1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Ứng dụng kỹ thuật FISH và karyotype trên tế bào gai nhau trong 3 tháng đầu thai kỳ

7 72 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 293,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết ánh giá toàn diện việc ứng dụng kỹ thuật FISH và karyotype trên tế bào gai nhau tại bệnh viện Hùng Vương nhằm phục vụ tốt chương trình chẩn đoán tiền sản trong 3 tháng đầu thai kỳ.

Trang 1

ỨNG DỤNG KỸ THUẬT FISH VÀ KARYOTYPE TRÊN TẾ BÀO GAI NHAU TRONG 3 THÁNG ĐẦU THAI KỲ

Lê Quang Tín*, Nguyễn Vạn Thông*, Nguyễn Thị Thanh Trúc*, Đặng Lê Dung Nghi*,

Phạm Thị Vân Anh*, Vũ Thị Nhung**

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Chẩn đoán tiền sản được thực hiện chủ yếu trên mẫu nước ối trong 3 tháng giữa thai kỳ hoặc

trên mẫu gai nhau trong 3 tháng đầu thai kỳ Tuy nhiên, tại Việt Nam, trong khi chẩn đoán tiền sản trên mẫu nước ối được áp dụng khá rộng rãi thì chẩn đoán tiền sản trên mẫu gai nhau lại được áp dụng khá hạn chế nên cần thêm nhiều nghiên cứu để cải thiện

Mục tiêu: Đánh giá toàn diện việc ứng dụng kỹ thuật FISH và karyotype trên tế bào gai nhau tại bệnh viện

Hùng Vương nhằm phục vụ tốt chương trình chẩn đoán tiền sản trong 3 tháng đầu thai kỳ

Phương pháp: 67 ca được thực hiện sinh thiết gai nhau Mẫu gai nhau sau sinh thiết sẽ được chia làm 2

phần để làm FISH và karyotype gai nhau Kỹ thuật FISH gai nhau sử dụng mẫu dò AneuVysion để chẩn đoán nhanh các đột biến lệch bội nhiễm sắc thể 13, 18, 21, X, Y Kỹ thuật karyotype gai nhau kết hợp cả 2 phương pháp

nuôi cấy flask và nuôi cấy in situ để chẩn đoán bất thường số lượng và cấu trúc của toàn bộ bộ nhiễm sắc thể tế

bào gai nhau

Kết quả: 62 ca được thực hiện FISH với 100% cho ra kết quả, đồng thời 98,2% trùng khớp với kết quả

karyotype 67 ca được thực hiện karyotype với 91% số ca thực hiện thành công, tuy nhiên chất lượng tiêu bản vẫn còn thấp nếu so với tiêu chuẩn mới của ACMG Tỷ lệ bất thường trong nghiên cứu là 23,9%, trong đó thể tam nhiễm 21 chiếm tỷ lệ cao nhất (10,4%)

Kết luận: Kỹ thuật FISH gai nhau đã cho thấy tính hiệu quả, tuy nhiên kỹ thuật karyotype gai nhau vẫn

chưa đạt được thành công như mong đợi nên cần phải nghiên cứu thêm để cải tiến kỹ thuật

Từ khoá: FISH, karyotype, gai nhau, sinh thiết gai nhau, chẩn đoán tiền sản

ABSTRACT

THE APPLICATION OF FISH AND KARYOTYPING TECHNIQUES ON CHORIONIC VILLOUS CELLS

FOR FIRST TRIMESTER PRENATAL DIAGNOSIS

Le Quang Tin, Nguyen Van Thong, Nguyen Thi Thanh Truc, |Dang Le Dung Nghi,

Pham Thi Van Anh, Vu Thi Nhung

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 22 - No 3- 2018: 431- 437

Background: Prenatal diagnosis was primarily performed on samples of amniotic fluid in second trimester

or of chorionic villus in first trimester of pregnancy However, in Vietnam, while the prenatal diagnosis on amniotic fluid is applied broadly, the prenatal diagnosis on chorionic villus is applied fairly limited and needs more research to improve

Objectives: To evaluate the application of FISH and karyotyping techniques at Hung Vuong Hospital to

better serve the prenatal diagnosis program in the first trimester of pregnancy

Methods: Chorionic villus sampling was performed on 67 cases Then the samples were divided into 2 parts

for FISH and karyotyping techniques FISH technique on chorionic villus used AneuVysion probes to rapidly

