1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tần suất và đặc điểm carcinôm dạ dày giai đoạn tiến triển ở bệnh nhân đã từng được nội soi dạ dày nhưng chưa xác định bệnh

7 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 368 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết xác định tần suất, các đặc điểm lâm sàng, nội soi và mô bệnh học của các trường hợp carcinôm dạ dày giai đoạn tiến triển được xác định chẩn đoán tại bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM, có tiền sử từng được nội soi dạ dày tại các cơ sở y tế trước đây nhưng chưa xác định được bệnh.

Trang 1

TẦN SUẤT VÀ ĐẶC ĐIỂM CARCINÔM DẠ DÀY GIAI ĐOẠN TIẾN TRIỂN Ở BỆNH NHÂN ĐÃ TỪNG ĐƯỢC

NỘI SOI DẠ DÀY NHƯNG CHƯA XÁC ĐỊNH BỆNH

Hà Văn Đến*, Quách Trọng Đức**

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Carcinôm dạ dày là bệnh ác tính thường gặp và là nguyên nhân gây tử vong do ung thư đứng

thứ 3 ở Việt Nam Mặc dù nội soi dạ dày đã được triển khai rộng rãi, tỉ lệ phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm vẫn còn rất hạn chế

Mục tiêu: Xác định tần suất, các đặc điểm lâm sàng, nội soi và mô bệnh học của các trường hợp carcinôm dạ

dày giai đoạn tiến triển được xác định chẩn đoán tại bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM, có tiền sử từng được nội soi dạ dày tại các cơ sở y tế trước đây nhưng chưa xác định được bệnh

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang có phân tích trên các trường hợp carcinôm

dạ dày tiến triển được chẩn đoán tại bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM từ 2/2016 – 12/2016 Các bệnh nhân tham gia nghiên cứu được hỏi triệu chứng cơ năng, tiền sử nội soi dạ dày tại các cơ sở y tế trước đây Tổn thương được đánh giá trên nội soi theo phân loại của Hội ung thư dạ dày Nhật Bản và trên mô bệnh học theo phân loại Lauren

Kết quả: Có 91/141 (64,5%) trường hợp carcinôm dạ dày giai đoạn tiến triển đã từng được nội soi dạ dày

trước đây với chẩn đoán không phải là ung thư Có 82/141 (58,2%) bệnh nhân có lần nội soi gần nhất tính tới thời điểm được chẩn đoán xác định 2 năm và 9/141 (6,4%)ở thời điểm > 2 năm Nhóm bệnh nhân đã được nội soi 2 năm trước khi được chẩn đoán xác định có tuổi trung bình 55,1 ± 12,9 (nhỏ nhất: 29, lớn nhất: 83, trung vị: 54) Tỉ lệ nam: nữ là 1,5:1 Chỉ có 57/82 (69,5%) trường hợp có triệu chứng báo động Số lần nội soi trung vị trước khi được xác định chẩn đoán là 2 Trên nội soi, loét là dạng tổn thương thường gặp nhất chiếm 43/82 (52,4%) Trên mô bệnh học, carcinôm dạng lan tỏa chiếm đa số với 63/82 (76,8%) Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ lan rộng của tổn thương trên nội soi và týp mô bệnh giữa nhóm bệnh nhân được nội soi 2 năm và nhóm bệnh nhân được nội soi xác định chẩn đoán lần đầu

Kết luận: Chẩn đoán carcinôm dạ dày giai đoạn tiến triển vẫn là một thách thức lớn ở Việt Nam Triệu

chứng báo động có độ nhạy thấp Phần lớn bệnh nhân đã được tiếp cận và chấp thuận nội soi dạ dày nhưng chưa được phát hiện bệnh sớm Nghiên cứu này cho thấy cần cấp thiết cải tổ hệ thống đào tạo nội soi chẩn đoán ung thư dạ dày, xây dựng khuyến cáo về qui trình nội soi chẩn đoán ung thư và theo dõi tổn thương tiền ung thư dạ dày

