu

chứng đau đầu và yếu ½ người trái nhẹ Triệu

chứng khởi phát vào sáng thức dậy, với đau đầu

kèm mệt mỏi, huyết áp lúc vào viện là

220/100mmHg, bệnh nhân được xử lý cấp cứu

với Adalat 10mg 3 giọt dưới lưỡi, một nửa giờ

sau huyết áp 170/100 mmHg, đau đầu giảm

Bệnh nhân không có triệu chứng đánh trống

ngực, đau ngực hay khó thở Tiền sử: Tăng

huyết áp với mức huyết áp dao động 160/100 –

200/100 mmHg phát hiện cách đây 5 năm và

được điều trị thường xuyên với thuốc hạ huyết

áp và bệnh nhân cũng đã trải qua 2 lần tai biến

mạch máu não (lần thứ nhất cách đây 5 năm, lần

thứ hai cách đây 2 năm với biểu hiện xuất huyết

não và yếu ½ người trái) Mặc dù bệnh nhân đã

sử dụng nhiều loại thuốc chống huyết áp, nhưng

huyết áp vẫn ở mức cao 160/90 – 200/110 mmHg

Khi nhập viện, bệnh nhân đau đầu dữ dội,

huyết áp tăng 240/100 mmHg, nhịp tim 102

lần/phút, nhịp thở 20 lần/ phút và không sốt

Khám tim mạch là bình thường, nhịp tim đều rõ,

không thấy tiếng thổi bất thường, phổi thông khí

rõ 2 bên Khám bụng: bụng mềm, không

chướng, ấn không đau Khám thần kinh với đau

đầu dữ dội, yếu ½ người trái Cơ lực chi trên và

dưới bên phải 5/5, bên trái 4/5 Ngoài ra, bệnh

nhân có tăng phản xạ ở bên trái so với bên phải,

cảm giác cả hai bên vẫn còn nguyên vẹn Những

biểu hiện thần kinh này phù hợp với những biểu

hiện thần kinh của bệnh nhân từ những lần tai biến mạch máu não trước đó

Xét nghiệm cận lâm sàng: CTM: BC 9,82 K/uL, Neu 63,1%, Hc 4,89 M/uL Hb: 13,2 g/dL,

Tc 227 K/uL, Cortisol am và pm lần lượt là: 415,1nmol/L và 121,4 nmol/L Tổng phân tích nước tiểu trong giới hạn bình thường Ure: 5,7 mmol/L, Creatinin: 87 umol/L Xét nghiệm chức năng gan thận: trong giới hạn bình thường

CT sọ não: vùng giảm tỷ trọng tự nhiên có tỷ trọng dịch bao ngoài phải, kích thước 1x6cm, giới hạn khá rõ, kết luận: di chứng tổn thương

não cũ bao ngoài phải (Hình 1) CT ổ bụng: bên

Phải: phát hiện khối tổn thương giảm tỷ trọng khá đồng nhất có kích thước # 2,1x1,43cm Khối này có vỏ bọc đều đặn, có tính chất ngấm thuốc

ít và khá đồng nhất vỏ bọc xung quanh Không

có thâm nhiễm xung quanh khối tổn thương này Không phát hiện hẹp động mạch thận, hẹp

eo động mạch chủ (Hình 2)

Hình 1: CT sọ não - di chứng tổn thương não cũ bao

ngoài phải

Hình 2: CT ổ bụng – khối u giảm tỷ trọng khá đồng nhất có kích thước # 2,1x1,43cm, nằm trên cực trên thận

Phải, theo dõi u tuyến thượng thận phải

Trang 3

Bệnh nhân được chẩn đoán: u tủy thượng

thận có biến chứng tăng huyết áp/ yếu ½ người

trái/ tai biến mạch máu não Bệnh nhân được sử

dụng kết hợp thuốc hạ huyết áp kháng alpha và

chẹn beta trong 2 ngày và sau đó bệnh nhân

được lên lịch phẫu thuật cắt bỏ tuyến thượng

thận phải qua nội soi xuyên phúc mạc

Lược đồ phẫu thuật: Bệnh nhân được theo

dõi huyết áp động mạch xâm nhập liên tục

bằng kỹ thuật đặt catheter động mạch quay

Đặt 4 trocart thường quy trong nội soi xuyên

phúc mạc, vào ổ bụng thấy cực trên thận phải

gồ lên khối kích thước khoảng 3x2 cm Phẫu tích cắt dây chằng tam giác gan phải, vén gan lên bộc lộ được cực trên thận Phải Tiến hành phẫu tích tuyến thượng thận phải tách rời ra khỏi cực trên thận phải Dùng hemolock 10 kẹp 3 tĩnh mạch + 1 động mạch tuyến thượng