* Bệnh viện Hùng Vương ** Hội Phụ Sản TP Hồ Chí Minh

Trang 2

detect the aneuploidies of chromosomes 13, 18, 21, X, Y And the karyotyping technique combined 2 methods of flask culturing and in situ culturing to detect chromosomal abnormalities of chorionic vilous cells

Results: 62 cases were performed FISH technique with all of them were informative and 98.2% coincided with karyotype results 67 cases were performed karyotyping technique with 91% of them successfully implemented, however the quality of the templates was lower than the new standards of the ACMG Abnormal ratio was 23.9% in the study, including trisomy 21 accounted for the highest proportion (10.4%)

Conclusion: FISH technique on chorionic villus has proved effective, however karyotyping technique has not

achieved success as expected So it need further research to improve the technology

Keyword: FISH, karyotype, chorionic villus, CVS, prenatal diagnosis

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sinh ra một đứa con khỏe mạnh luôn là

mong muốn lớn nhất của tất cả các bậc làm cha

làm mẹ Tuy nhiên, những bất thường ở thai nhi

vẫn có thể xảy ra ảnh hưởng đến sự phát triển

của trẻ sau này, trong đó, bất thường di truyền

luôn là mối quan tâm hàng đầu vì nó không thể

điều trị được và sẽ ảnh hưởng đến suốt cuộc đời

đứa trẻ Vì vậy, các bậc phụ huynh có nhu cầu

muốn biết trước rằng liệu thai nhi có bị bất

thường di truyền hay không để họ có thể quyết

định nên tiếp tục dưỡng thai hay sẽ chấm dứt

thai kỳ Từ đó, các xét nghiệm chẩn đoán tiền

sản ra đời nhằm giúp giải quyết nhu cầu bức

thiết này

Trong chẩn đoán tiền sản, kỹ thuật nhiễm

sắc thể đồ (karyotype) được xem là tiêu chuẩn

vàng vì nó giúp phát hiện các bất thường về số

lượng cũng như cấu trúc của nhiễm sắc thể

(NST) thai nhi với độ chính xác cao (99,4% -

99,8%)(6) Tuy nhiên, kĩ thuật này phải trải qua

quá trình nuôi cấy tế bào nên thời gian trả kết

quả kéo dài khoảng 14 đến 21 ngày(6) Vào đầu

thập niên 1980, kỹ thuật FISH (fluorescence in

situ hybridization) ra đời cho phép rút ngắn thời

gian trả kết quả xuống còn 2 – 3 ngày Kỹ thuật

này dựa vào tín hiệu huỳnh quang để phát hiện

sự có mặt hoặc vắng mặt của một đoạn gen nào

đó trên NST Tuy nhiên, nhược điểm của kỹ

thuật này là chỉ khảo sát được các bất thường số

lượng NST thường gặp như 13, 21, 18, X, Y

Ngày nay, cùng với sự tiến bộ của khoa học

kỹ thuật, chẩn đoán tiền sản đã phát triển mạnh

mẽ và rộng khắp trên toàn thế giới Trong đó, chẩn đoán tiền sản chủ yếu được thực hiện trên mẫu nước ối hoặc gai nhau Chẩn đoán tiền sản trên mẫu nước ối là xét nghiệm phổ biến nhất bởi ưu điểm đơn giản, tiện lợi, tuy nhiên nó chỉ

có thể thực hiện khi thai từ 16 tuần trở lên Trong khi đó, chẩn đoán tiền sản trên mẫu gai nhau tuy phức tạp và có độ rủi ro cao hơn nhưng có thể thực hiện ngay trong 3 tháng đầu thai kỳ, nhờ đó việc chấm dứt thai kỳ trở nên đơn giản hơn khi thai bất thường cũng như làm giảm tâm lý lo lắng cho phụ huynh khi thai bình thường

