Phương pháp nhuộm HMMD protein EGFR đặc hiệu mất đoạn E746-A750 và đột biến điểm L858R có độ nhạy và độ đặc hiệu cao cho việc xác định EGFR đột biến và là phương pháp sàng lọc hữu ích đầu tay cho việc phát hiện EGFR đột biến có ý nghĩa cho việc điều trị nhắm đích.
Trang 1ĐỐI CHIẾU KẾT QUẢ GIỮA PHƯƠNG PHÁP NHUỘM HÓA MÔ MIỄN DỊCH ĐẶC HIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢI TRÌNH TỰ GEN EGFR TRONG
UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ
Ngô Thị Tuyết Hạnh * ; Hoàng Anh Vũ ** , Hứa Thị Ngọc Hà * , Đặng Hoàng Minh * , Nguyễn Sào Trung*
TÓM TẮT
Giới thiệu: Ngày nay tỉ lệ ung thư phổi ngày càng tăng cao nên việc phân tích đột biến gen EGFR trong
ung thư phổi là rất cần thiết vì những bệnh nhân có đột biến gen EGFR trong ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN) gắn với tiên lượng xấu và có khả đáp ứng tốt với thuốc nhắm trúng đích phân tử ức chế miền tyrosine kinase (erlotinib, gefitinib) Nhuộm HMMD với kháng thể đặc hiệu EGFR mất đoạn E746 –A750 tại exon 19 và đột biến điểm L858R tại exon 21 đồng thời với phương pháp giải trình tự gen nhằm đối chiếu kết quả giữa hai phương pháp và nhằm xác định phương pháp nhuộm HMMD đặc hiệu có phải là một phương pháp sàng lọc hữu ích đầu tay cho việc phát hiện EGFR đột biến
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 70 bệnh nhân UTPKTBN được giải trình tự gen EGFR bằng máy
ABI 3130 Genetic Analyzer tại TT Y sinh học phân tử – Đại học Y Dược TPHCM Các trường hợp này cũng đã được nhuộm HMMD bằng máy Benchmark, với kháng thể kháng protein EGFR đặc hiệu (kháng thể đặc hiệu mất đoạn E746 –A750 tại exon 19 và đột biến điểm L858R tại exon 21) và được tính dựa vào cường độ bắt màu màng bào tương với điểm cắt là 10% tế bào u như sau: (0) không nhuộm màng hoặc nhuộm cường độ mờ nhạt < 10% các tế bào u; (1+): cường độ nhuộm mờ nhạt > 10% các tế bào u; (2+): cường độ nhuộm trung bình; (3+): Cường
độ nhuộm mạnh Các trường hợp được coi là dương tính: 1+; 2+; 3+ Các trường hợp âm tính: 0 điểm Đối chiếu kết quả HMMD đặc hiệu với kết quả giải trình tự gen
Kết quả: có 17 trường hợp có biểu hiện protein E746-A750 (24,3%), có 18 trường hợp có biểu hiện protein
L858R (25,7%), có 34 trường hợp có đột biến của EGFR (48,6%) trong đó có 1 trường hợp đột biến exon 18, 20 trường hợp đột biến exon 19 (28,6%); 1 trường hợp đột biến exon 20 và 14 đột biến exon 21 (20%) Có 2 trường hợp mang cùng lúc đột biến của cả 2 gen exon 19 và 21 Có sự liên quan có ý nghĩa thống kê giữa phương pháp nhuộm hóa mô miễn dịch đặc hiệu và phương pháp giải trình tự đột biến gen EGFR (p = 0,001 và p = 0,004)
Kết luận: Phương pháp nhuộm HMMD protein EGFR đặc hiệu mất đoạn E746-A750 và đột biến điểm
L858R có độ nhạy và độ đặc hiệu cao cho việc xác định EGFR đột biến và là phương pháp sàng lọc hữu ích đầu tay cho việc phát hiện EGFR đột biến có ý nghĩa cho việc điều trị nhắm đích
Từ khóa: Hóa mô miễn dịch, EGFR đặc hiệu, giải trình tự gen EGFR, ung thư phổi không tế bào nhỏ
ABSTRACT