thận Phải (Hình 3A) Tách rời toàn bộ tuyến

thượng thận phải ra khỏi hố thượng thận, Huyết áp vẫn duy trì ổn định dao động từ 120/70-130/90 mmHg Kiểm tra cầm máu, đưa

tuyến ra ngoài (Hình 3B) Đóng các lỗ trocart

Hình 3: Phẫu thuật nội soi xuyên phúc mạc cắt bỏ toàn bộ tuyến thượng thận phải

Giải phẫu bệnh lý: u tủy tuyến thượng thận

phải, mặt cắt u màu đỏ nâu, có vùng xơ hóa và

có xuất huyết (Hình 4)

Sau 1 tháng, các triệu chứng đau đầu giảm,

huyết áp dao động từ 130/80-150/90 mmHg

Hình 4: Giải phẫu đại thể u tuyến thượng thận phải

BÀN LUẬN

Về cơ chế và chẩn đoán

U tủy thượng thận là khối u sinh ra từ các tế bào chromaffin của tủy tuyến thượng thận, nhưng cũng có thể nằm ở các vị trí ngoài tuyến thượng thận, sau phúc mạc, vùng chậu hoặc ngực với sự bài tiết quá mức catecholamine gồm epinephrine và norepinephrine(9) Một u tủy thượng thận với biểu hiện triệu chứng thần kinh

là rất hiếm gặp và tỷ lệ không rõ Có hai cơ chế

đề xuất cho tổn thương thần kinh do u tủy thượng thận bao gồm: tăng huyết áp và co thắt mạch máu(5,11) Ở người bình thường, khi tăng áp lực máu hệ thống sẽ gây ra kích hoạt các thụ thể α1-adrenergic nằm trong não, làm mạch máu não sẽ co thắt lại(2) Sự điều chỉnh tự động hóa này được gọi là phản ứng Bayliss, để thiết lập duy trì lưu lượng tuần hoàn não Bằng chứng cho thấy rằng với U tủy thượng thận, sự tăng nhịp tim liên tục gây phá vỡ hệ thống tự động

Trang 4

hóa này và gây ra sự giãn mạch, dẫn đến giảm

tưới máu và thiếu máu cục bộ, dẫn đến bệnh não

tăng huyết áp(13) Ngoài ra, khi tăng huyết áp có

thể gây xuất huyết, còn trong hạ huyết áp tư thế

có thể dẫn đến đột quỵ do thiếu máu cục bộ cấp

tính(5) Các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh não

tăng huyết áp bao gồm đau đầu, phù nề, thay

đổi trạng thái tâm thần và thậm chí nhồi máu

não(1,2,6)

Về điều trị

Kiểm soát tai biến mạch máu não liên quan

đến việc ức chế tác dụng của catecholamine,

epinephrine và norepi- nephrine được giải

phóng Khi các hormone này được giải phóng,

epinephrine tác động lên các thụ thể adrenergic

alpha và beta trong khi nor-epinephrine lại hoạt

động trên cùng các thụ thể, ngoại trừ thụ thể

2-adrenergic Hiệu ứng tích lũy là gây co mạch

ngoại biên mạnh do chủ vận thụ thể alpha và

tăng nhịp tim bằng đối vận 1-adrenergic(7) Vì

vậy, điều trị tăng huyết áp trước phẫu thuật rất

quan trọng

Điều trị trước phẫu thuật bao gồm thuốc đối

kháng alpha ban đầu, sau đó là đối kháng beta

Điều quan trọng, một thuốc chẹn alpha như

Phenoxybenzamine được khuyên dùng khoảng

2 ngày trước khi bắt đầu các tác nhân phong tỏa

beta(8) Lý do là việc phong tỏa beta đơn thuần sẽ

dẫn đến việc ngăn chặn các thụ thể beta gây giãn

mạch ngoại biên, khiến cho mạch máu ngoại vi

qua trung gian alpha không được bảo vệ Điều

trị triệt để của u tủy thượng thận là phẫu thuật

cắt bỏ tuyến thượng thận, điều trị chiếm tới 90%

trường hợp(9) Trong đó phẫu thuật nội soi xuyên

phúc mạc được báo cáo lần đầu tiên vào năm

1992 bởi Gagner et al trên ba bệnh nhân(3)