Tại Việt Nam, chẩn đoán tiền sản chủ yếu được thực hiện trên mẫu nước ối Các kỹ thuật chẩn đoán tiền sản trên mẫu gai nhau vẫn còn được áp dụng rất hạn chế Riêng tại bệnh viện Hùng Vương, chẩn đoán tiền sản vẫn chủ yếu dựa trên mẫu nước ối với 2 kỹ thuật chính là FISH và karyotype Trong đó, nhiều trường hợp thai có nguy cơ bất thường NST trong 3 tháng đầu thai kỳ nhưng do những hạn chế và khó khăn về kỹ thuật chẩn đoán tiền sản trên mẫu gai nhau nên thai phụ đành chờ đến 3 tháng giữa thai kỳ để chọc ối Để khắc phục tình trạng này, chúng tôi quyết định thực hiện nghiên cứu này nhằm đánh giá toàn diện việc ứng dụng kỹ thuật FISH và karyotype trên tế bào gai nhau tại bệnh viện Hùng Vương, từ đó đề ra những giải pháp nhằm hoàn thiện các kỹ thuật này để phục

vụ tốt chương trình chẩn đoán tiền sản trong 3 tháng đầu thai kỳ tại bệnh viện Hùng Vương Ngoài ra, nghiên cứu còn có mục tiêu phụ là xác định tỷ lệ bất thường di truyền của các thai có

Trang 3

chỉ định làm sinh thiết gai nhau trong tam cá

nguyệt thứ nhất

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Báo cáo loạt ca

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Thai phụ có thai từ 11 đến 14 tuần đến khám

tại bệnh viên Hùng Vương và có 1 trong số các

chỉ định sau:

Kết quả sàng lọc trong quý I thai kỳ cho thấy

thai có nguy cơ cao bị tam nhiễm 13, 18 và 21

(T13 hoặc T18, T21 ≥ 1/250);

Siêu âm trong quý I của thai kỳ phát hiện

một số dị dạng có liên quan đến các bất thường

của NST;

Chỉ số NT (nuchal translucency) cao (≥ 3,5

mm);

Cha hoặc mẹ mang các bất thường NST cân

bằng và có thể di truyền cho con

Các thai phụ được chọn lọc sẽ được tư vấn rõ

ràng và đều đồng ý tham gia nghiên cứu thông

qua bản cam kết đồng thuận có chữ ký của thai

phụ và chồng

Tiêu chuẩn loại trừ

Rối loạn đông máu, giang mai, vị trí nhau

không phù hợp với sinh thiết qua ngả bụng

Cỡ mẫu

Chọn mẫu toàn bộ

Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 1/2013 đến tháng 10/2015

Phương pháp tiến hành

Kỹ thuật sinh thiết gai nhau tại bệnh viện

Hùng Vương là kỹ thuật sinh thiết qua ngả bụng

dưới sự hướng dẫn của siêu âm Bác sĩ sẽ gây tê

tại vị trí dự định sinh thiết, tiếp đó sẽ dùng kim

SpinoCan 25G đâm xuyên qua thành tử cung

đến vị trí bánh nhau để lấy 1 lượng nhỏ mẫu gai

nhau dưới áp lực âm Mẫu gai nhau thu được sẽ

được rửa sạch máu mẹ và sẽ được thực hiện

FISH, karyotype Trường hợp lượng mẫu quá

nhỏ không đủ thực hiện cả 2 xét nghiệm thì sẽ

ưu tiên thực hiện karyotype

Kỹ thuật FISH gai nhau tại bệnh viện Hùng Vương gồm 5 bước chính: xử lý mẫu, trải lam, lai, rửa lai và phân tích kết quả Trước tiên, mẫu gai nhau thu được sẽ được xử lý bằng dung dịch nhược trương sodium citrate và dung dịch cố định Carnoy (3 methanol : 1 acid acetic) Dịch sau xử lý sẽ được trải lên lam và sẽ được nhỏ 1 lượng mẫu dò lên lam (mẫu dò AneuVysion của hãng Vysis với 2 loại là CEP 18/X/Y lai trên NST

18, X, Y và LSI 13/21 lai NST 13, 21) Tiếp đó, lam

sẽ được biến tính ở 730C trong 3 phút rồi được lai qua đêm trong bể ổn nhiệt ở 420C Sáng hôm sau, lam sẽ được ngâm với các dung dịch rửa lai và được nhuộm bằng thuốc nhuộm huỳnh quang DAPI, sau đó sẽ được phân tích kết quả dưới kính hiển vi huỳnh quang Mỗi lam sẽ khảo sát