COMPARISON OF SPECIFIC IMMUNOHISTOCHEMISTRY STAINING MOTHOD WITH SEQUENCING OF EGFR MUTATION IN PATIENTS WITH NON-SMALL CELL LUNG CANCER
Ngo Thi Tuyet Hanh, Hoang Anh Vu, Hua Thi Ngoc Ha, Dang Hoang Minh, Nguyen Sao Trung
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 19 - No 5 - 2015: 91 - 96
Background: Currently, the percentage of lung cancer cases is increasing Therefore, the analysis of EGFR
mutations in lung cancer is necessary for patients with EGFR mutations in non-small cell lung cancer (NSCLC) associating with poor prognosis and are likely to respond well to drugs targeting molecules on targeted tyrosine
* Bộ môn Giải Phẫu Bệnh, Đại học Y Dược TP.HCM ** TT Sinh Học Phân tử, Đại học Y Dược TP.HCM
Tác giả liên lạc: ThS Ngô Thị Tuyết Hạnh ĐT: 0918181722 Email: tuyethanhngo72@gmail.com
Trang 2kinase domain inhibitors (erlotinib, gefitinib) Immunohistochemistry (IHC) staining with EGFR specific antibodies deletion E746-A750 in exon 19 and point mutation L858R in exon 21 was tested in conjunction with sequencing method to compare the results between two methods, and to determine the usefulness of IHC specific methods prior to detect EGFR mutations
Methods: 70 NSCLC patients were sequenced EGFR gene by ABI 10 Genetic Analyer in Center for
Molecular Biomedicine, Ho Chi Minh City Medicine and Pharmacy University These cases also had been dyed IHC by Benchmark with antibodies against EGFR specific protein (deletion specific antibodies in exon 19 E746-A750 and L585R point mutations in exon 21), and calculated based on the intensive staining of cytoplasmic membrane with 10% cutoff point of tumor cells as follows: 0: no staining is observed, or membrane staining < 10% of tumor cells; 1+: a faint/barely perceptible membrane staining > 10% of tumor cells; 2+: a weak to moderate complete membrane staining; 3+: a strong complete membrane staining; The cases were considered postitive: 1+; 2+; 3+; Negative cases: 0; The results of specific IHC and gene sequencing were compared
Results: Seventeen cases had protein expression E746-A750 (24.3%), 18 cases had L858R protein expression
(25.7%) There were 34 cases of EGFR mutations (48.6%), in which 1 case in exon 18, 20 cases in exon 19 (28.6%); 1 case in exon 20, and 14 cases in exon 21 Two cases had mutations in both exon 19 and 21 There was a statistically significant between specific IHC method and mutation sequencing of EGFR (p<0,001 and p=0,004)
Conclusion: The specific IHC of deletion EGFR protein E746-A750 and L585R point mutations had high
sensitivity and specificity in determining EGFR mutations and useful for prior screening detecting EGFR mutations significance for targeted treatment
Key words: immunohistochemistry, sequencing EGFR, non small cell lung cancer
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Globocan thế giới năm 2012, ung thư
phổi là loại ung thư thường gặp nhất tính chung
cả hai giới nam nữ với 1.824.701 trường hợp mắc
mới (12,9%) và cũng là loại ung thư gây tử vong
cao nhất với 1.590.000 trường hợp tử vong