Những nỗ lực hiện tại trong điều trị nhằm mục

đích tiếp tục giảm tỷ lệ mắc bệnh liên quan đến

phẫu thuật xâm lấn tối thiểu(6), đồng thời đề xuất

để giảm phẫu thuật mở, giảm tỷ lệ mắc bệnh,

giảm đau sau phẫu thuật và thời gian nằm viện

Vì vậy, trong điều trị u tủy thượng thận có biến chứng thần kinh cần tối ưu hóa với kiểm soát tốt huyết áp và phục hồi thể tích để tránh hậu quả của phản ứng stress từ gây mê và phẫu thuật, có thể liên quan đến việc giải phóng lượng lớn catecholamine

KẾT LUẬN

U tủy thượng thận gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng lên tim mạch, mạch máu não… và thậm chí dẫn đến tử vong Vì vây đứng trước bệnh nhân u tủy thượng thận cần kiểm soát tốt huyết áp với sự phối hợp các loại thuốc hạ huyết

áp bao gồm alpha blocker và beta blocker Đồng thời, theo dõi các dấu hiệu thần kinh và phẫu thật triệt để với nội soi cắt bỏ tuyến thượng thận

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Campellone JV, Kolson DL, Wells GB et al (1995) “Cerebral infarction during hypertensive encephalopathy: Case report

with pathologic and atypical radiographic findings” Journal of

Stroke and Cerebrovascular Diseases; 5(2):66–71

2 Dinsdale H (1982) “Hypertensive encephalopathy” Stroke.; 13(5):717–719

3 Gagner M, Lacroix A and Bolte E (1992) “Laparoscopic

pheochromocytoma” The New England Journal of Medicine,

327(14):p.1033

4 Kwong YL, Yu YL, Lam KSL et al (1987) “CT appearance in hypertensive encephalopathy” Neuroradiology; 29(2):215–215

5 Lin PC, Hsu JT, Chung CM, Chang ST (2007)

“Pheochromocytoma underlying hypertension, stroke, and

dilated cardiomyopathy” Tex Heart Inst J, 34(2):244-6, 2007

6 Majic T, Aiyagari V (2008) “Cerebrovascular Manifestations of Pheochromocytoma and the Implications of a Missed

Diagnosis” Neurocritical Care; 9(3):378–381

7 Pacak K (2007) “Preoperative Management of the

Pheochromocytoma Patient” Journal of Clinical Endocrinology

and Metabolism, 92(11):4069–4079

8 Pacak K, Eisenhofer G, Ahlman H, Bornstein SR, Gimenez-Roqueplo AP, Grossman AB, Kimura N, Mannelli M, McNicol

recommendations for clinical practice from the First

International Symposium” Nat Clin Pract Endocrinol Metab,

3(2):92-102

9 Pacak K, Linehan WM, Eisenhofer G, Walther MM, Goldstein

DS (2001) “Recent advances in genetics, diagnosis, localization,

and treatment of pheochromo- cytoma” Ann Intern Med,

34(4):315-29

10 Pereira MA, Souza BF, Freire DS et al (2004)

“Pheochromocytoma” Arq Bras Endocrinol Metabol; 48:751–75

Trang 5

11 Razavi M, Bendixen B, Maley JE, Shoaib M, Zargarian M,

Razavi B, Adams HP (1999) “CNS pseudovasculitis in a patient

with pheochromocytoma” Neurology, 52(5):1088-90

12 Strandgaard S, Olesen J, Skinhoj E et al (1973) “Autoregulation

of Brain Circulation in Severe Arterial Hypertension” Br Med J;

1(5852):507–510

Ngày đăng: 15/01/2020, 19:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm