Bài viết xác định tỷ lệ thai nhi bị DTBS chấm dứt thai kỳ ở giai đoạn muộn tại BV Từ Dũ, xác định các yếu tố liên quan đến tỷ lệ thai nhi bị DTBS chấm dứt thai kỳ ở giai đoạn muộn tại BV Từ Dũ.
Trang 1TỶ LỆ THAI NHI BỊ DỊ TẬT BẨM SINH CHẤM DỨT THAI KỲ
Ở GIAI ĐOẠN MUỘN VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
TẠI BỆNH VIỆN TỪ DŨ
Trần Thị Thúy Phượng*, Lê Hồng Cẩm**
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Theo số liệu tổng kết tại khoa chăm sóc trước sinh tại bệnh viện (BV) Từ Dũ, 6 tháng đầu
năm 2015 có khoảng 2156 trường hợp thai nhi bị dị tật bẩm sinh (DTBS) được chẩn đoán, 432 trường hợp chấm dứt thai kỳ (CTDK) vì DTBS nặng Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy DTBS là nguyên nhân chiếm tỷ lệ cao nhất trong những trường hợp CDTK CDTK ở tuổi càng lớn thai phụ có nguy cơ: chảy máu, nhiễm trùng, thủng tử cung, vỡ tử cung, vô sinh… Do đó việc xác định tỷ lệ dị tật bẩm sinh chấm dứt thai kỳ ở giai đoạn muộn và các yếu tố liên quan là cần thiết, chúng tôi mong muốn kết quả nghiên cứu của chúng tôi sẽ giúp ích cho công tác quản lý trong lĩnh vực chăm sóc tiền sản, góp phần giảm tình trạng CDTK vì dị tật bẩm sinh ở giai đoạn muộn
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ thai nhi bị DTBS chấm dứt thai kỳ ở giai đoạn muộn tại BV Từ Dũ; Xác định các
yếu tố liên quan đến tỷ lệ thai nhị bị DTBS chấm dứt thai kỳ ở giai đoạn muộn tại BV Từ Dũ
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi tiến hành nghiên cứu (NC) cắt ngang 385 thai phụ
thực hiện CDTK vì thai nhi bị DTBS tại Bệnh viện Từ Dũ từ tháng 12/2015 đến tháng 5/2016, được chia làm 2 nhóm: CDTK sớm (≤22 tuần) và CDTK muộn (>22 tuần)
Kết quả: Sau 6 tháng thực hiện nghiên cứu, trong 385 trường hợp thai phụ có chỉ định CDTK vì DTBS, tỷ
lệ thai nhi bị DTBS chấm dứt thai kỳ ở giai đoạn muộn là 45,7% (176/385) (KTC 95%: 40,7 – 50,7%) Yếu tố liên quan đến tỷ lệ thai nhi bị DTBS chấm dứt thai kỳ ở giai đoạn muộn là nhóm thai phụ có thời điểm khám thai
>14 tuần và nhóm thai phụ có thai nhi bị bất thường cấu trúc (p<0,05)
Kết luận: Tỷ lệ thai nhi bị dị tật bẩm sinh chấm dứt thai kỳ ở giai đoạn muộn tại Bệnh viện Từ Dũ khá cao
Thực hiện sàng lọc dị tật bẩm sinh thai nhi càng sớm càng tốt, nhất là ở giai đoạn ≤14 tuần của thai kỳ
Từ khóa: thai bị dị tật bẩm sinh, chấm dứt thai kỳ ở giai đoạn muộn
ABSTRACT
PREVALENCE AND FACTORS ASSOCIATED WITH LATE TERMINATION OF PREGNANCY FOR
FETAL ANORMALIES AT TU DU HOSPITAL
Tran Thi Thuy Phuong, Le Hong Cam
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 2- 2019: 158 - 163
Background: According to the data summarized at the Department of antenatal care at Tu Du hospital,
there were 2156 cases of fetus with fetal defects diagnosed, 432 cases of termination of pregnancy (TOP) due
to severe fetal defects, in the first 6 months of 2015 Many studies in the world have shown that fetal abnormalies are the cause of proportion highest in cases of TOP The risks of pregnant women in late TOP are: bleeding, infection, uterine perforation, uterine rupture, infertility… Therefore, it is necessary to determine the prevalence of late termination of pregnancy for fetal anomaly (TOPFA); and the factors associated with TOPFA We hope that our research results will be useful for management in the field antenatal care area, contributing to reducing of late TOPFA
*Bệnh viện Từ Dũ **BM Sản, Đại học Y Dược Tp Hồ Chí Minh
Tác giả liên lạc: BS Trần Thị Thúy Phượng ĐT: 0902567357 Email: thuyphuong83yd@gmail.com
Trang 2Objective: To determine the prevalence of late termination of pregnancy for fetal anomaly (TOPFA); To
determine factors associated with TOPFA at Tu Du hospital
Patients and methods: Cross-sectional study were conducted on all pregnant women who underwent TOPFA at Tu Du hospital between December 2015 and June 2016 Cases were divided i nto two groups: early termination (≤22 weeks of gestation) and late termination (>22 weeks of gestation).
Results: After six months we collected the ratio of late TOPFA was 45.7% (176/385) Advanced in prenatal screening and diagnostic testing (>14 weeks’ gestation) and fetal structural abnormalities were factors associated with prevalence of late TOPFA (p<0.05)
Conclusion: The prevalence of late termination of pregnancy for fetal anomaly was high Pregnant women
should receive screening during pregnancy (before 14 weeks’ gestation).
Keyword: late termination of pregnancy for fetal abnormality (TOPFA), fetal abnormal
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Tổ chức hỗ trợ tư vấn về sàng lọc
trước sinh tại Anh (ARC) khoảng 800.000 phụ
nữ ở Anh mang thai mỗi năm, hơn 40.000
trường hợp được tiên lượng thai nhi có dị tật
nghiêm trọng, 1800 trường hợp chấm dứt thai
kỳ vì DTBS Thai bị DTBS phát hiện giai đoạn
muộn hoặc không phát hiện được trong thai
kỳ sẽ làm tăng nguy cơ sinh ra trẻ bị dị tật và
giảm chất lượng cuôc sống của trẻ, đồng thời
làm tăng gánh nặng cho gia đình và xã hội
Theo Hiệp hội Sản phụ khoa Hoàng gia Anh,
trong những trường hợp thai nhi bị dị tật
chấm dứt thai kỳ ở tuổi thai trước 24 tuần
được gọi là sớm, và từ 24 + 0/7 tuần trở lên
được gọi là muộn Đây là ngưỡng tuổi thai
được nhiều quốc gia đồng thuận như Úc,
Croatia, Thụy Sĩ, Hà Lan(5) Tuy nhiên,
ngưỡng tuổi thai này có thể thay đổi ở mỗi
quốc gia, tại Thổ Nhỹ Kỳ, Phần Lan thai nhi bị
DTBS chấm dứt thai kỳ giai đoạn muộn là từ
sau 22 tuần(1,4) Nguyên nhân dẫn đến sự khác
biệt về ngưỡng tuổi thai này tùy thuộc vào
điều luật, chỉ định về y khoa, chương trình
chăm sóc y tế của mỗi quốc gia, vì thực hiện
chấm dứt thai kỳ ở giai đoạn muộn ngoài sự
ảnh hưởng đến tinh thần, đạo đức, điều quan
trọng là nguy cơ xảy ra tai biến sản khoa cao
hơn so với chấm dứt thai kỳ ở giai đoạn
sớm(5)
Trong quá trình công tác tại Bệnh viện (BV)
Từ Dũ chúng tôi đã tham vấn rất nhiều trường
hợp thai nhi bị DTBS chấm dứt thai kỳ ở giai đoạn > 22 tuần Hiện nay, tại Việt Nam vẫn chưa có NC, hay số liệu thống kê cụ thể nào về những trường hợp thai nhi bị DTBS chấm dứt thai kỳ ở giai đoạn muộn (> 22 tuần) Chúng tôi thấy rằng việc xác định tỷ lệ dị tật bẩm sinh chấm dứt thai kỳ ở giai đoạn muộn và các yếu
tố liên quan góp phần làm giảm tình trạng CDTK ở giai đoạn muộn vì DTBS do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu với mục tiêu xác định
tỷ lệ thai nhi bị dị tật bẩm sinh chấm dứt thai
kỳ ở giai đoạn muộn tại Bệnh viện Từ Dũ và các yếu tố liên quan đến tỷ lệ thai nhị bị DTBS chấm dứt thai kỳ ở giai đoạn muộn
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Tất cả các thai phụ thực hiện chấm dứt thai
kỳ vì dị tật bẩm sinh tại Bệnh viện Từ Dũ từ tháng 12/2015 đến tháng 6/2016 đồng ý tham gia
NC và thỏa tiêu chuẩn:
Tất cả những trường hợp thai nhi bị dị tật bẩm sinh bao gồm dị tật về cấu trúc và nhiễm
sắc thể, bệnh di truyền ở các giai đoạn tuổi thai Thực hiện chấm dứt thai kỳ tại BV Từ Dũ
Nghe và hiểu tiếng Việt
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang
Cỡ mẫu
1 / 2 2
n
d
n: số đối tượng cần nghiên cứu
Z (1-/2) : hệ số tin cậy của nghiên cứu, Z (1-/2) = 1,96
Trang 3p: tỷ lệ thai bị DTBS và CDTK ở tuổi thai > 22 tuần,
chọn p = 0,05 để đạt được cỡ mẫu lớn nhất
d: sai số ước lượng, chọn d = 0,05 → n = (1,96) 2 x [(0,05
x (1 – 0,05)) / (0,05) 2 ] = 384,16 thai phụ
Vậy cỡ mẫu là 385 ca
Phương pháp tiến hành
Chọn mẫu toàn bộ từ tháng 12/2015 cho đến
khi đủ cỡ mẫu Lấy toàn bộ các trường hợp thỏa
tiêu chuẩn chọn mẫu và đồng ý tham gia NC
Thực hiện lấy mẫu tại khoa Kế hoạch hóa gia
đình và 6 khoa hậu sản – hậu phẫu tại Bệnh viện
Từ Dũ bao gồm khoa sản A, khoa C, khoa E,
khoa H, Khoa M, khoa N
Phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 16.0
Phân tích gồm 3 bước:
Bước 1
Thống kê mô tả, dùng tần số và tỷ lệ phần
trăm, mô tả về đặc điểm dịch tễ học, tiền căn sản
khoa, sàng lọc trong thai kỳ, tỷ lệ thai nhi bị
DTBS chấm dứt thai kỳ giai đoạn muộn, tỷ lệ
loại dị tật bẩm sinh
Bước 2
Phân tích hồi quy đơn biến để đo lường
mối liên quan Số đo kết hợp trong phân tích
các mối liên quan là tỉ số hiện mắc (PR) và
khoảng tin cậy 95%
Bước 3
Dùng mô hình hồi quy đa biến kiểm soát
yếu tố gây nhiễu để tính PR hiệu chỉnh (PR*) cho
các biến số với P < 0,25, để xác định yếu tố liên
quan với tỷ lệ thai nhi bị DTBS chấm dứt thai kỳ
ở giai đoạn muộn
KẾT QUẢ
Đặc điểm dịch tễ dân số nghiên cứu
Tuổi trung bình trong mẫu NC của chúng tôi
là 29,3 ± 5,9 trong đó tuổi nhỏ nhất là: 15, tuổi lớn
nhất là: 46 Nhóm thai phụ < 35 tuổi chiếm tỷ lệ
cao nhất (79,7%) Phần lớn thai phụ ở tỉnh
(53,8%) Đa số thai phụ có trình độ học vấn cấp
II, III (46%) (Bảng 1)
Tỷ lệ thai nhi bị DTBS chấm dứt thai kỳ ở giai đoạn muộn tại BV Từ Dũ
Tỷ lệ thai nhi bị dị tật bẩm sinh chấm dứt thai kỳ ở giai đoạn muộn trong nghiên cứu của chúng tôi là 45,7% (176/385) (KTC 95%: 40,7 –
50,7%) (Biểu đồ 1)
Bảng 1 Đặc điểm dịch tễ dân số nghiên cứu
(n=385)
Tỉ lệ (100%)
Tuổi Tuổi trung bình ± độ lệch chuẩn
GTNN-GTLN
29,3 ± 5,9
15 - 46 Nhóm tuổi
Nơi ở hiện tại
Trình độ học vấn
Biểu đồ 1 Tỷ lệ thai nhi bị DTBS chấm dứt thai kỳ ở
giai đoạn muộn (n=385)
Tổng số ca sinh từ tháng 12/2015 đến tháng 5/2016 tại BV Từ Dũ là 15474, tổng số trường hợp DTBS là 585 Trong đó có 200 trường hợp DTBS chúng tôi không thu nhận vào nghiên cứu vì những trường hợp này không có chỉ định CDTK vì DTBS, 385 trường hợp thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu, không có trường hợp nào từ chối tham gia NC
Các yếu tố liên quan đến tỷ lệ thai nhi bị DTBS chấm dứt thai kỳ ở giai đoạn muộn
Kết quả phân tích mô hình hồi quy đa biến cho thấy có 2 yếu tố thật sự có liên quan đến tỷ lệ
45.7%
54.3%
Giai đoạn muộn (176/385) Giai đoạn sớm (209/385)
Trang 4thai nhi bị DTBS chấm dứt thai kỳ ở giai đoạn
muộn là nhóm khám thai lần đầu và nhóm bất
thường cấu trúc
Bảng 2 Phân tích hồi quy đa biến các yếu tố có khả năng quan đến tỷ lệ thai nhi bị DTBS chấm dứt thai kỳ ở giai
đoạn muộn
Tuổi mẹ
Tôn giáo
Thời điểm khám thai lần đầu
Thời điểm phát hiện DTBS
Bất thường cấu trúc
Bất thường khác
Bất thường nhiễm sắc thể
BÀN LUẬN
Đặc điểm dân số nghiên cứu và dịch tễ học
Tuổi trung bình của các thai phụ là 29,3 ± 5,9,
nhỏ nhất là 15 tuổi, và lớn nhất là 46 tuổi, có 7
thai phụ ở tuổi vị thành niên (VTN) tuổi từ 15-17
tuổi và 1 thai phụ 46 tuổi Đa số các thai phụ
trong mẫu NC nằm trong độ tuổi sinh đẻ < 35
tuổi (chiếm 79,7%), và tuổi trung bình thai phụ
tương đồng với các NC của tác giả Aslan H(1)
Nhóm thai phụ ở nông thôn và thành phố không
có sự chênh lệch nhiều, những thai phụ có trình
độ học vấn cấp I và cấp II – III chiếm khoảng 2/3
tổng số thai phụ Kết quả này phù hợp với sự
phân bố tỷ lệ nghề nghiệp trong NC chiếm đa số
trong NC là nhóm ngành nghề khác (chiếm 75,1%) bao gồm nghề buôn bán, làm nông…
Tỷ lệ thai nhi bị DTBS chấm dứt thai kỳ ở giai đoạn muộn tại BV Từ Dũ
Trong tổng số 385 thai phụ tham gia NC, 176 trường hợp thai phụ CDTK ở giai đoạn muộn Như vậy, tỷ lệ thai nhi bị DTBS chấm dứt thai kỳ
ở giai đoạn muộn là 45,7%; KTC 95% (40,7 – 50,7) Tỷ lệ này có sự tương đồng với một số NC:
NC của tác giả Aslan H thực hiện tại Thổ Nhĩ Kỳ (2007), tỷ lệ thai nhi bị DTBS chấm dứt thai kỳ ở giai đoạn muộn là 42,6% (214/463) Tỷ lệ trong
NC của chúng tôi cao hơn so với NC của tác giả Corbcioglu A (2002-2010), tại Thổ Nhỹ Kỳ là 39,3% (379/962); NC của tác giả Gedikbasi A (2002 – 2006) tại Thổ Nhĩ Kỳ là 39,91%
Trang 5(265/677)(2,4) Kết quả này có thể do nhóm thai
phụ tham gia sàng lọc quí 1 và quí 2 trong NC
của chúng tôi thấp (3,6%) (14/385), đồng thời loại
DTBS xuất hiện muộn nên sàng lọc quí 1 và quí 2
không thể phát hiện được, theo y văn những BT
hệ thần kinh trung ương (giãn não thất), hệ tiêu
hóa, một số dị tật như tật đầu nhỏ, tắc nghẽn
ruột, tắc nghẽn niệu quản trên không thể chẩn
đoán chắc chắn trước 22 tuần, việc chỉ định
CDTK tùy thuộc diễn tiến của dị tật Tại Việt
Nam những thai kỳ > 22 tuần, thai bị DTBS nặng
tiên lượng khả năng tàn tật nặng, không thể sữa
chữa sau sinh, nếu thai phụ và gia đình đồng ý
có thể thực hiện CDTK, tương tự điều luật
CDTK tại Thổ Nhĩ Kỳ, điều này có thể làm cho
thai phụ và gia đình kéo dài thời gian quyết định
và CDTK thường thực hiện ở giai đoạn muộn(4)
Các yếu tố liên quan đến tỷ lệ thai nhi bị DTBS
chấm dứt thai kỳ ở giai đoạn muộn
Kết quả phân tích mô hình hồi quy đa biến
cho thấy có 2 yếu tố thật sự có liên quan đến tỷ lệ
thai nhi bị DTBS chấm dứt thai kỳ ở giai đoạn
muộn là:
Mối liên quan giữa nhóm có bất thường cấu
trúc và tỷ lệ thai nhi bị DTBS chấm dứt thai kỳ ở
giai đoạn muộn có ý nghĩa thống kê với p = 0,04;
PR = 0,7; KTC 95%: 0,2 – 0,5
Mối liên quan giữa nhóm có thời điểm khám
thai > 14 tuần và tỷ lệ thai nhi bị DTBS chấm dứt
thai kỳ ở giai đoạn muộn có ý nghĩa thống kê với
p = 0,002; PR = 2,9; KTC 95%: 1,5 – 5,8
Trong NC đa số thai phụ đều có khám thai
tại thời điểm 11 – 14 tuần (58,4%)(225/385),
nhưng việc thực hiện sàng lọc chiếm đa số ở quí
2 (61,6%)(237/385) Đa số dân số trong NC có
trình độ văn hóa không cao, nhóm thai phụ có
trình độ học vấn cấp I và cấp II – III chiếm
khoảng 2/3 tổng số dân số NC; và dân số ở nông
thôn gần 1/2 tổng số dân số NC, điều kiện tiếp
cận dịch vụ y tế không đầy đủ, thiếu kiến thức
về việc thực hiện SL trong thai kỳ do đó chưa
thực hiện SL sớm và đầy đủ
Bất thường cấu trúc là những DTBS ở hệ thần kinh trung ương, hệ tim mạch, hệ cơ – xương, hệ mặt cổ, hệ niệu dục, hệ hô hấp – lồng ngực, hệ tiêu hoá thành – bụng Kết quả NC cũng cho thấy bất thường cấu trúc là nhóm đứng đầu về chỉ định CDTK trong tổng số mẫu nghiên cứu và cũng là nhóm chiếm tỷ lệ cao nhất trong nhóm thai nhi bị DTBS chấm dứt thai kỳ ở giai đoạn muộn (55,1%) (93/176) Trong đó bất thường hệ thần kinh chiếm đa số (22,2%) (39/176) So sánh với kết quả nghiên cứu hồi cứu của Gedibasi Ali (2002 – 2006), bất thường hệ thần kinh trung ương chiếm 52,1% (138/265), tác giả Corbacioglu A (2002 – 2010) tại Thổ nhĩ Kỳ, với tổng số 960 trường hợp DTBS có chỉ định CDTK, BT hệ thần kinh trung ương (chiếm 45,2%) (228/504)(2,4) Kết quả này cao hơn so với
NC của chúng tôi có thể do sự khác biệt về dân
số NC Qua các NC và kết quả của chúng tôi cho thấy, nhóm BTCT là nhóm chiếm tỷ lệ cao nhất
về chỉ định CDTK(3) Vì vậy kết quả phân tích xác định có mối liên quan giữa BTCT và tỷ lệ thai nhi DTBS chấm dứt thai kỳ ở giai đoạn muộn là hợp lý, và đa số những BTCT trong dân
số NC của chúng tôi có thể được phát hiện và chẩn đoán sớm, chúng tôi cho rằng cần tăng cường khuyến cáo cho các thai phụ có thể thực hiện sớm sàng lọc bất thường cấu trúc trong thai
kỳ
KẾT LUẬN
Trong thời gian nghiên cứu từ 12/2015 – 5/2016, tại Bệnh viện Từ Dũ Chúng tôi rút ra một số kết luận sau:
Tỷ lệ thai nhi bị dị tật bẩm sinh chấm dứt thai kỳ ở giai đoạn muộn là 45,7%, KTC 95% [40,7-50,7]
Các yếu tố liên quan đến tỷ lệ thai nhi bị dị tật bẩm sinh chấm dứt thai kỳ ở giai đoạn muộn: Thai phụ thuộc nhóm có thời điểm khám thai > 14 tuần so với nhóm thai phụ có thời điểm khám thai < 14 tuần có mối liên quan với tỷ lệ
Trang 6thai nhi bị DTBS chấm dứt thai kỳ ở giai đoạn
muộn với PR = 2,9; KTC 95%: 1,2 – 5,8; p = 0,002
Thai phụ thuộc nhóm có bất thường cấu trúc
so với nhóm thai phụ không có thai bị bất
thường cấu trúc có mối liên quan với tỷ lệ thai
nhi bị DTBS chấm dứt thai kỳ ở giai đoạn muộn
với PR = 0,7; KTC 95%: 0,2 – 0,5; p = 0,04
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Aslan H, Yildirim G, Ongut C, Ceylan Y (2007) "Termination of
pregnancy for fetal anomaly" International Journal of Gynecology
and Obstetrics, 99: 4-221
2 Çorbacıoğlu A, Aslan H, Aydın S, Akbayır Ö, Ersan F, Alpay V,
Kısacık S (2012) "Trends in fetal indications for termination of
pregnancy between 2002 and 2010 at a tertiary referral centre"
Journal of the Turkish German Gynecological Association, 13(2):
85-86
3 Garne E, Loane M, Dolk H, De Vigan C, Scarano G, Tucker D,
Rösch C (2005) "Prenatal diagnosis of severe structural
congenital malformations in Europe" Ultrasound in obstetrics &
gynecology, 25(1): 6-11
4 Gedikbaşı A, Gül A, Öztarhan K, Akın MA, Sargın AS, Ceylan
Y (2010) "Termination of pregnancy and reasons for delayed
decisions" Journal of the Turkish German Gynecological Association,
11(1):1-7
5 Royal College of Obstetricians and Gynaecologists (2010)
"Termination of pregnancy for fetal abnormality in England,
Scotland and Wales" London: RCOG Press, published:
25/06/2010
Ngày phản biện nhận xét bài báo: 06/12/2018