(19,4%) trong tổng số tử vong do ung thư So với
Globocan năm 2008 trên thế giới tỉ lệ mắc mới và
tỉ lệ tử vong (1.608.000 trường hợp mắc mới và
1.378.000 trường hợp) ngày càng tăng Globocan
năm 2008, cũng cho thấy ở VN ung thư phổi
chiếm vị trí thứ hai sau ung thư gan ở cả hai giới
nam nữ với 111.600 trường hợp mắc mới và là
nguyên nhân gây tử vong đứng thứ hai (18,2%)
trong tổng số tử vong do ung thư(3,15)
Ung phổi không tế bào nhỏ chiếm 70-75%
các loại ung thư phổi và hiện nay có thể coi là
chưa có được liệu pháp điều trị thỏa đáng cho
hầu hết ung thư phổi(3)
Gần đây những hiểu biết sinh học mới và
việc ứng dụng sinh học phân tử trong ung thư
đã mở ra các liệu pháp điều trị mới nhắm đích
phân tử đạt được một số kết quả nhất định và hứa hẹn một tương lai tươi sáng hơn trong tầm soát để phát hiện sớm ung thư, đồng thời cũng cho phép tiên lượng bệnh nhân ung thư về mức
độ đáp ứng điều trị
EGFR (Epidermal Growth Factor Receptor)
là gen nằm trên nhiễm sắc thể số 7, mã hóa protein EGFR (HER1) xuyên màng có trọng lượng phân tử 170 kDa Protein EGFR là thành viên trong gia đình HER gồm 4 thành viên Khi các protein này gắn với ligand hoặc bắt cặp với nhau, miền nội bào tyrosine kinase sẽ kích hoạt dòng thác tín hiệu vào nhân làm tế bào phát triển bất thường, giảm sự chết theo chương trình, tăng sinh mạch và cho di căn Đột biến gen
EGFR sẽ làm phosphoryl hóa tyrosine kinase và
làm tăng dòng thác tín hiệu đến nhân, làm tế bào phát triển nhanh(9,14) Đột biến gen EGFR được
xác định bằng nhiều phương pháp: PCR, giải trình tự gen và gần đây là phương pháp nhuộm hóa mô miễn dịch trong đó có HMMD đặc hiệu (kháng thể đặc hiệu mất đoạn E746 –A750 tại exon 19 và đột biến điểm L858R tại exon 21)
Trang 3Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về các
đột biến gen như đột biến gen EGFR (15 -25 %),
đột biến gen Kras (18%), đột biến gen tổ hợp
EML4 - ALK (4-8%), đột biến gen p53 đó là các
yếu tố chỉ định điều trị hoặc yếu tố tiên lượng
Đột biến gen EGFR trong ung thư phổi không tế
bào nhỏ gắn với tiên lượng xấu và khả đáp ứng
tốt với thuốc nhắm trúng đích phân tử ức chế
miền tyrosine kinase (erlotinib, gefitinib) và
được báo cáo lần đầu tiên năm 2004 trên những
bệnh nhân có đáp ứng với gefitinib(8,11 ) Đột biến
xảy ra tại các exon 18 – 21, khiến cho protein
EGFR luôn trong trạng thái hoạt hóa không phụ
thuộc chất truyền tín hiệu ngoại bào Tỉ lệ bệnh
nhân có mang đột biến EGFR rất khác nhau giữa
các chủng tộc: Tỉ lệ này chỉ xấp xỉ 3% ở người
Mỹ, nhưng lên đến khoảng 32% ở người Nhật(10),
36,4% ở Hàn Quốc(1), 55% ở Đài Loan(6) và 57,4%
ở Thái Lan(13), đặc biệt ở Châu Á tỉ lệ đột biến gen
EGFR dao động từ 39%-64%, trong đó thường
gặp nhất là đột biến mất đoạn (deletion) xảy ra
trên exon 19 (khoảng 50%), (thường xuyên nhất
là mất đoạn E746-A750) và kế đến là đột biến
điểm L858R tại exon 21 (khoảng 35-45%) (thay
thế của leucine 858 bởi arginine (L858R) Các đột
biến thêm đoạn (duplication) trên exon 20 hay
đột biến điểm trên exon 18 ít gặp hơn (khoảng
5%) Đặc biệt, đột biến hầu như chỉ gặp trên loại