Từ khóa: Ung thư dạ dày, carcinôm dạ dày, nội soi dạ dày

ABSTRACT

RATE AND CHARACTERISTICS OF INTERVALGASTRIC CARCINOMA WITH ADVANCEDEND

OSCOPICFEATURES

Ha Van Den, Quach Trong Duc

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 22 - No 6- 2018: 56 – 62

Introduction: Gastric adenocarcinomais a commoncancer and the thirdcause of mortalitydue to cancer in

Vietnam Althoughgastroscopyhasbeenwidelyavailable, the rate of detectedearly gastric cancer is stillverylow

* Bộ môn Nội Tổng Quát - Đại học Y Dược TP.HCM, **Khoa Nội tiêu hóa - BV Nhân Dân Gia Định

Tác giả liên lạc: PGS TS Quách Trọng Đức ĐT: 0918080225 Email: drquachtd@ump.edu.vn

Trang 2

Objectives: To assess the rate and the characteristics of interval gastric carcinoma with advanced endoscopic

features

Patientsand methods: This is a cross-sectionalstudyconductedatthe UniversityMedicalCenter of

Hochiminh City fromFebruary 2016 to December 2016 Outpatients with advanced gastric carcinoma were recruited The demographic data, alarming features and priorhistoryof gastroscopy were recorded Endoscopic types of gastric carcinoma were classifiedaccording to the Japaneseclassification of gastric cancer, and the pathologictypes were classified according to the Lauren classification

Results: There were 91 (64.5%) patients with interval gastric cancer whohadadvancced endoscopic features

Previousgastroscopieswhich non-cancerousconclusions had been performed in 82 (58.2%) patients withintwoyears and 9 (6.4%) more than 2 years Patients with previous gastroscopy within 2 years had the meanage of 55.1 ± 12.9 (minimum: 29, maximum: 83, median: 54), and the male-to-female ratio was 1.5:1 The rate of alarm features was only 69.5% (57/82) The median number of prior gastroscopies was 2 The most common endoscopic form of gastric carcinoma was ulcer (52.4%); and the majority of lesions were diffusetype (76.8%) There were neithersignificantdifference of type and extension of endoscopic lesions nor pathologic type between this subgroup and the subgroup of patients without prior gastroscopy

Conclusion: Diagnosis of advanced gastric carcinoma is still a big challenge in Vietnam Alarm features

areabsent in a significant proportion of patients Gastroscopy had been performed approximatelytwice in a majority of patients with non-cancerous conclusions before the definite diagnosis This study raisesurgentneeds to reformthe currentgastrointestinal endoscopic trainingsystem, to establishstandardprotocolfor gastroscopy examination and strategy for the surveillance of precancerous gastric lesions

Keywords: Gastric cancer, gastric carcinoma, interval cancer, gastroscopy

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư dạ dày là một trong những ung thư

thường gặp nhất và là nguyên nhân gây tử vong

do ung thư đứng hàng thứ 3tại Việt Nam(4),

trong đó carcinôm dạ dày là dạng mô bệnh học

ung thư dạ dày phổ biến nhất Các nghiên cứu

đánh giá về nguyên nhân chẩn đoán muộn

carcinôm dạ dày ở Việt Nam khá ít ỏi Một

nghiên cứu trong nước được công bố hơn 15

năm trước đây cho thấy thời gian chẩn đoán

chậm trễ trung bình là 11 tháng (đa số trong

khoảng 6 tháng đến 1 năm) với 34% trường hợp

đã được nội soi dạ dày trước đó nhưng không

xác định được bệnh(2) Trong suốt quãng thời

giandài sau đó, lĩnh vực nội soi tiêu hóaở Việt

Nam đã phát triển mạnh mẽ; nội soi dạ dày đã

trở thành một thăm dò chẩn đoán phổbiến và

phát triển rộng đến các cơ sở y tếquận, huyện

Trang thiết bị nội soi tiêu hóa cũng đã có những

cải tiến vượt bậc với hình ảnh rõ nét hơn Các kỹ

thuật nội soi can thiệp để điều trị ung thư dạ dày

giai đoạn sớm (cắt niêm mạc, bóc tách dưới niêm

mạc qua nội soi) cũng đã bước đầu được triển khai thành công và đem lại lợi ích rất lớn về chất lượng cuộc sống cũng như thời gian sống còn của bệnh nhân nếu được chẩn đoán bệnh ở giai đoạn sớm Tuy vậy, tỉ lệ phát hiệncarcinôm dạ dàygiai đoạn sớm vẫn còn rất hạn chế Nghiên cứu về tần suất, đặc điểm lâm sàng, nội soi và

mô bệnh học của các trường hợp đã được nội soi tiêu hóa trên nhưng chưa phát hiện được ung thư là một yêu cầu cấp thiết nhằm xác định rõ tình hình hiện tại, đồng thời là cơ sở quan trọng

để định hướng kiện toàn hệ thống y tế nhằm phát hiện bệnh sớm và hiệu quả hơn

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân ngoại trú đến khám tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh trong thời gian

từ 2/2016 – 12/2016, được nội soi dạ dày và sinh thiết thỏa các tiêu chuẩn sau:

Tiêu chuẩn nhận bệnh

Tuổi ≥ 18

Trang 3

Có hình ảnh nội soi dạ dày nghĩ đến ung thư

dạ dày giai đoạn tiến triển theo phân loại của

Hội ung thư dạ dày Nhật Bản(5) và được sinh

thiết làm xét nghiệm mô bệnh học

Có kết quả mô bệnh học xác định là

carcinôm dạ dày

Tiêu chuẩn loại trừ

Đã có tiền sử phẫu thuật cắt dạ dày

Phụ nữ có thai

Có dùng kháng sinh hoặc thuốc ức chế bơm

proton trong 4 tuần trước nội soi

Bệnh nhân từ chối không tham gia nghiên

cứu, không cung cấp các thông tin liên quan

trong nội dung bảngthu thập dữ liệu

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích

Tiến hành lấy mẫu theo phương pháp thuận tiện

vào mỗi buổi sáng trong giờ hành chính tại Khoa

nội soi, Bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM

Các bước tiến hành nghiên cứu

Các bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn chọn bệnh và

đồng ý tham gia nghiên cứu được hỏi kỹ bệnh

sử, đặc biệt là chi tiết các lần nội soi dạ dày tại

các cơ sở khám chữa bệnh trước đây (số lần nội

soi, thời điểm làm nội soi so với hiện tại, chẩn

đoán được xác lập ở thời điểm được nội soi

trước đó, bệnh nhân có nhận được các đề xuất

theo dõi và nội soi kiểm tra của bác sĩ tại các cơ

sở y tế trước đây hay không), được thăm khám

lâm sàng

Bệnh nhân được thực hiện nội soi tiêu hóa

trên bằng hệ thống máy video OlympusGIF-160,

các tổn thương nghi ngờ là ung thư dạ dày tiến

triển được mô tả hình thái theo phân loại của

Hội ung thư dạ dày Nhật Bản(5), đánh giá mức

độ xâm lấn theo trục ngang và trục dọc của dạ

dày Thực hiện sinh thiết tổn thương nghi ngờ

để làm xét nghiệm mô bệnh học (số lượng mẫu

sinh thiết thay đổi từ 2 – 6 mẫu tùy quyết định

của bác sĩ nội soi) và 1 mẫu ở vùng hang vị phía

bờ cong lớn cách môn vị 2cm để làm xét nghiệm

urease chẩn đoán H pylori

Mẫu bệnh phẩm sinh thiết được cố định

bằng Formol 10% và chuyển đến khoa Giải phẫu bệnh, bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM, đúc trong paraffin và cắt lát có độ dày 2 - 4m Kết quả giải phẫu bệnh được đánh giá theo phân loại Lauren(6)

Các bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu được lấy mẫu nước tiểu để làm xét nghiệm

Rapirun-Stick test chẩn đoán nhiễm H pylori(9) Định nghĩa trong nghiên cứu

Trong nghiên cứu này chúng tôi xem các trường hợp đã được nội soi dạ dày trong vòng 2 năm tại các cơ sở y tế trước đây nhưng không được xác định carcinôm dạ dày là các trường hợp đã có sự hiện diện của tổn thương ung thư ở thời điểm lần nội soi trước nhưng không được phát hiện Các trường hợp được nội soi dạ dày

xa hơn 2 năm với chẩn đoán không phải là carcinôm dạ dày được xem là đã có tổn thương ung thư sớm hoặc tổn thương tiền ung thư dạ dày ở thời điểm nội soi trước

Nhiễm H pylori được xác định nếu bệnh

nhân có xét nghiệm urease nhanh dựa trên mẫu

mô sinh thiết và/hoặc xét nghiệm nước tiểu chẩn

đoán H pylori dương tính

Xử lý số liệu

Sử dụng phân tích mô tả để tính trung bình,

độ lệch chuẩn và trung vị đối với các biến liên tục, tính tần số và tỉ lệ phần trăm với các biến số không liên tục

Sử dụng phép kiểm2 và Fisher’s exact (chọn lựa thích hợp tùy phân tích thống kê cụ thể) để

so sánh đặc điểm định tính giữa nhóm bệnh nhân đã từng được nội soi dạ dày trong vòng 2 năm nhưng chưa xác định được bệnh với nhóm bệnh nhân đến khám và được xác định chẩn đoán ở lần nội soi đầu tiên

KẾT QUẢ

Trong khoảng thời gian nghiên cứu, chúng tôi ghi nhận có 141 bệnh nhân carcinôm dạ dày giai đoạn tiến triển Tuổi trung bình của bệnh nhân là 55,1 ± 13,8 Tỉ lệ nam: nữ là 1,4:1 Tỉ lệ

nhiễm H pylori là 66,0% (83/141) Chỉ có 74,5%

(105/141) trường hợp có triệu chứng báo động

Trang 4

Có 64,5% (91/141) trường hợp đã từng được nội

soi trước đó với chẩn đoán không phải là ung

thư dạ dày (Bảng 1) Số bệnh nhân có lần nội soi

gần nhất tính tới thời điểm được chẩn đoán xác

định là 41,1% (58/141) trong vòng 1 năm, 58,2%

(82/141) trong vòng 2 năm và 6,4% (9/141)trong

thời gian xa hơn 2 năm

Xét riêng nhóm bệnh nhân đã được nội soi

trong vòng 2 năm trước khi được chẩn đoán xác

định, tuổi trung bình của nhóm là 55,1 ± 12,9

(nhỏ nhất: 29, lớn nhất: 83, trung vị: 54) Tỉ lệ

nam: nữ là 1,5:1 Số lần nội soi trung vị là 2 Số

lần nội soi nhiều nhất trước khi được xác định

chẩn đoán là 7 Chỉ có 69,5% (57/82) trường hợp

có triệu chứng báo động Đặc điểm lâm sàng, nội

soi và mô bệnh học chi tiết và so sánh với nhóm

bệnh nhân được xác định chẩn đoán ở lần nội soi

đầu tiên được trình bày ở bảng 2 và 3

Chi tiết về đặc điểm các lần được chỉ định

nội soi được trình bày ở bảng 1 Trong số 91

trường hợp đã được nội soi dạ dày trước đó, chỉ

có 30,7% (28/91) trường hợp được bác sĩ đề nghị

nội soi dạ dày kiểm tra, trong đó 34,1% (28/82)

trường hợp được nội soi trong vòng 2 năm nhận

được lời tư vấn cần nội soi dạ dày kiểm tra;

không có trường hợp nào trong 9 trường hợp

được nội soi dạ dày lần trước xa hơn 2 năm được

tư vấn cần nội soi dạ dày kiểm tra

Bảng 1 Đặc điểm nội soi ở 91 trường hợp carcinôm

dạ dày đã từng được nội soi dạ dày

Đặc điểm N % % tích lũy

Thời điểm lần nội soi gần nhất trước đó với chẩn đoán

không phải là ung thư (tháng)

Được đề nghị nội soi dạ dày kiểm tra

Đặc điểm N % % tích lũy

Tổng số lần nội soi trước đây với chẩn đoán không phải là

ung thư

Hình 1 Trần Thị B, 40 tuổi Đến khám vì triệu

chứng ợ nóng BMI 23,5, không hút thuốc lá, không có triệu chứng báo động và không có tiền sử gia đình U loét sùi vùng hang môn vị, kết quả mô bệnh học: carcinôm dạ dày biệt hóa kém Lần nội soi trước đó cách 24 tháng với chẩn đoán viêm dạ dày Không được tư vấn nội soi kiểm tra

Hình 2: Nguyễn Văn Đ, 29 tuổi Đến khám vì triệu

chứng đầy bụng, BMI 24,8; không hút thuốc lá, không có triệu chứng báo động và không có tiền sử gia đình U loét sùi vùng thân vị cao, kết quả mô bệnh

Trang 5

học: carcinôm dạ dày biệt hóa kém Được nội soi trước

chẩn đoán 5 lần trước khi được xác định chẩn đoán

(xa nhất: 62 tháng, gần nhất 4 tháng) Bệnh nhân có

được tư vấn nội soi kiểm tra

Bảng 2 Đặc điểm nhân chủng học của nhóm bệnh

nhân đã được nội soi 2 năm nhưng chưa xác định

bệnh và nhóm được nội soi chẩn đoán xác định lần

đầu

Đặc điểm Đã nội soi ≤

2 năm (n = 82)

Chưa từng nội soi (n = 50)

P

Tuổi trung bình 55,1 ± 12,9 55,5 ± 15,9 0,856

Nhóm tuổi

< 40

40 - 49

≥ 50

6 (7,3)

22 (26,8)

54 (65,9)

9 (18,0)

10 (20,0)

31 (62,0)

0,354

Tiền sử ung thư dạ dày

gia đình (n, %)

2 (2,4) 4 (8,0) 0,404 Hút thuốc lá 41 (50,0) 26 (52,0) 0,859

Uống rượu bia 37 (45,1) 28 (56,0) 0,282

Nơi thường trú (n,%)

Miền Tây Nam Bộ

Miền Đông Nam Bộ

TP Hồ Chí Minh

Miền Trung – Tây

Nguyên

Miền Bắc

26 (31,7)

12 (14,6)

7 (8,5)

34 (41,5)

3 (3,7)

17 (34,0)

8 (16,0)

10 (20,0)

14 (28,0)

0

0,155

Bảng 3 Đặc điểm lâm sàng, nội soi và mô bệnh học

của nhóm bệnh nhân đã được nội soi 2 năm nhưng

chưa xác định bệnh và nhóm được nội soi chẩn đoán

xác định lần đầu

Đặc điểm Đã nội soi ≤

2 năm (n = 82)

Chưa từng nội soi (n = 50)

P

Triệu chứng báo động

(n,%)

Không

57 (69,5)

25 (30,5)

41 (82,0)

9 (18,0)

0,151

Các triệu chứng báo

động (n,%)

Chán ăn

Sụt cân

Nuốt nghẹn

Xuất huyết tiêu hóa

Thiếu máu

Sờ thấy u bụng

32 (39,0)

33 (15,7)

6 (7,3)

15 (18,3)

30 (36,6)

13 (15,9)

26 (52,0)

22 (44,0)

4 (8,0)

5 (10,0)

15 (30,0)

8 (16,0)

0,154 0,718 1,000 0,222 0,457 1,000 Nhiễm H pylori

Không

60 (73,2)

22 (26,8)

29 (58,0)

21 (42,0)

0,086 Dạng tổn thương trên

nội soi (n,%) 43 (52,5) 24 (48,0) 0.078

Loét Loét thâm nhiễm

U sùi Thâm nhiễm lan tỏa

16 (19,5)

16 (19,5)

7 (8,5)

19 (38,0)

5 (10,0)

2 (4,0)

Vị trí tổn thương theo trục dọc (n,%) 1/3 dưới 1/3 giữa 1/3 trên Lan rộng vượt quá 1/3

vị trí giải phẫu

47 (57,3)

22 (26,8)

8 (9,8)

5 (6,1)

36 (72,0)

6 (12,0)

4 (8,0)

4 (8,0)

0,207

Dạng mô bệnh học (n,%) Dạng lan tỏa Dạng ruột

63 (76,8)

19 (23,2)

37 (74,0)

13 (26,0)

0,708

BÀN LUẬN

Kết quả của nghiên cứu này cho thấy sự khó khăn trong chẩn đoán carcinôm dạ dày trong tình hình thực tế: mặc dù bệnh nhân trong nghiên cứu đều đã ở giai đoạn tiến triển, có đến khoảng gần ¼ trường hợp không có triệu chứng báo động trên lâm sàng Thêm vào đó, tỉ lệ ung thư khởi phát sớm hiện tại ở Việt Nam khá cao làm cho việc chẩn đoán để loại trừ ung thư sớm lại càng khó khăn hơn(8) Việc nhận định tổn thương và quyết định tiến hành nội soi dạ dày

do đó cần phải được xem xét cẩn thận Việc sử dụng chiến lược “xét nghiệm chẩn đoán H pylorivà điều trị” (“test-and-treat” strategy) theo một số khuyến cáo quốc tế, do đó, không phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam Nội soi dạ dày trong tình huống khó khăn này là cứu cánh để xác định chẩn đoán Tuy nhiên nghiên cứu này cho thấy tình trạng báo động với khoảng 2/3 số bệnh nhân đã được tiếp cận được với nội soi dạ dày chẩn đoán nhưng không thể phát hiện sớm bệnh; trong đó: 58,2% (82/141) đã được nội soi trong 2 năm, 6,4% (9/141) đã được nội soi trong thời gian hơn 2 năm và 5,5% (5/91) đã được nội soi dạ dày từ 5 lần trở lên Bảng 2 và 3 cho thấy các bệnh nhân được nội soi trước đó cũng đều có tổn thương tiến triển và mô bệnh học đa phần là biệt hóa kém, không có sự khác biệt so với bệnh nhân đến nội soi lần đầu Điều này cho thấy rằng hệ thống hiện tại của chúng ta có lẽ chưa giúp ích phát hiện sớm tình trạng bệnh, tuy “ rộng” nhưng chưa “tinh”

Trang 6

Diễn tiến tự nhiên của một ung thư dạ dày

từ giai đoạn sớm đến giai đoạn tiến triển là 44

tháng Một nghiên cứu gần đây lấy mốc 2 năm

để xác định định nghĩa ung thư dạ dày bị bỏ sót

tính đến thời điểm phát hiện được ung thư dạ

dày giai đoạn sớm(1) Một số nghiên cứu khác lấy

mốc là trong vòng 1 năm nhưng bao gồm cả ung

thư giai đoạn sớm và giai đoạn tiến triển(3,7) Mốc

1 năm không phù hợp với các bệnh nhân trong

nghiên cứu của chúng tôi vì tất cả bệnh nhânđều

đã có hình thái tổn thương ở giai đoạn tiến

triểntrên nội soi theo phân loại của Hội ung thư

dạ dày Nhật Bản Trong nghiên cứu này, chúng

tôi chọn thời điểm nội soi dạ dày trong vòng 2

năm để làm mốc tương đối phân biệt hai nguyên

nhân không phát hiện được bằng nội soi: (i) bỏ

sót tổn thương ung thư giai đoạn tiến triển (nếu

đã được nội soi ≤ 2 năm nhưng không phát

hiện được), và (ii) không nhận định được ung

thư dạ dày giai đoạn sớm hoặc đã có tổn thương

tiền ung thư dạ dày (nếu được nội soi dạ dày > 2

năm nhưng không phát hiện được) Cách phân

chia tương đối này giúp nhìn nhận rõ hơn về

những điểm cần cải thiện của hệ thống chẩn

đoán ung thư dạ dày hiện tại Nghiên cứu này

cho thấy nhóm bệnh nhân đã được nội soi dạ

dày trong vòng 2 năm với chẩn đoán không phải

là ung thư trung bình đã được nội soi 2 lần

nhưng vẫn để “lọt lưới” Kết quả này đặt ra yêu

cầu cấp thiết cho các đơn vị đào tạo cần khẩn

trương cải tổ chương trình đào tạo nội soi tiêu

hóa trên, đồng thờicác hội chuyên ngành cũng

cần phải có kế hoạch tổ chức nhiều hơn các khóa

đào tạo liên tục về chẩn đoán ung thư dạ dày

qua nội soi Trong những năm vừa qua, Liên chi

hội Nội soi Tiêu hóa Việt Nam (VFDE) đã phối

hợp với các Hội nội soi tiêu hóa khu vực và thế

giới tổ chức thường xuyên các khóa đào tạo về

chẩn đoán và điều trị ung thư dạ dày sớm, góp

phần đem lại những lợi ích hết sức khích lệ cho

người bệnh Tuy nhiên, số liệu có đến 46,2%

(42/91) trường hợp carcinôm dạ dày giai đoạn

tiến triển đã được nội soi trong vòng 6 tháng mà

không phát hiện tổn thương (bảng 1) cho thấy

một tỉ lệ đáng kể tổn thương ung thư giai đoạn tiến triển chưa được phát hiện sớm hơn Số liệu này góp phần định hướng cho các hoạt động đào tạo liên tục của VFDE trong thời gian tới Một thực trạng khác cũng không phải hiếm gặp

là qui trình chuẩn bị nội soi dạ dày và thiết bị máy móc tại một số đơn vị chưa đảm bảo cho việc quan sát tổn thương ở dạ dày Một số ống nội soi dạ dày bị hạn chế về góc up-down nhưng

do khó khăn về trang thiết bị vẫn được tiếp tục

sử dụng trong nội soi chẩn đoán cũng góp phần làm tăng rủi ro của tình trạng bỏ sót tổn thương Vấn đề chuẩn hóa về các yêu cầu nội soi về mặt thời gian và thao tác do đó cần được đặt ra Mối tương tác, liên hệ giữa các đồng nghiệp công tác trong các lĩnh vực nội soi, giải phẫu bệnh và lâm sàng tiêu hóa cũng cần được thắt chặt hơn nữa Nghiên cứu này có một số yếu điểm Thứ nhất, đây là một nghiên cứu ở một trung tâm Tuy thực hiện tại bệnh viện Y Dược TP HCM là một trong những cơ sở nhận bệnh cuối của khu vực phía nam, các bệnh nhân trong nghiên cứu chủ yếu ở các tỉnh khu vực phía Nam và nam Trung bộ Do đó số liệu chưa đại diện cho tình hình cả nước Thứ hai, nghiên cứu này chưa đánh giá được cụ thể giai đoạn TNM của ung thư dạ dày để so sánh giữa mức độ tiến triển của tổn thương ở nhóm ung thư đã được nội soi dạ dày nhưng chưa phát hiện với nhóm bệnh nhân được xác định chẩn đoán ở lần nội soi đầu Nguy cơ tiến triển ở nhóm đã được nội soi nhưng không phát hiện ung thư có khả năng tiến triển xa hơn so với nhóm được chẩn đoán ở lần nội soi đầudo bệnh nhân có thể có tâm lý trì hoãn tái khám cho đến khi bệnh tiến triển nặng, nhất là khi phần lớn các thủ thuật nội soi dạ dày

ở nước ta còn được thực hiện dưới gây tê tại chỗ, cảm giác khó chịu cho người bệnh tương đối nhiều Tầm quan trọng của vấn đề này cần được xác định trong các nghiên cứu tương lai

KẾT LUẬN

Nghiên cứu này cho thấy chẩn đoán carcinôm dạ dày giai đoạn tiến triển vẫn là một thách thức lớn ở nước ta vì bệnh nhân có

Trang 7

xu hướng trẻhóa và một tỉ lệ đáng kể không có

triệu chứng báo động Phần lớn bệnh nhân đã

được tiếp cận và chấp thuận nội soi dạ dày

nhưng chưa được chẩn đoán sớm Kết quả

nghiên cứu này cho thấy tính cấp thiết của việc

điều chỉnh chương trình đào tạo nội soi tiêu

hóa trên cũng như sự cấp thiết cần xây dựng

và ban hành các khuyến cáo về qui trình nội

soi chuẩn phát hiện ung thư và theo dõi tổn

thương tiền ung thư dạ dày

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Cho Y, Chung IK, Kim J et al (2015) Risk Factors of Developing

Interval Early Gastric Cancer After Negative Endoscopy Dig

Dis Sci; 60(4), pp 936-43

2 Đỗ Đình Công (2003) Nguyên nhân chẩn đoán muộn trong ung

thư biểu mô tuyến dạ dày Y học Thành phố Hồ Chí Minh; 7(phụ

bản số 1), pp 6 – 9

3 Hamashima C, Shabana M, Okamoto M et al (2015) Survival

Analysis of Patients with Interval Cancer Undergoing Gastric

Cancer Screening by Endoscopy 10(5): e0126796

4 International Agency for Research on cancer (2012)

Estimatedcancer incidence, mortality and prevalence

worldwide

http://globocan.iarc.fr/Pages/fact_sheets_population.aspx

5 Japanese Gastric Cancer Association (2011) Japanese classification of gastric carcinoma: 3 rd Englishedition Gastric

Cancer; 14, pp 101–112

6 Lauren P (1965) The two histologicalmain types of gastric carcinoma: diffuse and so called intestinal-type carcinoma: an

attempt at a histo-clinical classification Acta Pathol Microbiol

Scand; 64, pp 31-49

7 Park M, Yoon J, Chung H et al (2015) Clinicopathologic Characteristics of Interval Gastric Cancer in Korea; 9(2), pp 167-

173

8 Quach DT, Ha DV, Hiyama T (2018) The Endoscopic and Clinicopathological Characteristics of Early-onset Gastric

Cancer in Vietnamese Patients Asian Pacific J Cancer Prevention;

http://journal.waocp.org/article_63505.html

9 Quach DT, Hiyama T, ShimamotoF et al (2014) The value of a new stick-type rapidurine test for the diagnosis of Helicobacter

pylori in the Vietnamese population World J Gastroenterol;

20(17), pp 5087-91

10 Tsukuma H, Oshima A, Narahara H et al (2000) Natural history

of early gastric cancer: a non-concurrent, long term Gut, 47(5):609

Ngày nhận bài báo: 15/07/2018 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 23/08/2018 Ngày bài báo được đăng: 10/11/2018

Ngày đăng: 15/01/2020, 19:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w