100 nhân, trường hợp nghi ngờ thể khảm thì sẽ khảo sát 200 nhân

Kỹ thuật karyotype gai nhau tại bệnh viện Hùng Vương trải qua 4 bước chính: nuôi cấy gai nhau, thu hoạch, nhuộm và phân tích kết quả Trong đó, quá trình nuôi cấy gai nhau được thực hiện qua 2 giai đoạn: nuôi cấy flask (thời gian từ

9 – 15 ngày) và nuôi cấy in situ trên đĩa petri

chứa lá kính (từ 5 – 6 ngày) sử dụng môi trường Aminomax đặc trưng cho tế bào gai nhau tăng sinh Sau khi đạt được mật độ tế bào phù hợp, colcemid được thêm vào để ngưng phân bào ở

kỳ giữa Tiếp đó, mẫu gai nhau sẽ được thu hoạch bằng dung dịch nhược trương sodium citrate và dung dịch cố định Carnoy, dán lá kính lên lam Lam sau khi thu hoạch sẽ được nhuộm band G bằng Giemsa và trypsin, sau đó sẽ được khảo sát và phân tích bằng hệ thống kính hiển vi

có kết nối với máy vi tính chứa phần mềm Meta System Dựa theo tiêu chuẩn trích trong Diagnostic Cytogenetics (1999), mỗi ca sẽ khảo sát (đếm số lượng NST và nhận biết NST giới tính) ít nhất 15 cụm NST và phân tích (xếp thành

bộ karyotype hoàn chỉnh) 5 cụm NST

Trang 4

Thu thập và phân tích số liệu: Kết quả sẽ

được thu thập và phân tích bằng phần mềm

Microsoft Excel và Stata SE

KẾT QUẢ

Tổng cộng có 67 thai phụ tham gia nghiên

cứu với đa số thai phụ trong khoảng 12 tuần tuổi

(64,2%) Trong 67 ca thực hiện sinh thiết gai

nhau, không có trường hợp nào không thu được

gai nhau cũng như không có trường hợp nào

gặp tai biến sau sinh thiết Tuy nhiên, có 5

trường hợp lượng gai nhau thu được quá ít nên

chỉ đủ làm karyotype Vì vậy, kỹ thuật FISH chỉ

thực hiện được trên 62 trong số 67 ca sinh thiết

Bảng 1: Kết quả kỹ thuật FISH gai nhau

Kết quả FISH Số ca Tỷ lệ (%)

N=62 N=67

Bình thường 47 75,8 70,1

Bình thường XX 20 32,3 29,9

Bình thường XY 27 43,5 40,3

Thể tam nhiễm 21 7 11,3 10,4

Thể tam nhiễm 18 3 4,8 4,5

Thể tam nhiễm 13 1 1,6 1,5

Tất cả các ca thực hiện FISH đều cho ra kết

quả với 24,2% ca bất thường, trong đó thể tam

nhiễm 21 chiếm tỷ lệ cao nhất (11,3%) Có 1

trường hợp thể khảm là thể đơn nhiễm X/ XY

với tỷ lệ khảm là 37% (74/200 nhân bất thường)

Bảng 2: Kết quả kỹ thuật karyotype gai nhau

Kết quả karyotype Số ca Tỷ lệ (%)

N=61 N=67

Bình thường 46 75,4 68,7

Bình thường XX 20 32,8 29,9

Bình thường XY 26 42,6 38,8

Bất thường số lượng NST 14 23 20,9

Bất thường cấu trúc NST 1 1,6 1,5

Trong 67 ca thực hiện karyotype, 61 ca cho ra

kết quả (91%) và 6 ca không cho ra kết quả (9%)

Các trường hợp bất thường số lượng NST là thể

tam nhiễm 13/18/21 và thể đơn nhiễm X Trường

hợp bất thường cấu trúc duy nhất là chuyển đoạn giữa NST 11 và NST 20: 46,XY,der(11)t(11;20)(q21;q13.1)pat

Bảng 3: Tổng hợp kết quả FISH và karyotype gai

nhau

Kết quả xét nghiệm gai nhau Tổng (N=67) Tỷ lệ (%)

57 ca có cả 2 kết quả FISH lẫn karyotype, trong đó 56 ca kết quả FISH và karyotpe trùng khớp với nhau (chiếm 98,2%) Chỉ có duy nhất 1 trường hợp kết quả FISH và karyotype không trùng khớp khi FISH cho ra bất thường thể khảm đơn nhiễm X/ XY (37%) trong khi karyotype lại cho ra kết quả bất thường toàn bộ (9 cụm NST được khảo sát) Có 1 ca không có cả 2 kết quả do không thực hiện FISH đồng thời karyotype cũng thất bại Với 2 trường hợp trên, thai phụ được đề nghị chọc ối

Kết quả karyotype có 15 ca bất thường trong khi kết quả tổng hợp lại có 16 ca bất thường là do

1 trường hợp kết quả FISH cho ra thể đơn nhiễm

X nhưng karyotype lại không cho ra kết quả (mẫu bị nhiễm) Thai phụ được đề nghị chọc ối

và kết quả xét nghiệm nước ối trùng khớp với kết quả FISH gai nhau Tương tự, kết quả FISH

có 15 ca bất thường trong khi kết quả tổng hợp

có 16 ca bất thường là do 1 trường hợp bất thường cấu trúc không thể phát hiện bằng kỹ thuật FISH mà chỉ phát hiện được bằng karyotype (chuyển đoạn giữa NST 11 và 20) Như vậy, tỷ lệ bất thường trong nghiên cứu là 23,9%, trong đó, thể tam nhiễm 21 vẫn là bất thường phổ biến nhất với 10,4% (chiếm 43,8% trong số các trường hợp bất thường)

Trang 5

BÀN LUẬN

Kết quả sinh thiết gai nhau

Trong số 67 ca thực hiện sinh thiết gai nhau

tại bệnh viện Hùng Vương, không có trường

hợp nào gặp tai biến sau thủ thuật Đây là một

kết quả khá khả quan, tuy nhiên tỷ lệ sẩy thai

theo lý thuyết là khoảng 1%(5).. Vì vậy, nếu muốn

chứng minh mức độ an toàn của kỹ thuật sinh

thiết gai nhau tại bệnh viện Hùng Vương, cần

phải nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn rất nhiều

Kết quả FISH gai nhau

Kỹ thuật FISH gai nhau trong nghiên cứu

này được thực hiện trên 62 ca với 100% số ca cho

ra kết quả Nếu so với kết quả karyotype, trong

số 57 ca có cả 2 kết quả FISH lẫn karyotype, tỷ lệ

tương thích giữa FISH và karyotype là 98,2%

(KTC 95% 0,91 – 0,99) với chỉ duy nhất 1 ca kết

quả FISH không trùng khớp với karyotype Đó

là trường hợp kỹ thuật FISH cho ra kết quả thể

khảm đơn nhiễm X/ XY (74/200 nhân bất thường

chiếm 37%) trong khi karyotype cho ra bất

thường toàn bộ Do karyotype được xem là tiêu

chuẩn vàng trong chẩn đoán tiền sản nên kết

quả karyotype có độ tin cậy rất cao Tuy nhiên,

trong xét nghiệm gai nhau, kết quả đôi khi có sai

lệch mà nguyên nhân không phải xuất phát từ

vấn đề kỹ thuật mà là do những hạn chế của xét

nghiệm gai nhau Do có sự khác biệt về nguồn

gốc của nhau và thai khi thai có nguồn gốc từ

khối tế bào trong (ICM: inner cell mass), trong

khi nhau có nguồn gốc từ khối tế bào trong lẫn

nguyên bào nuôi (trophoblast) trong giai đoạn

blastocyst(10) Vì vậy, nhiều khả năng kết quả về

mặt di truyền của thai và nhau sẽ khác nhau

Trong đó, không loại trừ khả năng kết quả gai

nhau là bất thường trong khi thai là bình thường

tạo thành hiện tượng khảm khú trú bánh nhau

(CPM: confined placental mosaicsm)(3) Do đó, để

đảm bảo tính chính xác của kết quả, những ca

xét nghiệm gai nhau cho kết quả khảm nên tiếp

tục xét nghiệm nước ối để làm đối chứng(3,10)

Với trường hợp trong nghiên cứu, nếu kết

quả chọc ối là thể đơn nhiễm X (toàn bộ hoặc

khảm) thì đây là trường hợp khảm thật sự Nếu kết quả chọc ối là bình thường thì đây là trường hợp khảm khu trú bánh nhau loại II hoặc III (bất thường tồn tại trên tế bào gai nhau nuôi cấy nhưng không tồn tại trong thai)(3) Đáng tiếc là thai phụ đã quyết định bỏ thai thay vì chọc ối, do

đó ta không thể biết chính xác thai nhi rơi vào trường hợp nào Dù vậy, với việc thể đơn nhiễm

X tồn tại ở cả kết quả FISH lẫn karyotype, đồng thời cũng phù hợp với kết quả siêu âm (nang thanh dịch vùng gáy) nên cũng cho thấy độ tin cậy của 2 kỹ thuật này

Nếu so với các nghiên cứu khác trên thế giới như của Brydorf (1996), Quilter (2001), Goumy (2004), Toutain (2009) thì các nghiên cứu này cũng tương tự như nghiên cứu của chúng tôi với 100% số ca thực hiện cho ra kết quả và gần như tất cả đều trùng khớp với karyotype(1,2,7,9) Kết quả của nghiên cứu này cũng cho thấy độ nhạy

và độ đặc hiệu của kỹ thuật FISH gai nhau là gần như tuyệt đối, khi không có trường hợp dương tính giả hay âm tính giả nào được ghi nhận Do

đó, có thể khẳng định FISH gai nhau là một công

cụ chẩn đoán nhanh, hiệu quả và chính xác Trong số các xét nghiệm tiền sản nhanh hiện nay, bên cạnh kỹ thuật FISH, kỹ thuật QF-PCR (Quantitative Fluorescence Polymerase Chain Reaction) tuy ra đời muộn hơn nhưng ngày càng trở nên phổ biến nhờ các ưu điểm như đơn giản,

có thể tự động hoá, lượng mẫu sử dụng ít, có thể trả kết quả trong ngày Tuy nhiên, kỹ thuật này đòi hỏi hệ thống PCR và hệ thống điện di mao quản đắt tiền trong khi kỹ thuật FISH chỉ cần hệ thống kính hiển vi huỳnh quang thường có tại các trung tâm tế bào di truyền(6) Bên cạnh đó, kỹ thuật FISH rất có hiệu quả trong chẩn đoán các trường hợp thể khảm do khảo sát từng nhân tế bào nên sẽ cho ra cụ thể tỷ lệ bất thường Số lượng nhân tế bào được khảo sát trong trường hợp thể khảm sẽ tăng lên (khoảng 200 nhân) để cho ra tỷ lệ bất thường chính xác, điều mà kỹ thuật QF-PCR rất khó để xác định Vì vậy, kỹ thuật FISH vẫn còn đóng vai trò quan trọng, đặc biệt ở các trung tâm di truyền vừa và nhỏ(6)

Trang 6

Kết quả karyotype gai nhau

Trong số 67 ca thực hiện karyotype, có 56 ca

đạt tiêu chuẩn (chiếm 83,6%), 11 ca không đạt

tiêu chuẩn, trong đó có 3 ca không có tế bào

Trong 8 ca còn lại, có 5 ca có kết quả bất thường

và cả 5 ca đều trùng với kết quả FISH nên vẫn có

thể trả kết quả Tổng cộng có 61 ca cho ra kết quả

karyotype và 6 ca không cho ra kết quả Như

vậy, tỷ lệ thành công của karyotype gai nhau

trong nghiên cứu này là 91% (KTC 95% 0,82 –

0,97) Trong số các ca thực hiện thành công, kết

quả các cụm được khảo sát đều trùng khớp với

nhau và trùng khớp với kết quả FISH (không

tính trường hợp thể khảm) Trong số 6 ca thất bại

có 1 ca không làm FISH, vì thế không có kết quả

để trả và thai phụ được đề nghị chọc ối Trong 5

ca còn lại, có 3 ca thai phụ muốn chọc ối làm xét

nghiệm và cả 3 ca kết quả đều trùng khớp với

kết quả FISH gai nhau

Trong số 6 ca thất bại, có 1 ca bị nhiễm

khuẩn, 2 ca tế bào không phát triển và 3 ca

không đủ số lượng cụm NST để trả kết quả

Trường hợp bị nhiễm có thể do sơ suất trong quá

trình thao tác Nguyên nhân tế bào không phát

triển là do lượng mẫu thu được quá ít, vì vậy

không thể phân biệt được đó là gai nhau hay là

màng rụng của mẹ Do đó, nhiều khả năng mẫu

cấy không phải là gai nhau nên tế bào không thể

tăng sinh trong môi trường nuôi cấy Với 3 ca có

số lượng cụm NST ít (12, 13, và 10 cụm NST), do

không phù hợp với tiêu chuẩn đã đề ra (15 cụm)

nên không thể trả kết quả

Nếu so với các nghiên cứu của Iqbal (1998),

Sikkema- Raddatz (2000), Jorge (2014) thì kết quả

karyotype trong nghiên cứu này vẫn còn thấp

hơn so với các nghiên cứu khác trên thế giới

(mức độ thành công lần lượt là 99,6; 99,7 và

93,7%)(4,5,8) Đồng thời, theo tiêu chuẩn mới nhất

của ACMG công bố năm 2009, karyotype gai

nhau nên khảo sát ít nhất là 20 cụm NST đến từ 2

nuôi cấy độc lập tức cao hơn tiêu chuẩn hiện tại

của phòng chúng tôi Tuy nhiên, trong điều kiện

của bệnh viện Hùng Vương hiện nay rất khó để

áp dụng tiêu chuẩn này mà nguyên nhân chủ

yếu là do trang thiết bị còn hạn chế Khác với nuôi cấy tế bào ối, nuôi cấy gai nhau khó khăn hơn nhiều đồng thời cũng có những đòi hỏi cao hơn về trang thiết bị và hóa chất sử dụng Bên cạnh đó, vấn đề giá thành của 1 ca nuôi cấy gai nhau cần phù hợp với kinh tế của người dân Việt Nam Nếu như theo tiêu chuẩn mới này, trong số 67 ca thực hiện karyotype, chỉ có 32 ca đạt chuẩn về số lượng cụm NST chiếm tỷ lệ 47,8% Vì vậy, trước mắt chúng tôi chưa thể áp dụng tiêu chuẩn mới của ACMG Tuy nhiên, chúng tôi vẫn sẽ tiếp tục nghiên cứu cải tiến nhằm hướng đến tiêu chuẩn mà ACMG vừa công bố

Tóm lại, do những hạn chế về trang thiết bị

và hóa chất, chất lượng karyotype gai nhau vẫn chưa đạt được thành công như mong đợi Vì vậy, chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu cải tiến sao cho kỹ thuật karyotype gai nhau có thể cho ra chất lượng tốt nhất trong điều kiện cơ sở vật chất thiết bị phòng xét nghiệm di truyền của bệnh viện Hùng Vương hiện nay

Như vậy, nếu tổng hợp cả kết quả FISH lẫn karyotype gai nhau, trong số 67 ca trong nghiên cứu, có 50 ca bình thường chiếm tỷ lệ 74,6% và

16 ca bất thường chiếm 23,9%, trong đó thể tam nhiễm 21 có số lượng nhiều nhất (chiếm 43,8% trong các ca bất thường) Điều này phù hợp với y văn do thể tam nhiễm 21 là bất thường di truyền phổ biến nhất(1,9) Nhìn chung, tỷ lệ bất thường của các ca làm sinh thiết gai nhau cao hơn nhiều

so với các ca chọc ối (vốn chỉ chiếm từ 3 – 5% theo số liệu từ phòng Di truyền – Bệnh viện Hùng Vương) Nguyên nhân là do nhiều trường hợp bất thường NST trong tam cá nguyệt thứ nhất sẽ sẩy thai trước khi bước qua tam cá nguyệt thứ 2 Do đó, số ca bất thường NST được phát hiện trong tam cá nguyệt thứ nhất sẽ cao hơn trong tam cá nguyệt thứ 2 Bên cạnh đó những ca có chỉ định sinh thiết gai nhau thường

có tỷ lệ bất thường trên siêu âm cao hơn so với chỉ định chọc ối

Trang 7

Nguy cơ nhiễm tế bào mẹ

Nhiễm tế bào mẹ là một vấn đề lớn trong

chẩn đoán tiền sản vì có thể làm sai lệch kết quả

Trong xét nghiệm gai nhau, màng rụng và máu

chính là nguồn tế bào mẹ trong mẫu nhau(10) Tuy

nhiên, vấn đề không quá nghiêm trọng như xét

nghiệm nước ối do mẫu nhau thu được bằng kỹ

thuật sinh thiết gai nhau sẽ trải qua quá trình

tách máu và màng rụng trước khi xét nghiệm(2)