carcinôm tuyến, rất hiếm khi tìm thấy ở
carcinôm gai – tuyến(9,14) Hơn nữa đột biến cũng
thường tìm thấy trên bệnh nhân nữ hơn trên
bệnh nhân nam Tỉ lệ đột biến cao tìm thấy trên
người châu Á phù hợp với quan sát trong những
thử nghiệm lâm sàng trước đây, trong đó bệnh
nhân châu Á có đáp ứng cao hơn hẳn với điều trị
đặc hiệu so với bệnh nhân Âu – Mỹ Như vậy,
nghiên cứu đột biến gen EGFR sẽ cho phép đánh
giá được đáp ứng điều trị nhắm đích của
gefitinib, erlotinib trong ung thư phổi
Tại Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu về
dịch tễ học, lâm sàng và giải phẫu bệnh của ung
thư phổi, nhưng thiếu các nghiên cứu đi sâu tìm
hiểu về đặc điểm sinh học của tế bào ung thư và
sự tương tác giữa chúng với nhau, về sự biểu
hiện của protein EGFR và cơ chế phân tử của căn bệnh phổ biến này Nhóm tác giả trong nghiên cứu này đã thực hiện đề tài cấp Sở Khoa
học công nghệ TP HCM về đột biến gen EGFR
trong ung thư phổi không tế bào nhỏ bằng phương pháp giải trình tự gen Trong nghiên cứu này chúng tôi xác định sự biểu hiện của protein EGFR đặc hiệu (kháng thể đặc hiệu mất đoạn E746 –A750 tại exon 19 và đột biến điểm L858R tại exon 21), mô tả phổ đột biến của gen
EGFR trên cùng mẫu nghiên cứu của đề tài Cấp
Sở Khoa học công nghệ TP HCM, nhằm đối chiếu kết quả giữa hóa mô miễn dịch đặc hiệu
và phương pháp giải trình tự gen EGFR trên
bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ ở Việt Nam và nhằm xác định phương pháp nhuộm HMMD đặc hiệu có phải là một phương pháp sàng lọc hữu ích đầu tay cho việc
phát hiện EGFR đột biến
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu
70 bệnh nhân UTPKTBN được chẩn đoán tại
Bộ môn Giải Phẫu Bệnh - Đại học Y Dược TPHCM từ tháng 11/2010 đến tháng 11/2014
Tiêu chuẩn chọn bệnh
Bệnh nhân UTPKTBN có kết quả giải trình
tự gen EGFR tại TT Y Sinh Học Phân tử – Đại học Y Dược TPHCM
Tiêu chuẩn loại trừ
Không ly trích được protein
Phương pháp nghiên cứu
(1) Các mẫu bệnh phẩm phẫu thuật UTPKTBN đều được chẩn đoán xác định bằng nhuộm HE thường qui, thuộc 1 trong các thể giải phẫu bệnh sau: carcinôm tuyến, carcinôm gai – tuyến và carcinôm tế bào lớn
(2) Vùng có tế bào ung thư được đánh dấu
và chọn lọc để lấy mẫu làm xét nghiệm giải trình
tự gen EGFR trực tiếp các exon 18, 19, 20, 21 bằng máy ABI 3130 Genetic Analyzer
Trang 4(3) Nhuộm hóa mô miễn dịch với kháng thể
chống EGFR đặc hiệu L858R (SP 125) Rabbit
monoclonal primary antibody va E746 – A750
(SP 111) Rabbit monoclonal primary antibody
(Ventana) trong ung thư phổi không tế bào nhỏ
bằng máy Benchmark XT
* Quy trình nhuộm HMMD bằng máy
Benchmark XT (Ventana)
Dùng lam có superfrost (mang điện tích
dương)
Khử paraffin bằng dung dịch EZ Prep
Bộc lộ kháng nguyên bằng dung dịch CC1
Rửa bằng dung dịch reaction buffer
Ủ với kháng thể EGFR 40 phút ở 37oC (nhà
Sản xuất đã pha loãng KT)
Rửa bằng dung dịch reaction buffer
Gắn màu với bộ kit ultraview Universal
DAB Detection Kit
Rửa bằng dung dịch reaction buffer
Nhuộm nền với Hematoxyline
4 Đánh giá kết quả nhuộm dựa vào cường
độ bắt màu màng bào tương với điểm cắt là 10%
tế bào u
0: không nhuộm màng hoặc nhuộm với
cường độ mờ nhạt < 10% các tế bào u
1+: cường độ nhuộm mờ nhạt > 10% các tế
bào u
2+: cường độ nhuộm trung bình
3+: Cường độ nhuộm mạnh
Các trường hợp được coi là dương tính: 1+;
2+; 3+
Các trường hợp âm tính: 0
5 Đối chiếu kết quả nhuộm HMMD đặc
hiệu với kết quả giải trình tự gen EGFR Các
số liệu được xử lý thống kê bằng phần mềm
stata 10
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Tuổi và giới
Bao gồm 39 bệnh nhân nam và 31 nữ, tỉ lệ
nam/nữ là 1,3/1
Tuổi trung bình của bệnh nhân là 60 (± 12,2), (khoảng tuổi 18 - 85)
Mô bệnh học
Đa số bệnh nhân được chẩn đoán carcinôm tuyến 88,6% với các giai đoạn xâm lấn và di căn Các dạng mô bệnh học khác 11,4% (bao gồm carcinôm tế bào lớn (8,6%) và carcinôm gai – tuyến (2,8%)
Kết quả nhuộm hóa mô miễn dịch
Trong tổng số 70 đối tượng nghiên cứu, có 17 bệnh nhân có sự biểu hiện của protein EGFR dương E746- A750 (24,3%), có 53 bệnh nhân biểu hiện của protein EGFR âm tính E746 - A750 (75,7%) Có 18 bệnh nhân có biểu hiện dương tính với L858R chiếm (25,7%) và có 52 bệnh nhân
có biểu hiện âm tính với L858R chiếm (75,7%)
Có 3 trường hợp biểu hiện của protein EGFR dương tính với cả 2 E746-A750 và L858R Các nghiên cứu trước đây cho thấy phương pháp nhuộm hóa mô miễn dịch là phương pháp nhằm phát hiện protein EGFR là một phương pháp đầu tay trước khi giải trình tự chuỗi DNA vì phương pháp này đơn giản và rẻ tiền(15,4,2) Tuy nhiên gần đây có một số nghiên cứu cho thấy phương pháp nhuộm HMMD với kháng thể đặc hiệu EGFR mất đoạn E746- A750 và đột biến điểm L858R có độ nhạy và độ đặc hiệu cao và là phương pháp sàng lọc hữu ích đầu tay cho việc
phát hiện EGFR đột biến, có ý nghĩa cho việc
điều trị nhắm đích
Đột biến gen EGFR
Các nghiên cứu trước đây đều cho thấy
đột biến EGFR trong ung thư phổi tập trung
tại 4 exon 18 – 21 Chúng tôi đã sử dụng kỹ thuật giải trình tự DNA để khảo sát 4 exon này cho 70 bệnh nhân, phát hiện 34 trường
hợp có đột biến EGFR (48,6%) Trong 62
trường hợp carcinôm tuyến có 31 trường hợp
có đột biến EGFR, chiếm 50%; trong khi các
loại mô học khác mang đột biến với tỉ lệ thấp hơn là 37,5 % Trong những đột biến được phát hiện, đột biến tại exon 19 chiếm tỉ lệ cao nhất 20 trường hợp (28,6%), kế đến là exon 21
Trang 5chiếm 14 trường hợp (20%) Exon 18 và 20 ít bị
đột biến hơn 1 trường hợp (1,4%), có 2 trường
hợp có đột biến cho cả hai exon 19 và 21
Tương quan giữa đột biến gen và các đặc điểm giải phẫu bệnh
Bảng 1: Tương quan đột biến gen với đặc điểm giải phẫu bệnh
(95% CI) P Bình thường (n = 36) Đột biến (n = 34)
*Bao gồm carcinôm gai – tuyến và carcinôm tế bào lớn
Chúng tôi thấy có mối liên quan có ý nghĩa
thống kê giữa đột biến gen EGFR với giới tính (p
= 0,004) Bệnh nhân nữ có đột biến cao gấp 4,2
lần bệnh nhân nam Trong các nghiên cứu khác
trên thế giới, đột biến hầu như chỉ gặp trên loại
carcinôm tuyến, rất hiếm khi tìm thấy ở
carcinôm gai – tuyến (9) (14), trong nghiên cứu của
chúng tôi cũng không có trường hợp carcinôm gai - tuyến nào mang gen đột biến Hơn nữa, đột biến cũng thường tìm thấy hơn trên bệnh nhân
nữ so với bệnh nhân nam(13) Không thấy có sự liên quan có ý nghĩa thống kê giữa đột biến gen với độ mô học và tuổi của bệnh nhân
Tương quan giữa nhuộm HMMD đặc hiệu với đặc điểm giải phẫu bệnh
Bảng 2: Tương quan kết quả nhuộm HMMD đặc hiệu với đặc điểm giải phẫu bệnh
Đặc điểm Biểu hiện của protein EGFR OR
(95% CI) P
Âm tính (n = 38) Dương tính (n = 32)
*: Carcinôm gai tuyến và carcinôm tế bào lớn
Kết quả nghiên cứu gợi ý có mối liên quan có
ý nghĩa thống kê giữa nhuộm HMMD đặc hiệu
với giới tính Bệnh nhân nữ có HMMD đặc hiệu
dương tính cao gấp 4,1 lần bệnh nhân nam
(OR=4,1; 95% CI: 1,4-12,6) Không thấy có sự liên
quan có ý nghĩa thống kê giữa nhuộm HMMD
với tuổi và loại mô học của bệnh nhân
Tương quan giữa nhuộm HMMD E746 –
A750 và L858R với đột biến gen EGFR
Những trường hợp biểu hiện protein
EGFR dương tính E746-A750 sẽ có đột biến
gen EGFR cao hơn gấp 31,1 lần những trường
hợp có biểu hiện protein EGFR âm tính (p=
0,001) Những trường hợp biểu hiện protein EGFR dương tính L858R sẽ có đột biến gen EGFR cao hơn gấp 5,6 lần những trường hợp
có biểu hiện protein EGFR âm tính (p= 0,001) Kháng thể E746-A750: độ nhạy = 80%, đặc hiệu = 98% Kháng thể L858R: độ nhạy = 78,6%
và đặc hiệu = 85,7% Chung 2 kháng thể: độ nhạy = 79,4% và đặc hiệu = 86,1%
Độ nhạy và độ đặc hiệu của phương pháp nhuộm HHMD gen EGFR đặc hiệu E746-A750
và L858R là khá cao và chỉ có hai loại này của đột biến EGFR (hai loại chính chiếm hơn 90%) được đánh giá bởi HMMD còn các loại đột biến khác với tần số thấp hơn có thể không được kiểm tra
Trang 6bằng HMMD vì chưa có kháng thể đột biến đặc
hiệu (chưa sản xuất) Vì vậy nếu ung thư phổi
với đột biến EGFR qua kiểm tra bằng HMMD
âm tính nên tiếp tục làm thêm phương pháp giải
trình tự gen
Bảng 3: Tương quan kết quả nhuộm HMMD với đột
biến gen
(95% CI) P Bình thường Đột biến
E746 - A750
L858R
Chung 2 KT
Độ nhạy = d/(c+d); Độ đặc hiệu = a/(a+b); Kháng thể
E746_A750: độ nhạy = 80%, đặc hiệu = 98%; Kháng thể
L858R: độ nhạy = 78,6% và đặc hiệu = 85,7%; Chung 2
kháng thể: độ nhạy = 79,4% và đặc hiệu = 86,1%
KẾT LUẬN
Phương pháp nhuộm HMMD gen EGFR đặc
hiệu (E746-A750 và L858R) có độ nhạy và độ đặc
hiệu cao cho việc xác định EGFR đột biến và nó
là phương pháp sàng lọc hữu ích đầu tay cho
việc phát hiện EGFR đột biến có chứa EGFR đột
biến của E746-A750 hoặc L858R có ý nghĩa cho
việc điều trị nhắm đích
TÀI LIỆU THAM KHẢO
(2007) EGFR, ERBB2, and KRAS mutations in Korean
Cytogenet;173(2):107-13
2 Cappuzzo F, et al (2004), AKT phosphorylation and gefitinib
efficacy in patients with advanced nonsmall-cell lung cancer J
Natl Cancer Inst; 96:1133 – 41
3 Ferlay J, Shin HR, Bray F, Forman D, Mathers C, Parkin DM
(2010) Estimates of worldwide burden of cancer in 2008:
GLOBOCAN 2008 Int J Cancer;127(12): 2893-917
4 Hirsch FR, et al (2003), Epidermal growth factor family of
receptors in preneoplasia and lung cancer: perspectives for
targeted therapies Lung Cancer; 41 Suppl 1: 9 – 42
5 Hirsch FR, Varella-Garcia M, Bunn PA Jr, Di Maria MV, Veve
R, Bremnes RM, Baro´n AE, Zeng C, and Franklin WA (2003)
Epidermal Growth Factor Receptor in Non–Small-Cell Lung
Carcinomas: Correlation Between Gene Copy Number and
Protein Expression and Impact on Prognosis J Clin Oncol
21:3798-3807
6 Huang SF, Liu HP, Li LH, Ku YC, Fu YN, Tsai HY, et al (2004) High frequency of epidermal growth factor receptor mutations with complex patterns in non-small cell lung cancers related to gefitinib responsiveness in Taiwan Clin Cancer Res;10(24): 8195-203
7 Inoue A, Suzuki T, Fukuhara T, Maemondo M, Kimura Y, Morikawa N, et al (2006) Prospective phase II study of gefitinib for chemotherapy-naive patients with advanced non-small-cell lung cancer with epidermal growth factor receptor gene mutations J Clin Oncol;24(21): 3340-6
8 Lynch TJ, Bell DW, Sordella R, Gurubhagavatula S, Okimoto
RA, Brannigan BW, et al (2004) Activating mutations in the epidermal growth factor receptor underlying responsiveness
of non-small-cell lung cancer to gefitinib N Engl J Med;350(21): 2129-39
9 Marchetti A, Martella C, Felicioni L, Barassi F, Salvatore S, Chella A, et al (2005) EGFR mutations in non-small-cell lung cancer: analysis of a large series of cases and development of a rapid and sensitive method for diagnostic screening with potential implications on pharmacologic treatment J Clin Oncol;23(4):857-65
10 Paez JG, Janne PA, Lee JC, Tracy S, Greulich H, Gabriel S, et al (2004) EGFR mutations in lung cancer: correlation with clinical response to gefitinib therapy
Science;304(5676):1497-500
11 Parra HS, Cavina R, Latteri F, Zucali PA, Campagnoli E, Morenghi E, et al (2004) Analysis of epidermal growth factor receptor expression as a predictive factor for response to gefitinib ('Iressa', ZD1839) in non-small-cell lung cancer Br J Cancer;91(2):208-12
12 Pirker R, Pereira JR, von Pawel J, et al (2011), EGFR expression as a predictor of survival for first-line chemotherapy plus cetuximab in patients with advanced non-small-cell lung cancer: analysis of data from the phase 3 FLEX study Lancet Oncol
13 Sriuranpong V, Chantranuwat C, Huapai N, Chalermchai T, Leungtaweeboon K, Lertsanguansinchai P, et al (2006) High frequency of mutation of epidermal growth factor receptor in lung adenocarcinoma in Thailand Cancer Lett;239(2):292-7
14 Sugio K, Uramoto H, Ono K, Oyama T, Hanagiri T, Sugaya M,
et al (2006) Mutations within the tyrosine kinase domain of EGFR gene specifically occur in lung adenocarcinoma patients with a low exposure of tobacco smoking Br J Cancer;94(6):896-903
15 Tamura K, Okamoto I, Kashii T, Negoro S, Hirashima T, Kudoh S, et al (2008) Multicentre prospective phase II trial of gefitinib for advanced non-small cell lung cancer with epidermal growth factor receptor mutations: results of the West Japan Thoracic Oncology Group trial (WJTOG0403) Br J Cancer;98(5):907-14
Ngày nhận bài báo: 20/07/2015 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 07/08/2015 Ngày bài báo được đăng: 05/09/2015