Nếu quá trình phân tách ban đầu tốt thì tế bào

mẹ nếu còn sót lại cũng chỉ nằm trong khoảng từ

1,8 – 4%, không ảnh hưởng nhiều đến kết quả

KẾT LUẬN

Qua 67 trường hợp thực hiện sinh thiết gai

nhau tại bệnh viện Hùng Vương, tỷ lệ bất

thường là 23,9%, trong đó thể tam nhiễm 21

chiếm tỷ lệ cao nhất (10,4%) Kỹ thuật FISH đã

cho thấy tính hiệu quả với 100% số ca cho ra kết

quả, đồng thời sự tương thích giữa kết quả FISH

và karyotype gai nhau là 98,2% (KTC 95% 0,91 –

0,99) Kỹ thuật karyotype gai nhau tuy có tỷ lệ

thành công 91% (KTC 95% 0,82 – 0,97) thấp hơn

so với nhiều nghiên cứu khác trên thế giới, đồng

thời chất lượng tiêu bản cũng thấp hơn so với

tiêu chuẩn của ACMG Do đó, cần tiếp tục

nghiên cứu với số lượng mẫu lớn hơn nhằm cải

tiến quy trình karyotype gai nhau để nâng cao

chất lượng kỹ thuật

TÀI LIỆU THAM KHẢO

B, Klinger K, Bang J, Philip J (1996), "Prenatal detection of

chromosome aneuploidies in uncultured chorionic villus

samples by FISH", Am J Hum Genet, 59 (4), 918-926

Jaffray J, Lacroute G, Geneix A, Lemery D, Vago P (2004),

"Chorionic villus sampling (CVS) and fluorescence in situ hybridization (FISH) for a rapid first-trimester prenatal

diagnosis", Prenatal Diagnosis, 24 (4), 249-256

Trotta A, Dulcetti F, Grosso E, Miozzo M, Maggi F, Simoni G (2006), "Confirmation of mosaicism and uniparental disomy in amniocytes, after detection of mosaic chromosome

abnormalities in chorionic villi", European Journal of Human

Genetics, 14 (3), 282–288

"Cytogenetic evaluation of 1000 cases of chorionic villus

sampling", Annals of Saudi Medicine, 18 (6), 506-510

Fortuna A (2014), "A 26-Year Experience in Chorionic Villus

Sampling Prenatal Genetic Diagnosis", Journal of Clinical

Medicine, 3 (3), 838-848

Hùng Vân (2011), "Ứng dụng và kinh nghiệm sử dụng kỹ thuật chẩn đoán nhanh (FISH, MLPA và QF-PCR) các bất thường lệch bội nhiễm sắc thể thường gặp trong chẩn đoán

trước sinh", Tạp chí Y Học Thành Phố Hồ Chí Minh, 15 (2), 39-44

8

Hasting R, Delhanty J (2001), "Aneuploidy screening in direct chorionic villus samples by flourescence in situ hybridisation:

the uses of commercial probes in a clinical setting", British

Journal of Obstetrics and Gynaecology, 108 (2), 215-218 6

Stoepker M, Mantingh A, Beekhuis J, de Jong B (2000), "Four years' cytogenetic experience with the culture of chorionic

villi", Prenatal Diagnosis, 20 (12), 950-955 7

F, Horovitz J, Saura R (2010), "First-trimester prenatal diagnosis performed on pregnant women with fetal ultrasound abnormalities: The reliability of interphase fluorescence in situ hybridization (FISH) on mesenchymal

core for the main aneuploidies", European Journal of Obstetrics

& Gynecology and Reproductive Biology, 149, 143-146

Ngày phản biện nhận xét bài báo: /10/2017 Ngày bài được đăng: 20/04/2018

Ngày đăng: 15/01/2020, 19:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm